Thursday, September 4, 2014

Chào ngày mới 5 tháng 9


Treaty of Portsmouth.jpg
CNM365.Chào ngày mới 5 tháng 9. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Giáo viên tại Ấn Độ.  Năm 917 – Tiết độ sứ Lưu Nham lên ngôi hoàng đế ở Phiên Ngung, đặt quốc hiệu là "Đại Việt", đoạn tuyệt quan hệ chư hầu với Hậu Lương. Năm 1905Chiến tranh Nga-Nhật kết thúc khi Điều ước Portsmouth (hình) được ký kết với sự trung gian của Tổng thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt. Năm 1944 – Bỉ, Hà Lan và Luxembourg tạo thành liên minh Benelux.Năm 1972 – Nhóm khủng bố Palestine Tháng Chín Đen tấn công và bắt giữ 11 vận động viên Israel đang tham gia Thế vận hội tại München.

Nam Hán Cao Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nam Hán Cao Tổ (南汉高祖)
Hoàng đế Nam Hán (chi tiết...)
Hoàng đế Nam Hán
Trị vì 5/9/917[1][2]-10/6/942
Tiền nhiệm Không (sáng lập triều đại)
Kế nhiệm Thương đế Lưu Phần
Thông tin chung
Thê thiếp Mã hoàng hậu
Triệu chiêu nghi, sau là hoàng thái phi
Hậu duệ Xem văn bản
Tước hiệu Hoàng đế
Niên hiệu Càn Hanh (乾亨) 917-925
Bạch Long (白龍) 925-928
Đại Hữu (大有) 928-941
Thụy hiệu Thiên Hoàng Đại đế (天皇大帝)
Miếu hiệu Cao Tổ (高祖)
Triều đại Nam Hán
Thân phụ Lưu Khiêm
Thân mẫu Đoàn thị
Sinh 889[3]
Mất 10 tháng 6 năm 942[1][4]
Trung Quốc
An táng Khang lăng
Lưu Nghiễm (Trung văn giản thể: 刘龑; Trung văn phồn thể: 劉龑; bính âm: Líu Yán; 889[3]–10 tháng 6 năm 942[1][4]), nguyên danh Lưu Nham (劉巖), cũng mang tên Lưu Trắc (劉陟) (từ ~896 đến 911) và trong một thời gian là Lưu Cung (劉龔), là hoàng đế đầu tiên của nước Nam Hán thời Ngũ Đại Thập Quốc.

Thân thế

Lưu Nham sinh năm 889, dưới triều đại của Đường Chiêu Tông.[3] Phụ thân ông là Lưu Tri Khiêm (hay Lưu Khiêm) khi đó đang giữ chức Phong châu[chú 1] thứ sử và kết hôn với người cháu gái gọi bằng chú của Vi Trụ (韋宙)- từng là tể tướng triều Đường, Lĩnh Nam Đông đạo[chú 2] tiết độ sứ. Tuy nhiên, Lưu Khiêm cũng bí mật có một người thiếp ở bên ngoài là Đoàn thị, Lưu Nham là con trai của Đoàn thị. Khi Vi thị phát hiện ra sự việc, bà sát hại Đoàn thị, song không giết Lưu Nghiễm mà đem về nhà nuôi dưỡng như con đẻ- Lưu Ẩn và Lưu Đài (劉台).[5][6]
Khi Lưu Nghiễm lớn lên, ông cao lớn, có tài cưỡi ngựa và bắn cung.[5] Sau khi Lưu Ẩn trở thành Hữu đô áp nha trong quân đội của quân (lúc này cải danh thành Thanh Hải) dưới quyền tiết độ sứ Lý Tri Nhu vào năm 896,[7] Lưu Nghiễm cũng phụng sự cho Lý Tri Nhu, và cải danh từ Lưu Nham sang Lưu Trắc.[5]

Phụng sự Lưu Ẩn

Năm 901, người kế vị Lý Tri Nhu là Từ Ngạn Nhược qua đời, di biểu cho Đường Chiêu Tông để tiến cử Lưu Ẩn làm lưu hậu, Lưu Ẩn sau được nhận chức vụ này.[8] Lưu Trắc tiếp tục phục vụ dưới quyền anh trai. Năm 902, Kiền châu[chú 3] thứ sử Lô Quang Trù (盧光稠) tiến công Thanh Hải, chiếm Thiều châu[chú 4] và giao châu này lại cho con trai là Lô Diên Xương, sau đó bao vây Triều châu[chú 5]. Lưu Ẩn đem quân đẩy lui Lô Quang Trù khỏi Triều châu, sau đó chuẩn bị tiến công Thiều châu. Lưu Trắc cho rằng quân của Lô Diên Xương có viện binh từ Kiền châu, nên quân Thanh Hải không thể thành công nếu tiến công trực tiếp. Lưu Ẩn nghe theo, cho bao vây Thiều châu để khiến sức mạnh phòng thủ của Lô Diên Xương suy yếu. Tuy nhiên, chiến lược này lại phản tác dụng do mức nước sông dâng cao, quân Thanh Hải bị gián đoạn nguồn cung lương thảo. Sau đó, Lô Quang Trù đem binh từ Kiền châu đến cứu viện, đẩy lui Lưu Ẩn khỏi Thiều châu.[9]
Năm 904, Đường Ai Đế bổ nhiệm Lưu Ẩn làm Thanh Hải tiết độ sứ.[10] Lưu Trắc trở thành tiết độ phó sứ. Theo ghi chép, ngoài xung đột với Lô Quang Trù, quanh lãnh địa của Lưu Ẩn còn có các quân phiệt khác: Khúc Hạo ở Giao châu[chú 6]; Lưu Sĩ Chính (劉士政) ở Quế châu[chú 7]; Diệp Quảng Lược (葉廣略) ở Ung châu[chú 8]; Bàng Cự Chiêu (龐巨昭) ở Dung châu [chú 9]; Lưu Xương Lỗ (劉昌魯) tại Cao châu[chú 10]; và Lưu Tiềm (劉潜) tại Tân châu[chú 11]. Thêm vào đó, ở phía đông Châu Giang, có khoảng 70 trại lớn nhỏ không công nhận quyền uy của Lưu Ẩn. Sau khi Lưu Ẩn giao phó quân sự lại cho Lưu Trắc, Lưu Trắc dần dần trục xuất hoặc buộc các quân phiệt phải quy phục, trở thành danh tướng ở Lĩnh Nam.[5]
Một trong số các chiến dịch diễn ra vào khoảng năm 910 (khi đó Lưu Ẩn là một chư hầu của triều Hậu Lương), Lưu Trắc tiến công Lưu Xương Lỗ ở Cao châu. Lưu Xương Lỗ đẩy lui cuộc tiến công của Lưu Trắc, song lại suy tính rằng sẽ không thể chống lại huynh đệ họ Lưu trong một thời gian dài, do vậy, Lưu Xương Lỗ cùng với Bàng Cự Chiêu quyết định quy phục Sở vương Mã Ân. Mã Ân khiển quân đến hộ tống Lưu Xương Lỗ và Bàng Cự Chiêu đến Sở, khiển tướng Diêu Ngạn Chương (姚彥章) đóng quân tại Dung châu.[11]
Năm 911, Lưu Ẩn lâm bệnh nặng, ông ta dâng biểu cho triều đình Hậu Lương để tiến cử Lưu Trắc làm lưu hậu, sau đó liền qua đời. Lưu Trắc kế thừa quyền cai quản Thanh Hải quân, và một thời gian ngắn sau, Hậu Lương Thái Tổ bổ nhiệm Lưu Trắc làm Thanh Hải tiết độ sứ.[12] Ông lại cải danh thành Lưu Nham.[5]

Làm tiết độ sứ

Theo ghi chép, trên cương vị tiết độ sứ, Lưu Nham thường xuyên mời các sĩ nhân chạy loạn từ Trung Nguyên đến mạc phủ, thường bổ nhiệm họ làm thứ sử, đến nỗi thứ sử các châu đều không phải là võ quan.[12]
Cũng trong năm 911, Lô Diên Xương bị thuộc hạ là Lê Cầu (黎球) ám sát, Lê Cầu sau đó qua đời và người kế nhiệm là Lý Ngạn Đồ (李彥圖). Do Lê Cầu muốn giết mưu chủ của Lô Quang Trù là Đàm Toàn Bá, Đàm Toàn Bá xưng bệnh xin được cáo hưu. Lưu Nghiễm hay tin thì liền phát binh công Thiều châu, kết quả tái chiếm được châu này; Thiều châu thứ sử Liệu Sảng (廖爽) chạy đến Sở. Trong khi đó, ông cũng phái quân tiến công Dung châu. Diêu Ngạn Chương nhận định rằng không thể trụ lại được (mặc dù quân cứu viện của Sở do Hứa Đức Huân thống lĩnh đang tiến đến), do đó Diêu Ngạn Chương quyết định đưa sĩ dân Dung châu về Sở, Lưu Ẩn đoạt được Dung châu và Cao châu. Hay tin hai chư hầu xảy ra chiến tranh, Hậu Lương Thái Tổ sai Hữu tán kị thường thị Vi Tiển (韋戩) đi hòa giải giữa Mã Ân và Lưu Nham.[12] Đáp lại, Lưu Nham nộp cống một lượng lớn vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, đủ loại đồ trang sức và gia vị khác, cho Hậu Lương Thái Tổ.[5]
Vào cuối năm 912, Hậu Lương Thái Tổ bị con là Dĩnh vương Chu Hữu Khuê ám sát.[12] Vào đầu năm 913, Chu Hữu Khuê ban chức kiểm hiệu thái phó cho Lưu Nham.[5] Sau đó, hoàng vị Hậu Lương lại về tay Chu Hữu Trinh (cải danh thành Chu Trấn)[12] Chu Trấn bổ nhiệm Lưu Nham làm tiết độ sứ của Thanh Hải quân và Kiến Vũ quân[chú 12], phong tước Nam Bình vương.[5]
Cũng vào năm 913, Lưu Nham muốn thiết lập liên minh hôn nhân với Mã Ân, xin cưới con gái của Mã Ân, Mã Ân chấp thuận.[12] Đến năm 915, Lưu Nham cử đoàn đến kinh đô Trường Sa của Sở để đón dâu, Mã Ân khiển con trai là Vĩnh Thuận tiết độ sứ Mã Tồn (馬存) hộ tống Mã thị đến Thanh Hải quân. Trong khi đó, Thanh Hải-Kiến Vũ tiết độ sứ kiêm Trung thư lệnh Lưu Nham không hài lòng trước việc chỉ được phong tước Nam Bình vương, trong khi Tiền Lưu được phong làm Ngô Việt quốc vương. Do vậy, Lưu Nham dâng biểu cầu được phong tước Nam Việt vương, thăng làm đô thống. Khi Chu Trần từ chối, Lưu Nham nói với quan lại dưới quyền: Nay Trung Quốc phân tranh, ai là Thiên tử?. Sao ta có thể [khiển sứ] leo trèo, đi thuyền hàng vạn lý để tôn thờ ngụy đình?. Sau đó, Lưu Nham chấm dứt việc gửi cống phẩm và sứ giả đến triều đình Hậu Lương.[13]
Vào mùa thu năm 917, Lưu Nham tức hoàng đế vị ở Phiêng Ngung, đặt quốc hiệu là "Đại Việt", đại xá, cải nguyên Càn Hanh. Ông truy phong tổ phụ Lưu An Nhân (劉安仁), phụ thân Lưu Khiêm, và huynh Lưu Ẩn là hoàng đế.[2] Bổ nhiệm sứ giả Hậu Lương Triệu Quang Duệ làm Binh bộ thượng thư, tiết độ phó sứ; bổ nhiệm Tiết độ phán quan Lý Ân Hành làm Lễ bộ thị lang; bổ nhiệm Tiết độ phó sứ Dương Đỗng Tiềm làm Binh bộ thị lang; cả ba đều là Đồng bình chương sự.[2]

Thời kỳ đầu trị vì

Cũng vào năm 917, Lưu Nghiễm gả cháu gái là Thanh Viễn công chúa Lưu Hoa (con gái của Lưu Ẩn) cho Vương Diên Quân- con trai của Mân vương Vương Thẩm Tri, thắt chặt quan hệ giữa hai nước.[2][5][chú 13]
Tháng 11 ÂL năm 918, sau khi Lưu Nham tế Nam Giao, ông ra lệnh đại xá, cải quốc hiệu từ Việt sang Hán, quốc gia của ông do vậy được gọi là Nam Hán.[2]
Năm 919, Lưu Nham lập Việt quốc phu nhân Mã thị làm hoàng hậu.[2]
Năm 920, theo thỉnh cầu của Dương Động Tiềm, Lưu Nham cho lập học hiệu, khai cống cử, thiết thuyên tuyển. Ông cũng khiển sứ đến Tiền Thục, thiết lập quan hệ hữu hảo.[14]
Năm 922, Lưu Nham tin theo lời của thuật giả rằng ông cần rời khỏi kinh đô để tránh tai họa, do vậy quyết định ngao du Mai Khẩu[chú 14], gần biên giới với Mân. Tướng Mân là Vương Diên Mĩ đem binh tập kích đoàn của Lưu Nham, song trước khi quân của Vương Diên Mĩ đến nơi, Lưu Nham nhận được báo cáo của trinh sát nên bỏ trốn kịp thời.[14]
Năm 924, Lưu Nham dẫn binh xâm lược Mân, đóng quân ở Đinh châu[chú 15] và Chương châu[chú 16]. Lưu Nham chiến bại trước quân Mân, buộc phải chạy trốn.[15]
Trong khi đó, vào năm 923, Hậu Lương bị Hậu Đường chinh phục, Hậu Đường Trang Tông làm chủ Trung Nguyên.[16] Khi nhận được tin, Lưu Nham trở nên lo sợ trước thế lực hùng mạnh này, và đến năm 925 thì khiển Cung uyển sứ Hà Từ (何詞) đến triều cống cho Hậu Lương[15] (xưng là "Đại Hán quốc vương" đưa thư thượng "Đại Đường hoàng đế")[5] và dò xét sức mạnh của triều đại này. Sau khi Hà Từ trở về, thông báo lại rằng Hậu Đường Trang Tông kiêu dâm vô chính, không đáng phải sợ; Lưu Nham rất phấn khởi, và từ đó không còn qua lại với triều đình Trung Nguyên.[15]
Cũng vào năm 925, theo ghi chép thì người ta thấy có rồng trắng xuất hiện trong cung điện Nam Hán, do vậy Lưu Nham cải nguyên "Bạch Long", đổi tên thành Cung (龔).[17] Tuy nhiên, trong năm đó có một tăng người Hồ nói với ông rằng Sấm thư "diệt Lưu thị giả vung dã" (theo sấm thư thì diệt họ Lưu là Cung), sau đó ông tham khảo trong Chu Dịch, tạo ra chữ "龑" với nghĩa "phi long tại thiên" (rồng bay lên trời), âm là "Nghiễm".[18] (Tư trị thông giám thì chép lần đổi tên thứ hai này diễn ra vào năm 941.[19]) Cũng vào năm 925, khi Phiếu tín Trường Hòa (Nam Chiếu) là Trịnh Mân khiển bố tiếp (em) là Trịnh Chiêu Thuần (鄭昭淳) đến Nam Hán cầu hôn, Lưu Nham gả một người cháu gái khác là Tăng Thành công chúa làm thê của Trịnh Mân.[6][17][18]

Giữa thời kỳ giữa

Năm 928, thủy quân Sở tiến công Nam Hán, bao vây Phong châu. Lưu Nham tin rằng từ "Đại Hữu" trong Chu Dịch có nghĩa là đại xá, vì thế cải nguyên Đại Hữu. Ông lệnh cho Tả hữu nhai sứ Tô Chương (蘇章) đem 3.000 "nỏ thần" (cung thủ tài giỏi), 100 chiến hạm cứu Phong châu. Tô Chương giăng dây sắt chìm dưới sông, hai bên bờ căng dây, đắp đê dài để giấu quân. Đến khi giao chiến với thủy quân Sở, Tô Chương giả vờ rút lui, lừa quân Sở đuổi theo; sau đó hạm đội Sở lọt vào nơi phục kích, không thể tiến thoái, bị quân Nam Hán bắn tên, quân Sở bại trận phải rút lui.[20]
Năm 930, Lưu Nghiễm khiển bộ tướng Lương Khắc Trinh (梁克貞) và Lý Thủ Phu (李守鄜) tiến công Giao châu- thủ phủ của Tĩnh Hải quân; bắt được Tĩnh Hải tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ, Tĩnh Hải quân về tay Nam Hán, chấm dứt quyền lực của họ Khúc. Lương Khắc Trinh còn tiến công Chiêm Thành, cướp vật quý của nước này rồi rút lui. Lưu Nham khiển bộ tướng Lý Tiến (李進) đi cai quản Giao châu.[21]
Nam Hán không giữ Tĩnh Hải quân được lâu. Sau khi họ Khúc bị lật đổ, tướng Ái châu[chú 17] Dương Đình Nghệ gây dựng được một đội quân gồm 3.000 con nuôi (dưỡng-giả tử), có ý muốn đoạt lấy Tĩnh Hải quân. Mặc dù Lý Tiến biết về sự việc, song vì nhận hối lộ của Dương Đình Nghệ nên không có hành động gì. Năm 931, Dương Đình Nghệ bao vây Giao châu. Lưu Nghiễm khiển Thừa chỉ Trình Bảo (程寶) đem binh cứu viện, song thành bị chiếm trước khi Trình Bảo đến nơi. Lý Tiến chạy trốn về kinh đô, bị Lưu Nghiễm giết chết. Trình Bảo bao vây châu thành Giao châu, đến khi Dương Đình Nghệ xuất chiến, Trình Bảo bại trận tử chiến.[21]
Năm 932, Lưu Nghiễm phong vương cho 19 hoàng tử.[22]
Năm 934, Mã hoàng hậu qua đời.[23]
Cũng vào năm 934, Lưu Nghiễm cho phép hoàng tử lớn tuổi nhất còn sống là phán lục quân- Tần vương Lưu Hoằng Độ[6] mộ 1.000 túc vệ binh, song những binh sĩ này đều là những vô lại thân cận với Lưu Hoằng Độ. Khi Dương Đỗng Tiềm nói sự việc với Lưu Nghiễm để kiềm chế các hoạt động của Lưu Hoằng Độ, Lưu Nghiễm từ chối nghe theo. Sau đó, Dương Đỗng Tiềm ra ngoài thấy cảnh vệ sĩ cướp bóc vàng bạc của thương nhân, thương nhân không dám tố cáo, Dương Đỗng Tiềm than thở: "Chính loạn như vậy, sao cần tể tướng?" rồi cáo về ở trong phủ đệ. Lưu Nham sau đó không còn triệu kiến Dương Đỗng Tiềm nữa.[23]

Cuối thời kỳ trị vì

Năm 936, Lưu Nghiễm khiển bộ tướng Tôn Đức Uy (孫德威) xâm chiếm Mông châu[chú 18] và Quế châu[chú 19] của Sở. Khi Sở vương Mã Hy Phạm đem 5.000 bộ-kị binh đến Quế châu, Tôn Đức Uy triệt thoái.[24]
Năm 937, Lưu Nghiễm nhân việc khỏi bệnh, ban bố đại xá.[25]
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết chết, Kiều Công Tiễn đoạt lấy quyền cai quản Tĩnh Hải quân. Năm 938, một tướng cũ của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền nổi dậy lại Ái châu và sau đó tiến công Giao châu, Kiều Công Tiễn cầu viện Nam Hán. Lưu Nghiễm muốn nhân cơ hội này để đoạt lấy Tĩnh Hải quân, do vậy bổ nhiệm hoàng tử- Vạn vương Lưu Hoằng Thao làm Tĩnh Hải tiết độ sứ, tỉ phong Giao vương, đem binh đến cứu Giao châu, Lưu Nghiễm tự mình đem một đội quân theo sau, dự định đến đóng ở Hải Môn. Lưu Nghiễm hỏi Sùng văn sứ Tiêu Ích về sách lược, Tiêu Ích nói rằng: "Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến", song Lưu Nghiễm không nghe theo. Tuy nhiên, khi Lưu Hoằng Thao tiến đến Giao châu, Ngô Quyền đã đánh bại và giết chết Kiều Công Tiễn, chiếm cứ Giao châu. Lưu Nghiễm lệnh cho Lưu Hoằng Tháo suất chiến hạm theo sông Bạch Đằng tiến đến Giao châu. Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thuỷ triều lên, bãi cọc không bị lộ. Khi thủy triều xuống, chiến hạm Nam Hán đều bị cọc sắt ngăn lại và không thể tiến thoái, quân Nam Hán đại bại, sĩ tốt chết quả nửa, Lưu Hoằng Tháo cũng tử chiến, sử gọi là trận Bạch Đằng. Lưu Nghiễm hay tin thì gào khóc thảm thiết, tập hợp tàn quân trở về Nam Hán.[25]
Năm 939, Triệu Quang Duệ chỉ ra rằng Nám Hán và Sở chưa gửi sứ giả qua lại từ sau khi Mã hoàng hậu qua đời, và hai nước là thân lân cựu hảo, không thể để mất; tiến cử Gián nghị đại phu Lý Thư (李紓) làm sứ giả. Lưu Nghiễm đồng ý, và sau khi Lý Thư đến Sở, Sở cũng khiển sứ sang Nam Hán, tái lập quan hệ giữa hai nước. Mặc dù vậy, vào năm 941, Lưu Nghiễm khiển sứ đến triều đình Trung Nguyên, đề nghị cùng chiếm Sở rồi chia nhau lãnh thổ, song Hoàng đế Trung Nguyên từ chối.[19]
Năm 942, Lưu Nghiễm lâm bệnh phải nằm trên giường, ông nhận thấy Tần vương Lưu Hoằng Độ và Tấn vương Lưu Hoằng Hy đều kiêu ngạo và phóng túng, cho Việt vương Lưu Hoằng Xương (劉弘昌) là người hiếu cẩn và có trí thức. Do đó ông cùng Hữu bộc xạ kiêm Tây ngự viện sứ Vương Lân (王翷) định để Lưu Hoằng Độ đi trấn thủ Ung châu, Lưu Hoằng Hy đi trấn thủ Dung châu và lập Lưu Hoằng Xương làm người kế vị. Tuy nhiên, Tiêu Ích lại thuyết phục ông rằng nếu không lập đích làm trưởng thì tất loạn, do vậy Lưu Nghiễm ngừng tiến hành kế hoạch. Ngày Đinh Sửu tháng 4 ÂL năm 942, Lưu Nghiễm qua đời, Lưu Hoằng Độ kế vị, tức Nam Hán Thương Đế.[4]

Nhận xét

Tư trị thông giám, tổng kết nhận định từ các nguồn khác, nhận xét về triều đại của Lưu Nghiễm:[4]
Cao Tổ là người tinh ý và có tài ứng biến, song tự kiêu, thường gọi Thiên tử Trung Quốc [tức Trung Nguyên] là "Lạc châu thứ sử". Lĩnh Nam là nơi có nhiều đồ quý hiếm, ông tích góp đến nỗi cùng xa cực lệ. Cung điện đều dùng vàng, ngọc, ngọc trai, ngọc bích làm đồ trang trí. Ông dùng hình thảm khốc, bao gồm quán tị (cắt mũi), cát thiệt (cắt lưỡi), chi giải (chặt tay chân), khô dịch (phanh thây phụ nữ mang thai), pháo chích (buộc vào cột sắt nung nóng), phanh chưng (nấu); hoặc cho rắn độc vào nước, rồi ném tù nhân vào đó, gọi là "thủy ngục". Khi Đồng bình chương sự Dương Đỗng Tiềm cố gắng can gián, ông không nghe theo. Trong những năm cuối, ông càng trở nên nghi kị, cho rằng các sĩ nhân phần nhiều là tập trung tâm chí vì con cháu của họ thay vì quốc gia, nên tín nhiệm hoạn giả, do vậy tại Nam Hán hoạn giả đại thịnh.

Con cái

Sử không chép Lưu Nghiễm có bao nhiêu con và tên những người con gái. Tân Ngũ Đại sử có chép vào năm 932, Lưu Nghiễm phong vương cho 19 người con trai của mình là:
  1. Ung vương Lưu Diệu Xu
  2. Khang vương Lưu Quy Đồ
  3. Tần vương Lưu Hoằng Độ (sau nối ngôi, bị em là Lưu Hoằng Hi giết, sử chép hiệu là Thương Đế)
  4. Tấn vương Lưu Hoằng Hi (sau giết anh cướp ngôi, được tôn miếu hiệu Trung Tông)
  5. Việt vương Lưu Hoằng Xương
  6. Tề vương Lưu Hoằng Bật
  7. Thiều vương Lưu Hoằng Nhã
  8. Trấn vương Lưu Hoằng Trạch
  9. Vạn vương Lưu Hoằng Thao (sau được cải phong Giao vương, tử trận tại Giao Châu)
  10. Tuần vương Lưu Hoằng Cảo
  11. Tức vương Lưu Hoằng... (không rõ tên)
  12. Cao vương Lưu Hoằng Mạc
  13. Đồng vương Lưu Hoằng Giản
  14. Ích vương Lưu Hoằng Kiến
  15. Biện vương Lưu Hoằng Tể
  16. Quý vương Lưu Hoằng Đạo
  17. Tuyên vương Lưu Hoằng Chiêu
  18. Thông vương Lưu Hoằng Chính
  19. Định vương Lưu Hoằng Ích

Chú thích

  1. ^ 封州, nay thuộc Triệu Khánh, Quảng Đông
  2. ^ 嶺南東道, trị sở nay thuộc Quảng Châu, Quảng Đông
  3. ^ 虔州, nay thuộc Cám Châu, Giang Tây
  4. ^ 韶州, nay thuộc Thiều Quan, Quảng Đông
  5. ^ 潮州, nay thuộc Triều Châu, Quảng Đông
  6. ^ 交州, nay thuộc Hà Nội, Việt Nam
  7. ^ 桂州, nay thuộc Quế Lâm, Quảng Tây
  8. ^ 邕州, nay thuộc Nam Ninh, Quảng Tây
  9. ^ 容州, nay thuộc Ngọc Lâm, Quảng Tây
  10. ^ 高州, nay thuộc Mậu Danh, Quảng Đông
  11. ^ 新洲, nay thuộc Vân Phù, Quảng Đông
  12. ^ 建武, trị sở tại Dung châu
  13. ^ Các thư tịch cổ thì ghi rằng Lưu Hoa là con gái của Lưu Nham, song bia mộ của bà thì ghi rằng bà là con gái của Lưu Ẩn..
  14. ^ 梅口, nay thuộc Mai Châu, Quảng Đông
  15. ^ 汀洲, nay thuộc Long Nham, Phúc Kiến
  16. ^ 漳州, nay thuộc Chương Châu, Phúc Kiến
  17. ^ 愛州, nay thuộc Thanh Hóa, Việt Nam
  18. ^ 蒙州, nay thuộc Ngô Châu, Quảng Tây
  19. ^ 桂州, nay thuộc Quế Lâm, Quảng Tây

Tham khảo

  1. ^ a ă â Viện Nghiên cứu Trung Ương (Đài Loan) Chuyển hoán lịch Trung-Tây 2000 năm.
  2. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 270.
  3. ^ a ă â Cựu Ngũ Đại sử, quyển 135.
  4. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 283.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g Thập Quốc Xuân Thu, quyển 58.
  6. ^ a ă â Thập Quốc Xuân Thu, quyển 61.
  7. ^ Tư trị thông giám, quyển 260.
  8. ^ Tư trị thông giám, quyển 262.
  9. ^ Tư trị thông giám, quyển 263.
  10. ^ Tư trị thông giám, quyển 265.
  11. ^ Tư trị thông giám, quyển 267.
  12. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 268.
  13. ^ Tư trị thông giám, quyển 269.
  14. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 271.
  15. ^ a ă â Tư trị thông giám, quyển 273.
  16. ^ Tư trị thông giám, quyển 272.
  17. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 274.
  18. ^ a ă Tân Ngũ Đại sử, quyển 65.
  19. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 282.
  20. ^ Tư trị thông giám, quyển 276.
  21. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 277.
  22. ^ Tư trị thông giám, quyển 278.
  23. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 279.
  24. ^ Tư trị thông giám, quyển 280.
  25. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 281.

Chiến tranh Nga-Nhật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Nga-Nhật
RUSSOJAPANESEWARIMAGE.jpg
.
Thời gian 8 tháng 2 năm 19045 tháng 9 năm 1905
Địa điểm Mãn Châu, Hoàng Hải, Bán đảo Triều Tiên
Nguyên nhân bùng nổ Tham vọng tranh giành Mãn Châubán đảo Triều Tiên.
Kết quả Đế quốc Nhật Bản chiến thắng; Hiệp ước Portsmouth
Tham chiến
Flag of Russia (bordered).svg Đế quốc Nga Flag of Montenegro (1905-1918 & 1941-1944).svg Công quốc Montenegro[1] Flag of Japan (bordered).svg Đế quốc Nhật Bản
Chỉ huy
Flag of Russia (bordered).svg Hoàng đế Nikolai II
Flag of Russia (bordered).svg Aleksey Kuropatkin
Naval Ensign of Russia.svg Stepan Makarov 
Naval Ensign of Russia.svg Vsevolod Rudnev
Naval Ensign of Russia.svg Zinovy Rozhestvensky
Flag of Japan (bordered).svg Thiên hoàng Minh Trị
Flag of Japan (bordered).svg Oyama Iwao
Naval Ensign of Japan.svg Tōgō Heihachirō
Naval Ensign of Japan.svg Uryu Sotokichi


Lực lượng
500.000 400.000
Tổn thất
115.000 chết
146.519 bị thương
80.000 bị bắt
88.000 chết
173.425 bị thương
.
Chiến tranh Nga-Nhật (tiếng Nhật: 日露戦争 Nichi-Ro Sensō; tiếng Nga: Русско-японская война; tiếng Trung: 日俄戰爭 Rìézhànzhēng; 10 tháng 2 năm 19045 tháng 9 năm 1905) - được xem là "cuộc đại chiến đầu tiên của thế kỷ 20."[2] - là một cuộc xung đột xảy ra giữa các nước đế quốc đối địch đầy tham vọng: Đế quốc NgaĐế quốc Nhật Bản trong việc giành quyền kiểm soát Mãn ChâuTriều Tiên. Nơi diễn ra cuộc chiến là Nam Mãn Châu thuộc Trung Quốc, đặc biệt là khu vực xung quanh bán đảo Liêu ĐôngPhụng Thiên, và các khu vực biển quanh Triều Tiên, Hoàng Hải và Nhật Bản.

Nguyên nhân

Sau cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868, chính phủ Minh Trị đã lao vào một nỗ lực hấp thụ ý tưởng, các phong tục và các tiến bộ công nghệ của phương Tây. Cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã trỗi dậy từ một nước cô lập và tự chuyển đổi thành một quốc gia hiện đại chỉ trong một thời gian khá ngắn. Người Nhật mong ước giữ gìn chủ quyền và đồng thời cũng được công nhận là một nước ngang hàng với các cường quốc phương Tây.
Nga, một trong những nước đế quốc lớn, có tham vọng ở phía Đông. Cho đến cuối thập kỷ 1890, nước này đã mở rộng biên giới ở Trung Á đến Afghanistan, sáp nhập các quốc gia khác trong quá trình đó. Đế quốc Nga trải dài từ Ba Lan ở phía Tây đến bán đảo Kamchatka ở phía Đông[3]. Với việc xây dựng tuyến đường sắt Xuyên Siberia đến cảng Vladivostok, Nga hy vọng có thể củng cố hơn nữa ảnh hưởng và sự hiện diện của mình tại vùng này. Đây là điều Nhật Bản vô cùng lo ngại, vì họ coi Triều Tiên (và một phần nào đó với Mãn Châu) như một vùng đệm an toàn. Nga đang tìm kiếm một cảng không đóng băng tại Thái Bình Dương cho hải quân cũng như thương mại biển. Hải cảng Thái Bình Dương mới mở tại Vladivostok là cảng duy nhất của người Nga và chỉ có thể mở cửa vào mùa hè; nhưng Cảng Lữ Thuận có thể mở cửa được cả năm. Từ khi kết thúc Chiến tranh Thanh-Nhật đến cuộc đàm phán vô ích năm 1903 giữa chính phủ Sa hoàng với Nhật Bản, Nhật Bản chọn chiến tranh để bảo vệ đất nước bằng cách duy trì quyền thống trị tuyệt đối tại Triều Tiên, trong khi các nước châu Âu hy vọng đế quốc Nga sẽ thắng.
Các chiến dịch sau này, trong đó quân đội Nhật Bản non nớt liên tục giành chiến thắng trước quân đội Nga, là một bất ngờ đối với giới quan sát quốc tế. Những chiến thắng này, khi thời gian dần chứng minh, làm chuyển biến mãnh liệt cán cân quyền lực ở Đông Á, đem đến cho Nhật Bản một vị thế mới trên sân khấu thế giới. Những điều kiện ràng buộc mất mặt sau thất bại gia tăng bất mãn trong công chúng Nga với chính phủ Sa hoàng vô tích sự và tham nhũng và là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến cuộc Cách mạng Nga 1905.

Chiến tranh Thanh-Nhật

Bài chi tiết: Chiến tranh Thanh-Nhật
Chính phủ Nhật Bản coi Triều Tiên, địa chính trị gần gũi với Nhật Bản, là một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Người Nhật muốn, ít nhất, giữ Triều Tiên độc lập dưới ảnh hưởng của Nhật. Việc quân Nhật đánh bại quân Thanh sau này trong Chiến tranh Thanh-Nhật dẫn đến Điều ước Shimonoseki, theo đó triều đình Mãn Thanh buông bỏ quyền bá chủ với Triều Tiên và nhượng lại Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và bán đảo Liêu Đông (Cảng Lữ Thuận) cho Nhật Bản.
Tuy vậy, Đế quốc Nga cũng có tham vọng của riêng mình đối với vùng đất này thuyết phục ĐứcPháp gây áp lực với Nhật. Vì Tam cường can thiệp, Nhật Bản phải từ bỏ bán đảo Liêu Đông để đổi lại một khoản đền bù tài chính lớn hơn.

Sự xâm phạm của Nga

Tháng 12 năm 1897, một hạm đội Nga xuất hiện ở cảng Lữ Thuận. Sau 3 tháng, năm 1898, một hiệp định được ký kết giữa triều đình Mãn Thanh và Nga theo đó Nga được thuê cảng Lữ Thuận, vịnh Đại Liên và vùng nước xung quanh. Nó còn được thỏa thuận rằng hiệp định này có thể được mở rộng bằng sự đồng ý của đôi bên. Người Nga tin tưởng rõ ràng rằng đây là cách mà họ không mất thời gian xâm chiếm và cảng Lữ Thuận vững chắc là hải cảng nước ấm duy nhất của họ ở bờ biển Thái Bình Dương, và có giá trị chiến lược quan trọng. Một năm sau, để củng cố vị thế của mình, Nga bắt đầu xây dựng một tuyến đường sắt từ Cáp Nhĩ Tân (Harbin) qua Thẩm Dương (Phụng Thiên) đến cảng Lữ Thuận. Sự phát triển của đường sắt là yếu tố góp phần dẫn đến cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn và các ga tại Thiết Lĩnh và Liêu Dương bị đốt cháy. Người Nga cũng tìm đường vào Triều Tiên, đến năm 1898, họ nhận được nhượng bộ về khai mỏ và lâm nghiệp gần sông Áp LụcĐồ Môn (Tumen),[4] khiến cho người Nhật quan ngại sâu sắc.

Cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn

Nga và Nhật đều tham dự vào Liên quân tám nước được gửi đến dẹp cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn và để giải vây cho công sứ các nước đang bị bao vây tại Bắc Kinh (Trung Quốc). Như các quốc gia thành viên khác, người Nga gửi quân đến Trung Quốc, đặc biệt là Mãn Châu để bảo vệ lợi ích của mình.[5] Nga đảm bảo với các cường quốc khác rằng họ sẽ bỏ trống vùng đất này sau cuộc khủng hoảng. Tuy vậy, năm 1903, người Nga vẫn chưa đưa ra một lịch rút quân nào [6] và thực tế còn củng cố thế đứng của mình tại Mãn Châu. Vào ngày 15 tháng 5 năm 1903, Sa hoàng Nikolai II ra lệnh loại trừ ảnh hưởng của "ngoại bang" vào vùng Mãn Châu và dốc sức xây dựng quân lực Nga ở Viễn Đông[7].

Đàm phán

Itō Hirobumi - một chính khách Nhật Bản, bắt đầu đàm phán với người Nga. Ông tin rằng Nhật quá yếu để có thể đánh đuổi Nga bằng biện pháp quân sự, vì vậy ông đề xuất trao quyền kiểm soát Mãn Châu cho Nga để đổi lấy việc Nhật Bản kiểm soát Bắc Triều Tiên. Trong khi đó, Nhật Bản và Anh đã ký hiệp ước Liên minh Anh-Nhật năm 1902, người Anh muốn hạn chế đối thủ hải quân của mình bằng cách giữ các cảng biển của Nga ở Thái Bình Dương như Vladivostok và Lữ Thuận không được sử dụng triệt để. Liên minh với Anh Quốc có nghĩa rằng nếu bất kỳ quốc gia nào liên minh với Nga trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào với Nhật, thì nước Anh sẽ tham chiến về phe Nhật. Nga không thể nhận sự giúp đỡ từ cả Đức lẫn Pháp thêm nữa vì sự nguy hiểm của việc nước Anh tham chiến. Với một liên minh như thế, Nhật Bản cảm thấy có thể tự do khai chiến, nếu cần thiết.
Vào ngày 23 tháng 6 năm 1903, Thiên hoàng Minh Trị chấp thuận rằng Nhật Bản phải gây chiến với Nga nếu cần thiết.[7] Ngày 28 tháng 7 năm ấy, Công sứ Nhật Bản tại Sankt-Peterburg được chỉ thị thể hiện quan điểm của nước mình chống lại kế hoạch củng cố Mãn Châu của Nga. Quan hệ thương mại bị cắt đứt và tình hình lên tới mức ngày 13 tháng 1 năm 1904 nhờ đó Nhật Bản đề xuất một công thức mà Mãn Châu nằm ngoài tầm ảnh hưởng của nước này và tương tự với tìm kiếm một tuyên bố tương tự liên quan đến các từ bỏ các lợi ích của Nga tại Triều Tiên. Cho đến ngày 4 tháng 2 năm 1904, không có lời đáp lại chính thức nào được gửi đi và ngày 6 tháng 2, Công sứ Nhật Bản là Kurino Shinichiro, thăm Bộ trưởng Ngoại giao Nga là Bá tước Lamsdorf, để thông báo mình sẽ về nước.[8] Nhật Bản cắt đứt quan hệ ngoại giao ngày 6 tháng 2 năm 1904.

Chiến tranh

Tuyên chiến


Đại Mãn Châu, Mãn Châu thuộc Nga (ở bên ngoài) là phần màu đỏ nhạt ở phía trên bên phải
Nhật Bản tuyên chiến ngày 8 tháng 2 năm 1904. Tuy vậy, 3 giờ trước khi triều đình Nga nhận được lời tuyên chiến từ phía Nhật, Hải quân Đế quốc Nhật Bản tấn công Hạm đội Viễn Đông tại cảng Lữ Thuận. Sa hoàng Nikolai II sững sờ trước tin bị tấn công. Ông không thể tin được rằng Nhật Bản có thể tấn công mà không cần tuyên chiến chính thức, và đã đảm bảo với các bộ trưởng của mình rằng Nhật Bản sẽ không đánh. Nga tuyên chiến với Nhật 8 ngày sau đó.[9] Tuy vậy, việc yêu cầu tuyên chiến trước khi tiến hành chiến sự không được coi là luật pháp quốc tế cho đến khi cuộc chiến đã kết thúc vào tháng 10 năm 1907, có hiệu lực từ ngày 26 tháng 1 năm 1910.[10] Montenegro cũng tuyên chiến với Nhật như là một hành động ủng hộ về mặt tinh thần với Nga vì biết ơn Nga đã ủng hộ Montenegro kháng chiến chống lại Đế quốc Ottoman. Tuy vậy, vì lý do hậu cần và không gian, đóng góp của Montenegro cho cuộc chiến chỉ giới hạn ở những người Montenegro phục vụ trong lực lượng vũ trang Nga.[cần dẫn nguồn]

Chiến dịch năm 1904


Chiến trường trong Chiến tranh Nga-Nhật
Cảng Lữ Thuận, trên bán đảo Liêu Đông phía Nam Mãn Châu đã được củng cố thành một căn cứ hải quân lớn của Quân đội Đế quốc Nga. Vì cần phải kiểm soát mặt biển để chiến đấu được trên đất liền châu Á, mục tiêu quân sự đầu tiên của Nhật là vô hiệu hóa hạm đội Nga tại cảng Lữ Thuận.
Hải chiến cảng Lữ Thuận
Đêm ngày 8 tháng 2 năm 1904, Hạm đội Nhật Bản của Đô đốc Heihachiro Togo khai chiến bằng cuộc tấn công bất ngờ của các thuyền phóng ngư lôi vào các con tàu Nga tại cảng Lữ Thuận. Cuộc tấn công làm hư hại nặng các con tàu TsesarevichRetvizan, những chiến hạm nặng nhất trên chiến trường Viễn Đông của Nga, và tuần dương hạm 6.600 tấn Pallada.[11] Những cuộc tấn công này phát triển thành Hải chiến cảng Lữ Thuận sáng hôm sau. Một chuỗi các cuộc chạm trán bất phân thắng bại tiếp diễn, trong đó Đô đốc Togo không thể tấn công được Hạm đội Nga vì nó được bảo vệ bởi dàn pháo bờ biển trên cảng, và người Nga miễn cưỡng phải rời cảng ra vùng nước sâu, đặc biệt là sau cái chết của Đô đốc Stepan Osipovich Makarov ngày 13 tháng 4 năm 1904.
Tuy vậy, những cuộc đụng độ này tạo cơ hội thuận lợi cho quân Nhật đổ bộ xuống gần Incheon, Triều Tiên. Từ Incheon, quân Nhật chiếm Hán Thành và sau đó là phần còn lại của Triều Tiên. Cho đến hết tháng 4, Lục quân Đế quốc Nhật Bản do Đại tướng Kuroki Itei chỉ huy đã sẵn sàng vượt sông Áp Lục vào vùng chiếm đóng của Nga tại Mãn Châu.
Trận sông Áp Lục
Ngược lại với chiến lược nhanh chóng chiếm lĩnh chiến trường để kiểm soát Mãn Châu, chiến lược Nga tập trung vào các hành động tránh giao chiến để có thời gian đợi quân tiếp viện tới nơi qua tuyến đường sắt xuyên Xibia dài khi đó vẫn chưa hoàn thành gần Irkutsk. Ngày 1 tháng 5 năm 1904, Trận sông Áp Lục trở thành trận chiến lớn đầu tiên trên đất liền, khi quân Nhật đột chiếm các vị trí của quân Nga sau khi vượt sông mà không gặp sự kháng cự nào. Quân Nhật tiếp tục đổ bộ xuống nhiều điểm quan trọng tại bờ biển Mãn Châu, và trong một chuỗi các cuộc đụng độ, đã đẩy lùi quân Nga về phía cảng Lữ Thuận. Những trận đánh này, bao gồm trận Nashan ngày 25 tháng 5 năm 1904, được đánh dấu bằng thiệt hại nặng của quân Nhật khi tấn công vào các đường hào của quân Nga, nhưng quân Nga vẫn duy trì sự tập trung vào phòng ngự và không phản công.
Phong tỏa cảng Lữ Thuận
Quân Nhật cố ngăn cản quân Nga sử dụng cảng Lữ Thuận. Trong đêm 12-14 tháng 2, quân Nhật cố phong tỏa luồng vào cảng Lữ Thuận bằng cách đánh chìm vài tàu hơi nước đầy xi măng tại tuyến nước sâu vào cảng, nhưng họ đánh chìm quá sâu nên không hiệu quả. Một cố gắng tương tự để phong tỏa đường vào cảng trong đêm ngày 3-4 tháng 5 cũng thất bại. Tháng 3, Phó Đô đốc có uy tín Makarov được bổ nhiệm làm chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương với ý định phá vỡ sự phong tỏa tại cảng Lữ Thuận.
Ngày 12 tháng 4 năm 1904, 2 thiết giáp hạm tiền dreadnought, kỳ hạm PetropavlovskPobeda lẻn ra khỏi cảng nhưng vướng phải thủy lôi Nhật Bản ngoài cảng Lữ Thuận. Chiếc Petropavlovsk chìm ngày tức khắc, trong khi chiếc Pobeda phải kéo về cảng và phải tu sửa nặng. Đô đốc Makarov, nhà chiến lược tài năng duy nhất của Nga trong chiến tranh, tủ trận trên tàu Petropavlovsk.
Ngày 15 tháng 4 năm 1904, triều đình Nga đe dọa bắt giữ phóng viên chiến trường người Anh khi đang đi trên tàu Haimun vào vùng chiến sự để lấy tin cho tờ báo có trụ sở tại London The Times, viện dẫn rằng họ lo ngại việc người Anh có thể thông báo vị trí của quân Nga cho hạm đội Nhật Bản.
Người Nga học nhanh, và không lâu sau cũng sử dụng chiến thuật Nhật Bản về thủy lôi tấn công. Ngày 15 tháng 5 năm 1904, 2 thiết giáp hạm Nhật Bản, YashimaHatsuse, bị nhử vào một bãi thủy lôi của Nga ở gần cảng Lữ Thuận, mỗi chiếc trúng ít nhất 2 trái thủy lôi. Chiếc Hatsuse chìm chỉ trong vài phút, mang theo 450 thủy thủ, trong khi chiếc Yashima chìm trong khi được kéo về Triều Tiên để sửa chữa. Ngày 23 tháng 6 năm 1904, nỗ lực phá vây của hạm đội Nga, bây giờ dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Wilgelm Vitgeft thất bại. Cho đến cuối tháng, pháo binh Nhật Bản liên tục pháo kích vào cảng.
Bao vây cảng Lữ Thuận
Nhật Bản bắt đầu cuộc bao vây dài ngày cảng Lữ Thuận. Ngày 10 tháng 8 năm 1904, Hạm đội Nga lại một lần nữa cố gắng phá vây và tiến đến Vladivostok, nhưng khi ra được biển khơi thì chạm trán với đội thiết giáp hạm của Đô đốc Togo. Người Nga thường gọi đây là Trận ngày 10 tháng 8, nhưng thông thường, nó được gọi là Hải chiến Hoàng Hải, các thiết giáp hạm từ hai phía liên tục khai hỏa. Trận đánh này là một yếu tố quyết định chiến trường, mặc dù Đô đốc Togo biết một đội thiết giáp hạm Nga khác sẽ sớm được gửi đến Thái Bình Dương. Quân Nhật chỉ có một đội thiết giáp hạm và Togo đã mất hai thiết giáp hạm vì thủy lôi của Nga. Các thiết giáp hạm Nga và Nhật tiếp tục đấu súng, cho đến khi kỳ hạm của quân Nga, chiếc Tsesarevich, bị bắn trực diện vào cầu tàu, giết chết Tư lệnh hạm đội, Đô đốc Vitgeft. Đến lúc này, Hạm đội Nga quay đầu lại và chạy về cảng Lữ Thuận. Mặc dù không có thuyền chiến nào bị chìm trong trận này, quân Nga bây giờ lại trở về cảng và hải quân Nhật vẫn còn thiết giáp hạm để đối đầu với hạm đội Nga khi nó tới nơi.
Cảng Lữ Thuận thất thủ
Cuối cùng, thuyền chiến Nga tại cảng Lữ Thuận bị đánh chìm bởi pháo của quân đội bao vậy. Nỗ lực giải vây cho thành phố bằng đường bộ cũng thất bại, và, sau trận Liêu Dương vào cuối tháng 8, quân Nga rút lui đến (Thẩm Dương). Cảng Lữ Thuận cuối cùng thất thủ vào ngày 2 tháng 1 năm 1905 khi Tư lệnh quân phòng thủ bỏ lại cảng cho quân Nhật mà không tham vấn cấp trên.
Hạm đội Ban Tích
Trong khi đó, trên biển, quân Nga đang chuẩn bị để tiếp viện Hạm đội Viễn Đông bằng cách gửi đến Hạm đội Ban Tích, dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Zinovy Rozhestvensky. Hạm đội này phải đi vòng quanh thế giới từ biển Ban Tích đến Trung Quốc qua mũi Hảo Vọng. Hạm đội Ban Tích phải đến tháng 5 năm 1905 mới tới được Viễn Đông.
Ngày 21 tháng 10 năm 1904, khi đi qua Vương quốc Anh (một đồng minh với Nhật Bản nhưng trung lập trong cuộc chiến này), những con tàu của Hạm đội Ban Tích suýt nữa thì khai mào một cuộc chiến trong Sự kiện Dogger Bank vì bắn vào một thuyền đánh cá Anh vì lầm tưởng đó là thuyền phóng lôi của quân Nhật.

Chiến dịch năm 1905


Quân Nga rút lui sau Trận Phụng Thiên.
Mùa đông khắc nghiệt và những trận đánh cuối cùng
Với việc Lữ Thuận Khẩu thất thủ, Tập đoàn quân số 3 Nhật Bản nay đã có thể tiếp tục tiến lên phía Bắc và tiếp viện cho các vị trí phía Nam của thành phố Phụng Thiên do Nga chiếm giữ. Với sự tấn công của mùa đông Mãn Châu khắc nghiệt, không có cuộc đụng độ lớn nào trên bộ kể từ Trận sông Sa năm ngoái. Cả hai bên đều đóng trại đối diện nhau suốt dọc 110 km chiến tuyến, phía Nam Phụng Thiên.
Tập đoàn quân số 2 Nga dưới sự chỉ huy của Đại tướng Oskar Grippenberg, từ 25 đến 29 tháng 1, tấn công cánh trái quân Nhật gần thị trấn Sandepu, và suýt nữa thì chọc thủng được phòng tuyến. Điều này làm quân Nhật bất ngờ. Tuy vậy, không nhận được sự trợ giúp từ các đơn vị quân Nga khác, cuộc tấn công bị chặn lại, Grippenberg được Kuropatkin ra lệnh tạm nghỉ và trận đánh không đem lại kết quả. Người Nhật biết rằng họ cần tiêu diệt quân đội Nga tại Mãn Châu trước khi quân tiếp viện Nga đến qua tuyến đường sắt xuyên Xibia.
Trận Phụng Thiên mở đầu vào ngày 20 tháng 2 năm 1905. Những ngày sau đó, quân Nhật tiếp tục tấn công vào hai cánh trái phải của quân Nga xung quanh Phụng Thiên, dọc phòng tuyến dài 80 km. Cả hai bên đều đào nhiều đường hào và được nhiều pháo đội hỗ trợ. Sau vài ngày chiến đấu ác liệt, áp lực tăng thêm từ hai cánh buộc cả hai điểm cuối của tuyến phòng thủ của quân Nga cong về phía sau. Thấy rằng mình sắp bị bao vây, quân Nga bắt đầu rút lui, đánh nhiều trận hậu tập ác liệt, sớm chuyển thành sự hỗn loạn và sụp đổ của quân Nga. Ngày 10 tháng 3 năm 1905, sau 3 tuần chiến đấu, Đại tướng Kuropatkin]quyết định rút về phía Bắc Phụng Thiên.
Đội hình rút lui của quân đội Nga tại Mãn Châu cũng tan rã như các đơn vị chiến đấu, nhưng quân Nhật không tiêu diệt hoàn toàn được họ. Chính quân Nhật cũng chịu thương vong lớn và không thể truy kích. Mặc dù trận Phụng Thiên là một thất bại lớn của quân Nga nhưng nó không mang tính quyết định, và thắng lợi cuối cùng vẫn dựa vào hải quân.
Chiến thắng tại Đối Mã
Bài chi tiết: Hải chiến Đối Mã
Hạm đội Thái Bình Dương thứ hai (đổi tên từ Hạm đội Ban Tích) hải hành theo tuyến đường chưa từng có lên tới 29.000 km để phá vây cho cảng Lữ Thuận. Tin xấu rằng cảng Lữ Thuận đã thất thủ bay đến hạm đội khi họ đến Madagascar. Hy vọng duy nhất của Đô đốc Rozhestvensky bây giờ là đến được cảng Vladivostok. Có 3 con đường đến Vladivostok, ngắn nhất và theo đường thẳng là đường qua Eo biển Đối Mã giữa Triều Tiên và Nhật Bản. Tuy vậy, đây cũng là con đường nguy hiểm nhất vì nó đến rất gần nội địa Nhật Bản.
Đô đốc Togo biết rằng người Nga đang tới và hiểu rằng sau khi cảng Lữ Thuận thất thủ, Hạm đội Thái Bình Dương thứ 2, thứ 3 sẽ cố đến cảng duy nhất của Nga ở Viễn Đông, Vladivostok. Kế hoạch chiến đấu được thông qua, các con tàu được sửa chữa và trang bị lại để chặn đứng hạm đội Nga.
Hạm đội liên hợp Nhật Bản, ban đầu bao gồm 6 thiết giáp hạm, bây giờ chỉ còn 4 (2 chiếc mất vì thủy lôi), nhưng vẫn giữ được số tuần dương hạm, tàu khu trục, và thuyền phóng lôi. Hạm đội Thái Bình Dương thứ 2 bao gồm 8 thiết giáp hạm, bao gồm 4 thiết giáp hạm mới thuộc lớp Borodino, cũng như tuần dương hạm, khu trục hạm và các tàu phụ khác, tổng số lên tới 38 tàu.
Cho đến cuối tháng 5, Hạm đội Thái Bình Dương thứ 2 còn cách Vladivostok không xa. Họ quyết định chọn con đường ngắn hơn, liều lĩnh hơn giữa Triều Tiên và Nhật Bản. Họ đi vào ban đêm để không bị phát hiện. Không may cho người Nga, một trong những con tàu cứu thương của họ để lộ một ngọn đèn và bị tàu buôn vũ trang Nhật Bản Shinano Maru trông thấy. Thông tin nhanh chóng được chuyển đến Bộ tư lệnh của Đô đốc Togo, và Hạm đội liên hợp ngay lập tức được lệnh xuất kích. Nhận thêm được tin tức tình báo hải quân từ đội do thám, quân Nhật có thể đưa hạm đội của mình chạy cắt dọc chữ T với hạm đội Nga. Quân Nhật chạm trán quân Nga tại eo biển Đối Mã ngày 27-28 tháng 5 năm 1905. Hạm đội Nga gần như bị tiêu diệt, mất 8 thiết giáp hạm, rất nhiều tàu nhỏ, và hơn 5.000 quân. Chỉ có 3 tàu Nga chạy thoát được đến Vladivostok. Sau trận Đối Mã, hải quân Nhật chiếm toàn bộ quần đảo Sakhalin để ép Nga phải yêu cầu đình chiến.

Hòa bình


Đại biểu Nga Nhật trong Hiệp ước Portsmouth.
Sự thất bại của Lục quân và Hải quan Nga làm người Nga mất tự tin. Trong suốt năm 1905, chế độ phong kiến Sa hoàng rung chuyển vì Cách mạng Nga 1905. Sa hoàng Nikolai II chọn thương thảo hòa bình để có thể tập trung vào các vấn đề trong nước. Tổng thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt đề nghị làm trung gian hòa giải, và nhận được giải Nobel Hòa bình vì nỗ lực của mình. Sergius Witte dẫn đầu đoàn đại biểu Nga và Nam tước Komura, tốt nghiệp tại Harvard, dẫn đầu đoàn đại biểu Nhật. Hiệp ước Portsmouth được ký vào ngày 5 tháng 12 năm 1905[12] trên tàu hải quân Hoa Kỳ tại Portsmouth, New Hampshire. Witte trở thành Thủ tướng Nga cùng năm. Tuy vậy, hiệp ước hòa bình với Montenegro không được người Nhật ký và tình trạng chiến tranh về mặt kỹ thuật, vẫn tiếp diễn với quốc gia châu Âu nhỏ bé này cho đến khi nó tuyên bố độc lập khỏi Serbia năm 2006 (xem Danh sách các cuộc chiến tiếp diễn do trái quy cách ngoại giao).
Nga công nhận Triều Tiên là một phần trong không gian ảnh hưởng của Nhật và đồng ý rút ra khỏi Mãn Châu. Nhật sáp nhập Triều Tiên năm 1910, với ít sự phản đối từ các cường quốc khác.
Nga cũng hủy bỏ hợp đồng về quyền thuê cảng Lữ Thuận trong 25 năm, bao gồm căn cứ hải quân và bán đảo xung quanh nó. Đế quốc Nga nhượng lại nửa phía Nam đảo Sakhalin cho đế quốc Nhật Bản. Nó được Liên Xô lấy lại năm 1952 theo Hiệp ước San Francisco sau Chiến tranh thế giới II. Tuy vậy, việc nhượng lại phía Nam đảo Sakhalin cho Liên Xô không được một số lớn các nhà chính trị Nhật Bản ủng hộ.

Thương vong


Một bức tranh màu mô tả cảnh các nhân viên Hội Chữ thập Đỏ của Nhật đang cứu chữa cho các thương binh Nga
Theo các báo cáo thì phía Nga có 47.400 người chết, 146.032 bị thương, 12.128 chết bệnh.[13] Phía bên kia chiến tuyến, người Nhật có 47.152 người chết trận, 11.424 chết vì những vết thương, 21.802 chết vì bệnh.[14]

Hậu chiến và kết quả

Đây là chiến thắng lớn đầu tiên của một nước châu Á trước một cường quốc châu Âu trong thời hiện đại. Uy thế của Nhật Bản tăng lên nhanh chóng và bắt đầu được coi là một cường quốc hiện đại. Đồng thời, Nga mất gần như toàn bộ Hạm đội Viễn Đông và Ban Tích, và cũng mất luôn sự kính trọng trên trường quốc tế. Điều này đặc biệt đúng trong mắt của ĐứcÁo-Hung; Nga là đồng minh của PhápSerbia, và việc mất thanh thế này sẽ ảnh hưởng quan trọng đến tương lai của nước Đức khi lên kế hoạch gây chiến với Pháp, và chiến tranh của Áo-Hung với Serbia.
Vắng mặt nước Nga và sự sao lãng của các quốc gia châu Âu khác trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết hợp với cuộc Đại suy thoái sau đó, quân đội Nhật bắt đầu thống trị Trung Quốc và phần còn lại của châu Á, cuối cùng sẽ dẫn đến cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ haiChiến tranh Thái Bình Dương, những chiến trường trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Tại Nga, thất bại năm 1905 dẫn đến một thời kỳ cải cách ngắn trong quân đội Nga cho phép nó đối mặt với quân đội đế quốc Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong trận Tannenberg (1914), quân đội Đức đã tiêu diệt được tập đoàn quân số 2 của Nga do một cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Nga-Nhật chỉ huy.[15] Và, những cuộc nổi dậy sau chiến tranh đã đặt nền móng quan trọng cho cuộc Cách mạng Nga 1917 sau này.
Tất cả các ngày ở trên đều tính theo lịch mới Gregorian, không phải Julian dùng tại Nga; để thuận tiên, khi ở đâu có 2 loại ngài tháng, hãy sử dụng cái nào chậm hơn 13 ngày so với cái kia).
Hải quân Hoàng gia Anh gửi một mớ tóc của Đô đốc Nelson cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản sau chiến tranh để kỷ niệm chiến thắng năm 1905 trong Hải chiến Tsushima; là sự tiếp nối chiến thắng của Anh tại Trafalgar năm 1805. Nó vẫn được trưng bày tại Kyouiku Sankoukan, bảo tàng công cộng được Lực lượng phòng vệ Nhật Bản duy trì.

Đánh giá kết quả chiến tranh

Nga đã mất 2 trong số 3 hạm đội của mình. Chỉ còn lại Hạm đội Biển Đen, và vì một hiệp ước trước đó không cho hạm đội này rời khỏi biển Đen. Jakob Meckel, một cố vấn quân sự Đức cử đến Nhật Bản, có sức ảnh hưởng ghê gớm đối với sự phát triển về huấn luyện, chiến lược, chiến thuật và tổ chức của quân đội Nhật. Những cải cách của ông được minh chứng bằng chiến thắng áp đảo với Trung Quốc trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất năm 1894–1895. Tuy vậy, việc ông quá dựa vào sử dụng bộ binh trong các chiến dịch tấn công cũng dẫn đến thương vong lớn cho quân Nhật trong chiến tranh Nga-Nhật. Người Nhật luôn trong thế công suốt cuộc chiến, và sử dụng chiến thuật khối đông bộ binh (biển người) với các vị trí phòng ngự[cần dẫn nguồn]. Các trận đánh trong chiến tranh Nga-Nhật là điềm bảo trước cho chiến tranh hầm hào trong suốt Chiến tranh thế giới I, trong đó súng máy và pháo binh đã gây thiệt hại lớn cho quân lính Nhật[cần dẫn nguồn].
Tình trạng kiệt quệ về quân sự và kinh tế ảnh hưởng đến cả hai quốc gia. Sự bất mãn trong dân chúng Nga sau chiến tranh tiếp thêm năng lượng cho cuộc Cách mạng Nga 1905, một sự kiện mà Sa hoàng Nikolai II đã hy vọng tránh được hoàn toàn bằng cách giữ thế đàm phán không khoan nhượng trước khi tới bàn thương lượng. 10 năm sau đó, sự bất mãn bùng nổ thành cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917. Ở Ba Lan, phần lãnh thổ mà Nga được chia cuối thế kỷ 18, và ở nơi sự thống trị của Nga đã gây ra hai cuộc khởi nghĩa lớn, dân chúng bất trị đến nỗi một quân đội lên tới 250.000-300.000 - lớn hơn cả đội quân đã đối mặt với người Nhật – phải trú đóng tại đây để ổn định tình hình.[16] Đáng chú ý là một vài nhà chính trị Ba Lan hàng đầu của phong trào khởi nghĩa, như Józef Piłsudski), đã gửi đại sứ đến Nhật để hợp tác trong việc phá hoại và thu thập tin tức tình báo trong Đế quốc Nga và thậm chí cả một kế hoạch của Nhật trợ giúp cho cuộc khởi nghĩa.[17] Nước Nga đã bước vào thế kỷ 20 với cuộc chiến tranh này, qua đó sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ Sa hoàng một lần nữa được thể hiện.[18]
Mặc dù chiến tranh kết thúc với thắng lợi của Nhật Bản, vẫn có một hố sâu đang chú ý giữa ý quan điểm của công chúng Nhật và những điều khoản hòa bình rất hạn chế được đàm phán khi kết thúc chiến tranh.[19] Sự bất mãn lan rộng trong dân chúng khi thông báo về các điều khoản của hiệp ước. Bạo loạn bùng nổ ở các thành phố chính của Nhật Bản. Có hai yêu sách rõ ràng, hy vọng một chiến thắng đáng giá như thế, lại đặc biệt thiếu: chiếm thêm lãnh thổ và bồi thường chiến phí cho Nhật Bản. Hiệp định hòa bình dẫn đến cảm giác ngờ vực, vì người Nhật đã dự định giữ lại toàn bộ đảo Sakhalin, nhưng họ buộc phải trả lại một nửa dưới sức ép của Mỹ.
Thất bại của đế quốc Nga là một cú sốc từ phương Tây cho đến vùng Viễn Đông, rằng một nước châu Á đã đánh bại một cường quốc châu Âu trong một trận chiến lớn.
Các nhà sử học Nhật Bản coi cuộc chiến này là một bước ngoặt với nước Nhật, và chìa khóa để hiểu được lý do tại sao nước Nhật lại thất bại về chính trị và quân sự sau này. Mọi tầng lớp trong xã hội Nhật Bản đều cảm thấy cay đắng và đồng lòng cho rằng đất nước của họ đã bị đối xử như một quốc gia bại trận trên bàn đàm phán. Khi thời gian qua đi, cảm giác này, cùng với sự kiêu ngạo khi trở thành một cường quốc[cần dẫn nguồn], tăng dần và thêm vào sự thù địch ngày càng tăng với phương Tây và tiếp sức cho chủ nghĩa quân phiệt và tham vọng đế quốc của người Nhật, mà đỉnh cao là cuộc xâm lược Đông, Đông Nam, và Nam châu Á trong Chiến tranh thế giới thứ hai để cố gắng tạo ra một đại đế quốc trên danh nghĩa tạo ra Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á. Chỉ 5 năm sau chiến tranh, Nhật Bản chính thức sáp nhập Triều Tiên vào nước mình, và xâm lược Mãn Châu trong Sự kiện Phụng Thiên 21 năm sau đó vào năm 1931. Kết quả là, phần lớn các sử gia Trung Quốc coi cuộc chiến này là chìa khóa phát triển của chủ nghĩa quân phiệt Nhật.

Ý nghĩa đối với phong trào chống Đế quốc Thực dân ở Châu Á

Chiến thắng vẻ vang của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh với Nga (1904-1905) dẫn đến hoà ước Postsmouth, đem lại cho Nhật Bản Hải cảng Lữ Thuận, phía nam Sakhaline và con đường xe lửa phía nam Mãn Châu. Sự kiện trên khiến các nước châu Âu giật mình vì một châu Á đang trỗi dậy, nó còn đem lại niềm khích lệ lớn cho giới sĩ phu yêu nước Việt Nam là theo gương tự cường của nước Nhật để đánh đuổi thực dân Pháp.[1] Người châu Á coi thắng lợi này là một điển mẫu cho những gì mà dân tộc họ có thể làm được.[20]
Được xem là đòn giáng đầu tiên vào chủ nghĩa thực dân phương Tây, thắng lợi của Nhật Bản trong chiến tranh với Nga đã đập tan cái huyền thoại về sự bất bại của người da trắng.[20] Theo học giả Nguyễn Hiến Lê thì sự kiện này đã hồi sinh cho cả châu Á. Đối với phương Đông thì nó còn quan trọng hơn cả Cách mạng Pháp đối với phương Tây nữa.

Danh sách các trận chiến

Kết quả

Trên chiến trường, hầu hết trong các chiến dịch, Nhật đều giành thắng lợi. Một số chiến dịch khác là bất phân thắng bại. Tuy nhiên, cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề về người.
Trong nước, Nhật Bản đã phải huy động rất nhiều tiền của cho chiến tranh. Kinh phí chiến tranh đối với Nhật lên tới 1,98 tỷ Yên, trong đó 1,2 tỷ Yên là đi vay của Hoa Kỳ và Anh.

Văn học và nghệ thuật


Tranh Đô đốc Togo trên boong Thiết giáp hạm Mikasa, trước Hải chiến Đối Mã năm 1905.
  • Chiến tranh Nga-Nhật được đưa tin bởi hàng tá các phóng viên nước ngoài, gửi lại các bản phác thảo được chuyển thành tờ in thạch bản và các dạng in được khác. Các hình ảnh tuyên truyền được truyền bá từ cả 2 phía và còn rất ít tấm ảnh còn được bảo quản.
  • Cuộc vây hãm cảng Lữ Thuận được viết lại trong một cuốn tiểu thuyết lịch sử tuyệt vời 'Cảng Lữ Thuận' của Alexander Stepanov (1892-1965), người, vào tuổi 12, đã sống trong thành phố bị bao vây và chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng của cuộc vây hãm. Ông giữ một vị trí riêng trong quân phòng ngự cảng Lữ Thuận, với nhiệm vụ mang nước đến các đường hào ở tiền tuyến; bị giập; và may mắn tránh khỏi bị cưa chân khi ở trong bệnh viện. Cha ông, ngài Nikolay Stepanov, chỉ huy một pháo đội Nga bảo vệ bờ biển; qua ông, Alexander quen biết nhiều chỉ huy quân sự cao cấp trong thành phố - các tướng quân Stessels, Belikh, Nikitin, Kondratenko, Đô đốc Makarov và nhiều người khác. Cuốn tiểu thuyết được viết năm 1932, dựa trên nhật ký của chính tác giả và ghi chép của người cha; mặc dù nó chịu nhiều ảnh hưởng của thiên kiến, như bất kỳ thứ gì xuất bản ở Liên Xô thời điểm đó, nó vẫn được coi là một trong những tiểu thuyết lịch sử hay nhất của thời kỳ Sô Viết [21].
  • Chiến tranh Nga-Nhật cũng được thường được nói qua trong tiểu thuyết Ulysses của nhà văn James Joyce. Trong chương "Eumaeus", một thủy thủ say rượu trong quán bar tuyên bố, "Nhưng một ngày tính toán, ông nói với giọng cao dần đến lạc giong—độc quyền triệt để các cuộc thương thuyết—dành sẵn cho nước Anh hùng mạnh, bất chấp sức mạnh tiền bạc trả cho những tội ác của nó. Sẽ có một sự sụp đổ và là sự sụp đổ lớn nhất trong lịch sử. Người Đức và người Nhật sẽ để mắt đến, ông quả quyết."
  • Chiến tranh Nga-Nhật được lấy làm nền tảng cho các chiến lược hải quân trong game máy tính Distant Guns do Storm Eagle Studios phát triển.
  • Chiến tranh Nga-Nhật truyền cảm hứng cho phần đầu tiên của tiểu thuyết The Diamond Vehicle, trong seri trinh thám Erast Fandorin của Boris Akunin.
  • Seri The Domination của S.M. Stirling có một trận chiến Đối Mã khác trong đó quân Nhật sử dụng khí cầu để tấn công Hạm đội Nga. Điều này được kể chi tiết trong truyện ngắn "Written by the Wind" của Roland J. Green trong hợp tuyển thơ Drakas!.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Montenegro đã tuyên chiến với Nhật Bản như một cử chỉ ủng hộ tinh thần cho Nga vì trả ơn Nga đã ủng hộ các cuộc đấu tranh của Montenegro chống lại Đế quốc Ottoman. Tuy nhiên do các lý do hậu cần và khoảng cách, sự đóng góp của Montenegro đối với cuộc chiến chỉ giới hạn trong số quân mà Montenegro phái đến cho quân đội Nga.[cần dẫn nguồn]
  2. ^ Olender p. 233
  3. ^ Đại học Texas: Sự phát triển của các Đế quốc thuộc địa ở châu Á
  4. ^ S.C.M. Paine, p. 317
  5. ^ Connaughton R., p. 7-8.
  6. ^ S.C.M. Paine, p. 320.
  7. ^ a ă Geoffrey Jukes, The Russo-Japanese War 1904-1905, trang 2
  8. ^ Connaughton, p. 10.
  9. ^ Connaughton, p. 34.
  10. ^ Đại học Yale: Luật chiến tranh: Khai chiến (Hague III); 18 tháng 10, 1907, Dự án Avalon tại trường luật Yale.
  11. ^ Shaw, Albert (tháng 3 1904), “The Progress of the World - Japan's Swift Action”, The American Monthly Review of Reviews (New York: The Review of Reviews Company) 29 (No. 3): 260
  12. ^ Connaughton, p. 272; "Văn bản hiệp ước; đã được Hoàng đế Nhật Bản và Sa hoàng Nga ký," New York Times. 17 tháng 10, 1905.
  13. ^ Samuel Dumas, Losses of Life Caused By War (1923)
  14. ^ Twentieth Century Atlas – Death Tolls and Casualty Statistics for Wars, Dictatorships and Genocides.
  15. ^ Dennis E. Showalter, Tannenberg: clash of empires, 1914, trang 226
  16. ^ Abraham Ascher, The Revolution of 1905: Russia in Disarray, Stanford University Press, 1994, ISBN 0-8047-2327-3, Google Print, p.157-158
  17. ^ Về quan hệ và đàm phán Ba Lan-Nhật Bản trong chiến tranh, xem:Bert Edström, The Japanese and Europe: Images and Perceptions, Routledge, 2000, ISBN 1-873410-86-7, Google Print, p.126-133
    Jerzy Lerski, A Polish Chapter of the Russio-Japanese War, Transactions of the Asiatic Society of Japan, III/7 p. 69-96
  18. ^ Kenneth Pearl, Princeton Review, Cracking the AP European History Exam, 2004-2005 Edition, trang 150
  19. ^ "Khủng hoảng hiện thời ở Nhật và kết cấu của nó; Các Bộ trưởng của Thiên hoàng sẽ phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về Hiệp định hòa bình – Hầu tước Ito có thể cứu Nam tước Komura," New York Times. 3 tháng 9, 1905.
  20. ^ a ă Stephen C. Mercado, The Shadow Warriors Of Nakano: A History of the Imperial Japanese Army's Elite Intelligence School, trang 263
  21. ^ 'Port Arthur' của Alexander Stepanov, xuất bản tại ‘Nga Soviet' năm 1978, 'About Author' section

Tài liệu tham khảo

  • Connaughton, R.M., The War of the Rising Sun and the Tumbling Bear—A Military History of the Russo-Japanese War 1904-5, London, 1988, ISBN 0-415-00906-5.
  • Paine, S.C.M., The Sino-Japanese War of 1894-1895: Perceptions, Power, and Primacy, 2003, ISBN 0-521-81714-5
  • Corbett, Sir Julian. Maritime Operations In The Russo-Japanese War 1904-1905. (1994) Originally classified, and in two volumnes, ISBN 1-55750-129-7.
  • Grant, R., Captain, D.S.O. Before Port Arthur In A Destroyer. (The Personal Diary Of A Japanese Naval Officer-Translated from the Spanish Edition by Captain R. Grant, D.S.O. Rifle Brigade). John Murray, Albemarle St. W. (1907).
  • Hough, Richard A. The Fleet That Had To Die. Ballantine Books. (1960).
  • Jukes, Geoffry. The Russo-Japanese War 1904–1905. Osprey Essential Histories. (2002). ISBN 978-1-84176-446-7.
  • Kowner, Rotem (2006). Historical Dictionary of the Russo-Japanese War. Scarecrow. ISBN 0-8108-4927-5.
  • Morris, Edmund (2002). Theodore Rex. The Modern Library. ISBN 0-8129-6600-7.
  • Kenneth Pearl, Princeton Review, Cracking the AP European History Exam, 2004-2005 Edition, The Princeton Review, 01-01-2004. ISBN 0-375-76386-4.
  • Aleksei Novikov-Priboy|Novikov-Priboy, Aleksei. Tsushima. (An account from a seaman aboard the Battleship Orel (which was captured at Tsushima). London: George Allen & Unwin Ltd. (1936).
  • Nish, Ian (1985). The Origins of the Russo-Japanese War. Longman. ISBN 0-582-49114-2.
  • Okamoto, Shumpei (1970). The Japanese Oligarchy and the Russo-Japanese War. Columbia University Press.
  • Pleshakov, Constantine. The Tsar's Last Armada: The Epic Voyage to the Battle of Tsushima. ISBN 0-465-05792-6. (2002).
  • Saaler, Sven und Inaba Chiharu (Hg.). Der Russisch-Japanische Krieg 1904/05 im Spiegel deutscher Bilderbogen, Deutsches Institut für Japanstudien Tokyo, (2005).
  • Seager, Robert. Alfred Thayer Mahan: The Man And His Letters. (1977) ISBN 0-87021-359-8.
  • Semenov, Vladimir, Capt. The Battle of Tsushima. E.P. Dutton & Co. (1912).
  • Semenov, Vladimir, Capt. Rasplata (The Reckoning). John Murray, (1910).
  • Tomitch, V. M. Warships of the Imperial Russian Navy. Volume 1, Battleships. (1968).
  • Warner, Denis & Peggy. The Tide at Sunrise, A History of the Russo-Japanese War 1904–1905. (1975). ISBN 0-7146-5256-3.

Link liên quan



Benelux

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Benelux
Cờ Benelux

Vị trí của Benelux
vị trí của Benelux in Europe
Các ngôn ngữ chính thức Hà LanPháp, không chính thức: Frisian, Đức và tiếng Luxembourg.
Thành viên
Trang web
http://www.benelux.be
Benelux là tên một vùng trong châu Âu gồm 3 nước lân cận nhau là Bỉ, Hà LanLuxembourg. Tên gọi Benelux được ghép chữ đầu trong tên gọi của 3 quốc gia Belgium (Bỉ), Netherlands (Hà Lan) và Luxembourg. Tên này được dùng để chỉ Liên minh Thuế quan Benelux từ năm 1958. Công dân của 3 nước này được tự do đi lại không cần visa bao gồm cả các công dân của các nước khác (khi đến đã nhập cảnh một trong ba nước này).

Lịch sử

Liên minh Kinh tế Bỉ-Luxembourg ký ngày 25 tháng 7 năm 1921 có thể được coi là bước đầu của Liên minh Thuế quan Benelux sau này.
Trong thời kỳ thế chiến thứ hai, các chính phủ lưu vong của 3 nước Bỉ, Hà Lan và Luxembourg đã ký một hiệp ước thành lập Liên minh thuế quan Benelux tại London ngày 5 tháng 9 năm 1944, nhằm bãi bỏ thuế quan ở biên giới chung giữa 3 nước và ấn định một mức thuế chung cho hàng hóa từ các nước ngoài nhập vào Liên minh. Chính sách tự do mậu dịch này xuất phát từ thất bại của các chính sách bảo hộ mậu dịch trong thập niên 1930, tiếp theo cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1929. Tuy nhiên hiệp ước này chỉ được áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 1948.
Ba nước thành viên của Liên minh này cũng là các nước sáng lập ra Liên minh Tây Âu ngày 17 tháng 3 năm 1948, Tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu (OEEC) ngày 16 tháng 4 năm 1948, Tổ chức Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) năm 1949, Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) ngày 18 tháng 4 năm 1951, Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC, tức Cộng đồng châu Âu (EC) sau này) ngày 25 tháng 3 năm 1957.
Hiệp ước thành lập Liên minh kinh tế Benelux được ký ngày 3 tháng 2 năm 1958 tại La Hay (Hà Lan), thúc đẩy việc di chuyển tự do các người lao động, vốn liếng, dịch vụ, hàng hóa trong Liên minh.

Dân số và ngôn ngữ

Tổng dân số của Liên minh hiện nay là 27.562.217 người trên một diện tích 74.640 km², mật độ dân số là 369 người/km².
Tiếng Hà Lan, Flemish, tiếng Pháp và tiếng Đức là 4 ngôn ngữ chính. Trong khoảng 27,5 triệu dân thì 83% nói tiếng Hà Lan và Flemish, tức khoảng 22,5 triệu dân (tiếng Hà Lan khoảng 16,5 triệu, tiếng Flemish 6 triệu), 17% nói tiếng Pháp, tức khoảng 4,7 triệu, trong đó ở Bỉ 4,2 triệu và 0,5 triệu ở Luxembourg. Trên thực tế chỉ có một nhóm nhỏ nói tiếng Đức ở thành phố Eupen (Bỉ).

Cơ cấu tổ chức

  • Cơ quan tổng thư ký tại Bruxelles, điều hành các công việc chung. Hiện nay do người Hà Lan J.P.R.M. var Laarhoven đảm nhiệm từ 1 tháng 1 năm 2007
  • Ủy ban các bộ trưởng - cơ quan hành pháp - chủ yếu gồm các bộ trưởng ngoại giao, nhưng tùy trường hợp, cũng có các bộ trưởng khác tham gia
  • Hội đồng Liên minh, tập hợp các Ban Giám đốc của các Ban chủ yếu khác nhau của Liên minh
  • Hội đồng nghị sĩ tư vấn, gọi là Nghị viện Benelux, gồm có 21 nghị sĩ Hà lan, 21 Bỉ và 7 Luxembourg. Nghị viện này có vai trò thảo luận và khuyến nghị, nhưng không có quyền lập pháp.
Hiệp ước thành lập Liên minh kinh tế Benelux sẽ hết thời hạn vào năo 2010.

Liên kết ngoài

Thảm sát München

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thảm sát Munich
250px
Hình kẻ bắt cóc con tin nhìn ra ngoài ban công tòa nhà nơi đội tuyển Israel ở tại Building 31 thuộc Làng Olympic Munich. Đây có lẽ là bức ảnh biểu tượng và dễ nhận biết nhất của sự kiện.[1][2]
Germany location map.svg
Red pog.svg
Munich
Địa điểm Munich, Tây Đức
Tọa độ 48°10′46,9″B 11°32′57,1″Đ
Thời điểm 5–6 tháng 9 năm 1972
4:30 a.m. – 12:04 a.m. (UTC+1)
Mục tiêu Đội tuyển Olympic Israel
Loại hình giết người hàng loạt, thảm sát, bắt con tin
Tử vong 17 tổng số
  • 6 huấn luyện viên Israel
  • 5 vận động viên Israel
  • 5 thành viên tháng 9 Đen
  • 1 sỹ quan cảnh sát Tây Đức
Thủ phạm Tháng 9 Đen
Thảm sát Munich là tên gọi thường được gán cho vụ tấn công xảy ra tại Olympics mùa hè năm 1972Munich, Bavaria, phía nam Tây Đức, khi 11 thành viên đội tuyển Olympic Israel bị bắt làm con tin và cuối cùng bị giết hại, cùng với một sỹ quan Đức, bởi nhóm tháng Chín Đen Palestine.[3][4][5][6] Ngay sau khi cuộc khủng hoảng diễn ra, những kẻ bắt con tin đã yêu cầu thả 234 tù nhân bị giam giữ trong các nhà tù tại Israel,[7] và thả những người sáng lập (Andreas BaaderUlrike Meinhof) phái Hồng quân Đức, những người bị giam giữ trong nhà tù của Đức.[8] Tháng 9 Đen gọi chiến dịch này là "IkritBiram",[9] theo tên hai ngôi làng Thiên chúa giáo Palestine nơi những cư dân đã bị trục xuất bởi Haganah năm 1948.
Rõ ràng những kẻ tấn công đã được sự hỗ trợ hậu cần của những kẻ phát xít mới ở Đức.[10] Năm trong tám thành viên tháng 9 Đen đã bị cảnh sát tiêu diệt trong nỗ lực giải cứu. Ba tên còn sống bị bắt giữ, nhưng sau này đã được Tây Đức thả ra sau khi tháng Chín Đen cướp một chiếc máy bay chở khách của Lufthansa. Israel phản ứng với việc những tên giết người được thả bằng cách tung ra chiến dịch mùa xuân tuổi trẻchiến dịch sự phẫn nộ của Chúa trời, trong đó tình báo và các lực lượng đặc biệt của Israel đã theo dõi và tiêu diệt một cách có hệ thống những người Palestine bị nghi có liên quan tới vụ thảm sát.

Mở đầu

Ở thời điểm diễn ra vụ bắt cóc con tin, Olympics Munich năm 1972 bắt đầu đi vào tuần thứ hai. Ủy ban Tổ chức Olympic Tây Đức khuyến khích một không khí cởi mở và thân thiện bên trong Làng Olympic, để xóa đi những kỷ niệm quân phiệt về nước Đức thời chiến tranh và, đặc biệt là về Olympics Berlin năm 1936, sự kiện đã bị trùm Phát xít Adolf Hitler lợi dụng cho những mục đích tuyên truyền. Bộ phim tài liệu One Day in September cho rằng an ninh trong làng của các vận động viên được thả lỏng có chủ đích và rằng các vận động viên thường vào và ra mà không cần phải trình giấy tờ chuẩn. Nhiều vận động viên không đi qua cửa chính, mà trèo qua rào bao quanh làng.[11]
Sự vắng mặt của những nhân viên vũ trang đã làm trưởng đoàn Israel là Shmuel Lalkin lo ngại thậm chí trước khi đoàn của ông tới Munich. Trong những cuộc phỏng vấn sau này với các nhà báo Serge Groussard và Aaron Klein, Lalkin nói rằng ông cũng đã bày tỏ lo ngại với những cơ quan liên quan về nơi ở của đoàn mình. Đoàn Israel được bố trí trong một phần khá tách biệt tại Làng Olympic, tại tầng một của một tòa nhà nhỏ gần cổng, mà Lalkin thấy khiến đoàn mình rất dễ bị tấn công từ bên ngoài. Chính quyền Đức rõ ràng đã thuyết phục Lalkin rằng an ninh sẽ được cử tới để bảo vệ đoàn Israel, nhưng Lalkin nghi ngờ rằng những biện pháp an ninh tăng cường này không bao giờ được thực hiện.[11]
Những nhà tổ chức Olympic đã yêu cầu chuyên gia tâm lý tội phạm Georg Sieber đặt ra 26 tình huống khủng bố để giúp họ lập kế hoạch an ninh. "Tình huống 21" của ông đã dự báo chính xác việc những người Palestine có vũ trang xông vào nơi ở của đoàn Israel, giết người và bắt con tin, và yêu cầu Israel thả tù nhân và một máy bay để rời Đức. Những người tổ chức đã không chịu chuẩn bị cho Tình huống 21 cũng như các kịch bản khác, bởi việc tăng cường canh gác cho sự kiện có thể trái với mục tiêu "Carefree Games" mà không cần an ninh.[11][12]

Nhận thức của Đức về vụ tấn công

Tờ báo Đức Der Spiegel đã viết một câu chuyện trang đầu trong năm 2012 rằng chính quyền Đức đã nhận được một lời cảnh báo từ một nguồn tin Palestine ở Beirut ba tuần trước vụ thảm sát. Nguồn tin nói với Đức rằng người Palestine đang lập kế hoạch cho một "vụ việc" tại Olympic và Bộ ngoại giao tại Bonn coi lời cảnh báo này là đủ nghiêm trọng để chuyển nó cho cảnh sát mật tại Munich và hối thúc rằng cần thực hiện "mọi biện pháp an ninh cần thiết". Tuy nhiên, theo Der Spiegel, chính quyền đã không phản ứng trước tin này, và đã không bao giờ thừa nhận nó trong 40 năm sau đó. Tờ báo còn thêm rằng đây chỉ là một phần của vụ che giấu dài 40 năm của chính quyền Đức về việc xử lý kém trong vụ thảm sát.[13]

Bắt giữ con tin


Địa điểm nơi những con tin bị bắt giữ vẫn hầu như không thay đổi ngày nay. Cửa sổ Căn hộ 1 ở phía trái và bên dưới ban công.
Buổi tối ngày 4 thán 9, các vận động viên Israel vừa có buổi đi chơi bên ngoài, xem một cuộc trình diễn Fiddler on the Roof và ăn tối với ngôi sao trong vở diễn, nghệ sỹ người Israel Shmuel Rodensky, trước khi quay về Làng Olympic.[14] Trên chuyến xe buýt trở về, Lalkin từ chối cho phép cậu con trai 13 tuổi, vốn đã làm quen với vận động viên cử tạ Yossef Romano và đô vật Eliezer Halfin, được ở qua đêm trong căn hộ của họ — một sự từ chối vô tình có lẽ đã giúp cậu bé giữ được tính mạng.[15] Lúc 4:30 sáng giờ địa phương ngày 5 tháng 9, khi các vận động viên đang ngủ, tám thành viên tháng 9 Đen mặc quần áo trùm rộng mang theo các túi đồ đựng súng tấn công AKM, súng lục Tokarev pistols, và lựu đạn trèo qua hàng rào cao hai mét với sự giúp đỡ của những vận động viên không hề nghi ngờ họ là những kẻ đột nhập vào Làng Olympic. Các vận động viên này ban đầu bị xác định là người Mỹ, nhưng nhiều thập kỷ sau đã được xác định là người Canada.[16] Khi đã vào trong, họ dùng chìa khóa ăn trộm để vào hai tòa nhà nơi đội tuyển Israel đang ở tại 31 Connollystraße.
Yossef Gutfreund, một trọng tài môn vật, bị đánh thức bởi một âm thanh như tiếng cào nhẹ vào cánh cửa Căn hộ 1, nơi các huấn luyện viên và quan chức đoàn Israel ở. Khi tới xem, ông thấy cánh cửa bắt đầu mở và những người đàn ông đeo mặt nạ mang súng đứng phía bên kia. Ông hét lên cảnh báo cho những bạn cùng phòng và dùng thân mình nặng tới 300 lb. (135 kg) để chắn cửa trong cố gắng vô ích chặn những kẻ xâm nhập bước vào. Hành động của Gutfreund giúp người bạn cùng phòng của ông, huấn luyện viên cử tạ Tuvia Sokolovsky, có đủ thời gian đập vỡ một cánh cửa sổ và thoát ra. Huấn luyện viên vật Moshe Weinberg đánh nhau với những kẻ đột nhập. Ông bị bắn xuyên má và sau đó bị buộc phải giúp những kẻ đột nhập tìm thêm các con tin khác. Dẫn những kẻ đột nhập qua Căn hộ 2, Weinberg nói dối với họ rằng những người sống trong đó không phải người Israel. Thay vào đó, Weinberg dẫn chúng tới Căn hộ 3, nơi các tay súng bắt được sáu vận động viên vật và cử tạ khác làm con tin. Có lẽ Weinberg hy vọng rằng những vận động viên khỏe mạnh này sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc chống trả những kẻ tấn công, nhưng tất cả họ đều bị bất ngờ vì còn đang ngủ.[17]
Khi những vận động viên từ Căn hộ 3 bị đưa về căn hộ của các huấn luyện viên, Weinberg đang bị thương một lần nữa lại tấn công những tay súng, cho phép một trong những vận động viên vật, Gad Tsobari, bỏ chạy qua gara ngầm dưới đất.[18] Weinberg vạm vỡ hạ bất tỉnh một kẻ đột nhập và chém tên kia bằng một con dao gọt hoa quả trước khi bị bắn chết. Vận động viên cử tạ Yossef Romano, một cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh sáu ngày, cũng tấn công và làm bị thương một trong những kẻ đột nhập trước khi bị bắn chết.
Các tay súng còn lại với chín con tin. Gồm, ngoài Gutfreund, huấn luyện viên bắn súng Kehat Shorr, huấn luyện viên điền kinh Amitzur Shapira, trưởng bộ môn đánh kiếm Andre Spitzer, trọng tài môn cử tạ Yakov Springer, các vận động viên vật Eliezer HalfinMark Slavin, và các vận động viên cử tạ David BergerZe'ev Friedman. Berger là một người Mỹ có hai quốc tịch; Slavin, 18 tuổi con tin trẻ nhất, chỉ mới tới Israel từ Liên xô bốn tháng trước khi Olympics bắt đầu. Về thể chất Gutfreund là người to lớn nhất trong các con tin, bị trói vào một chiếc ghế (Groussard miêu tả ông bị trói giống như một xác ướp); những người còn lại được xếp thành hai hàng bốn người trên hai chiếc giường trong phòng của Springer và Shapira, và bị trói ở cổ tay và khuỷu tay rồi lại bị trói vào nhau. Thân thể bị bắn của Romano bị bỏ dưới chân các đồng đội của mình để đe dọa.
Trong số các thành viên đoàn Israel, Giáo sư Shaul Ladany môn đi bộ đã tỉnh giấc trong Căn hộ 2 bởi những tiếng thét của Gutfreund và trốn thoát bằng cách nhảy qua ban công sau đó chạy qua sân sau tòa nhà. Bốn người khác trong Căn hộ 2 (các xạ thủ Henry Hershkowitz và Zelig Stroch, và các vận động viên đấu kiếm Dan AlonYehuda Weisenstein), cùng Trưởng đoàn Shmuel Lalkin cùng hai bác sỹ, đã trốn được và sau đó chạy thoát khỏi tòa nhà. Hai thành viên nữ trong đội tuyển Olympic Israel, vận động viên chạy nước rút và vận động viên chạy vượt rào Esther Shahamorov và vận động viên bơi lội Shlomit Nir, được bố trí ở nơi khác trong Làng Olympic. Ba thành viên khác của đội tuyển Olympic Israel, hai thủy thủ và huấn luyện viên của họ trú tại Kiel, 550 dặm (900 km) từ Munich.
Những kẻ giết người sau đó thông báo chúng là một bộ phận của fedayeen Palestine từ các trại tị nạn ở Liban, Syria, và Jordan. Chúng được xác định gồm Luttif Afif (Issa), chỉ huy (ba trong các anh em của Issa được cho là các thành viên của tháng 9 Đen, hai trong số đó đang ở trong các nhà tù của Israel), phó chỉ huy Yusuf Nazzal (Tony), và các thành viên khác Afif Ahmed Hamid (Paolo), Khalid Jawad (Salah), Ahmed Chic Thaa (Abu Halla), Mohammed Safady (Badran), Adnan Al-Gashey (Denawi), và anh/em họ của hắn Jamal Al-Gashey (Samir). Theo tác giả Simon Reeve, Afif, Nazzal và một trong những kẻ đồng mưu đều đã làm việc trong nhiều cơ sở trong Làng Olympic, và đã bỏ vài tuần trinh sát mục tiêu của chúng. Một thành viên của đoàn Olympic Uruguay, cùng sống trong tòa nhà với những người Israel, tuyên bố đã thấy Nazzal bên trong 31 Connollystraße chưa tới 23 giờ trước vụ tấn công, nhưng lúc đó hắn được coi là một công nhân trong làng. Các thành viên khác trong nhóm vào Munich bằng tàu hỏa và máy bay vài ngày trước vụ tấn công. Tất cả các thành viên của đội tuyển Olympic Uruguay và Hồng Kông, cùng ở chung tòa nhà với những người Israel, được thả và không bị thương tích gì trong vụ việc.

Phản ứng quốc tế

Ngày 5 tháng 9, Golda Meir, thủ tướng Israel ở thời điểm đó, đã kêu gọi các quốc gia khác "cứu các công dân của chúng tôi và lên án những hành động tội ác kinh khủng." Vua Hussein của Jordan — lãnh đạo duy nhất của một quốc gia Ả rập công khai lên án vụ tấn công — gọi nó là một "tội ác man rợ chống lại thường dân ... do những kẻ bệnh hoạn tiến hành."[19]

Những cuộc đàm phán

Những kẻ bắt giữ con tin yêu cầu thả và cho di chuyển an toàn sang Ai Cập 234 người Palestine và người phi Ả rập đang ở trong các nhà tù của Israel, cùng với hai tên khủng bố người Đức đang bị giam giữ tại Đức, Andreas BaaderUlrike Meinhof, những người sáng lập phái Hồng quân. Những kẻ bắt giữ con tin ném thi thể Weinberg ra ngoài cửa trước để chứng minh sự kiên quyết của mình. Câu trả lời của Israel là lập tức và kiên quyết: sẽ không có đàm phán. Chính sách chính thức của Israel ở thời điểm đó là từ chối đàm phán với những kẻ khủng bố trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bởi theo chính phủ Israel những cuộc đàm phán như vậy sẽ khuyến khích các cuộc tấn công trong tương lai. Đã có thông tin rằng chính quyền Đức, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Willy Brandt và Bộ trưởng nội vụ Hans-Dietrich Genscher, từ chối đề xuất của Israel gửi một đơn vị lực lượng đặc biệt tới Đức.[20] Bộ trưởng nội vụ bang Bayern Bruno Merk, người đồng chỉ huy trung tâm khủng hoảng với Genscher và cảnh sát trưởng Munich Manfred Schreiber, bác bỏ việc có một đề xuất như vậy từ phía Israel.[21]
Theo nhà báo John K. Cooley, vụ bắt cóc con tin đặt ra một tình thế chính trị khó khăn cho người Đức bởi các con tin là người Do thái. Cooley đã thông báo rằng người Đức đã đề nghị cho người Palestine một lượng tiền không hạnh chế để họ thả các vận động viên, hoặc thay thế các con tin bằng những quan chức cao cấp người Đức. Tuy nhiên, những kẻ bắt cóc con tin từ chối cả hai đề xuất trên.[19]
Cảnh sát trưởng Munich Manfred Schreiber và Bruno Merk, Bộ trưởng nội vụ vùng Bavaria, đàm phán trực tiếp với những kẻ bắt giữ con tin, lặp lại đề xuất về một số tiền không hạn chế. Theo Cooley, câu trả lời là "tiền không có ý nghĩa gì với chúng tôi; mạng sống của chúng tôi cũng không có ý nghĩa gì." Magdi Gohary và Mohammad Khadif, cả hai đều là các cố vấn người Ai Cập tại Liên đoàn Ả rập, và A.D. Touny, một thành viên người Ai Cập thuộc Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) cũng giúp tìm cách thuyết phục những kẻ bắt cóc con tin nhượng bộ, nhưng không thành. Tuy nhiên, những nhà đàm phán rõ ràng đã thuyết phục được fedayeen rằng các yêu cầu của chúng đang được xem xét, bởi Issa đã năm lần lùi thời hạn chót. Ở những nơi khác trong làng, các vận động viên vẫn tiếp tục như bình thường, dường như không biết tới các sự kiện đang xảy ra gần đó. Cuộc thi Olympic tiếp tục diễn ra cho tới khi áp lực ngày càng tăng của IOC buộc nó ngừng lại 12 giờ sau khi vận động viên đầu tiên bị giết hại. Vận động viên marathon người Mỹ Frank Shorter, quan sát các sự kiện đang diễn ra từ căn hộ anh ta đang ở gần đó, được cho là đã nói, "Hãy tưởng tượng những con người tội nghiệp đang ở đó. Mỗi năm phút một thằng điên với súng máy lại nói, 'Giết chúng đi,' và một người nào khác lại nói, 'Không, hãy đợi thêm chút nữa.' Bạn có thể chịu đựng điều đó trong bao lâu?"[22]
Tập tin:Spitzer and Shorr.jpg
Các con tin người Israel Kehat Shorr (trái) và Andre Spitzer (phải) nói chuyện với các quan chức người Đức trong vụ khủng hoảng con tin.
Ở một thời điểm trong vụ khủng hoảng, những nhà đàm phán đã yêu cầu tiếp xúc trực tiếp với các con tin để biết rõ rằng họ vẫn còn sống. Huấn luyện viên đấu kiếm Andre Spitzer, người nói thành thạo tiếng Đức và huấn luyện viên bắn súng Kehat Shorr, thành viên cao cấp trong đoàn Israel, đã có một cuộc nói chuyện ngắn với các quan chức Đức từ cửa sổ tầng hai tòa nhà đang bị phong tỏa, với hai kẻ bắt con tin chĩa súng vào người họ. Khi Spitzer cố trả lời một câu hỏi, vị huấn luyện viên đánh bằng báng súng AK-47 trước sự chứng kiến của toàn bộ các phóng viên quốc tế và bị kéo khỏi cửa sổ. Vài phút sau, Hans-Dietrich Genscher và Walter Tröger, thị trưởng Làng Olympic, được cho phép vào các căn hộ một thời gian ngắn để nói chuyện với các con tin. Tröger nói mình rất cảm động trước thái độ đàng hoàng của những người Israel và rằng họ dường như sẽ cam chịu số mệnh.[20] Ông cũng lưu ý rằng nhiều con tin, đặc biệt là Gutfreund, cho thấy có những dấu hiệu bị tra tấn trong tay những kẻ bắt cóc, và rằng David Berger đã bị bắn vào vai trái. Khi được đội giải quyết khủng hoảng thẩm vấn, Genscher và Tröger nói rằng họ đã thấy "bốn hay năm " kẻ tấn công bên trong căn hộ. Con số đó đã được chấp nhận coi là đúng. Khi Genscher và Tröger nói chuyện với các con tin, Kehat Shorr đã nói với họ rằng những người Israel sẽ không phản đối việc bay sang một quốc gia Ả rập, với điều kiện có những biện pháp đảm bảo an ninh chặt chẽ cho họ từ phía Đức và bất kỳ quốc gia nào họ sẽ tới.
Lúc 04.30 tối, một nhóm nhỏ cảnh sát Đức được phái tới Làng Olympic. Mặc trang phục Olympic và mang theo súng máy hạng nhẹ, họ là những thành viên của cảnh sát biên phòng Đức, với kế hoạch thâm nhập theo đường ống thông gió và giết những kẻ khủng bố. Các cảnh sát vào vị trí và chờ đợi mật hiệu "Ánh nắng", và ngay khi nghe thấy nó, họ bắt đầu tấn công. Cùng lúc, những đội truyền hình quay lại những hành động của họ từ các căn hộ Đức, và phát sóng trực tiếp trên vô tuyến. Vì thế, những kẻ khủng bố đã thấy được cảnh sát chuẩn bị tấn công. Cảnh phim cho thấy một trong những kẻ bắt cóc con tin nhòm ra từ cửa ban công trong khi một trong các cảnh sát đứng trên mái chỉ cách đó chưa tới 6 foot [23]. Cuối cùng, sau khi Issa đe dọa giết hai con tin, cảnh sát rút lui khỏi tòa nhà. Lúc 6 chiều giờ Munich, những người Palestine đưa ra một tuyên bố mới, yêu cầu được đưa tới Cairo.

Giải cứu thất bại

Kế hoạch phục kích

Chính quyền đã vờ đồng ý với yêu cầu di chuyển tới Cairo, (dù Thủ tướng Ai Cập Aziz Sedki đã nói với chính quyền Đức rằng người Ai Cập không muốn dính dáng tới vụ khủng hoảng con tin),[24] và vào lúc 10:10 tối một chiếc xe buýt cho các con tin và những kẻ khủng bố từ 31 Connollystraße tới hai chiếc trực thăng quân sự Bell UH-1, để chuyển họ tới Fürstenfeldbruck, một căn cứ không quân của NATO gần đó. Ban đầu, kế hoạch của những kẻ khủng bố là đi tới Riem, sân bay quốc tế gần Munich, nhưng những nhà đàm phán thuyết phục chúng rằng đi tới Fürstenfeldbruck sẽ dễ dàng hơn. Những người giải cứu con tin, đi trước các con tin và bọn khủng bố tháng 9 Đen trong một trực thăng khác, đã có một động thái bí mật: họ bố trí một đội tấn công vũ trang tại sân bay.
Năm tay súng bắn tỉa Đức được lựa chọn để phục kích những kẻ bắt cóc con tin đã được chọn bởi họ đã có kết quả tốt trong cuộc cạnh tranh vào cuối tuần.[25] Trong một cuộc điều tra sau đó của Đức, một sỹ quan được gọi là "Tay súng số 2" đã nói: "Theo ý tôi, tôi không phải là một thiện xạ."[26] Năm tay súng bắn tỉa được bố trí quanh sân bay — ba trên mái tháp điều khiển, một nấp sau xe tải dịch vụ và một sau một tháp tín hiệu nhỏ ngang tầm mặt đất — nhưng không ai trong số họ từng được huấn luyện đặc biệt. Các thành viên đội giải quyết khủng hoảng — Schreiber, Genscher, Merk và người phó của Schreiber là Georg Wolf — chỉ huy và quan sát nỗ lực giải cứu từ tháp điều khiển sân bay. Cooley, Reeve và Groussard và lãnh đạo Mossad Zvi Zamir và Victor Cohen, một trong các trợ lý cấp cao của Zamir cũng có mặt, nhưng chỉ ở vị trí quan sát. Zamir đã nhắc đi nhắc lại trong những cuộc phỏng vấn sau đó rằng ông chưa từng được người Đức tư vấn vào bất kỳ lúc nào trong nỗ lực giải cứu và rằng ông nghĩ sự có mặt của mình chỉ làm những người Đức cảm thấy không thoải mái.
Một chiếc phản lực Boeing 727 đậu trên đường băng với năm hay sáu cảnh sát vũ trang Đức ăn mặc như những thành viên phi hành đoàn. Hai bên thỏa thuận rằng Issa và Tony sẽ kiểm tra máy bay. Kế hoạch là người Đức sẽ ra tay khi chúng lên máy bay, giúp cho những tay súng bắn tỉa có cơ hội giết những kẻ khủng bố còn lại tại các máy bay trực thăng. Những kẻ còn lại được cho sẽ chỉ gồm hai hay ba tên, theo những điều mà Genscher và Tröger đx quan sát thấy bên trong 31 Connollystraße. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển từ xe buýt sang trực thăng, đội giải quyết khủng hoảng thấy thực tế chúng có tám tên.

Thất bại

Vào phút cuối cùng, khi các máy bay đang tới Fürstenfeldbruck, cảnh sát Đức trên máy bay đồng ý hủy bỏ sứ mệnh, mà không tư vấn với trung tâm chỉ huy. Điều này khiến chỉ có năm tay súng bắn tỉa phải trấn áp số lượng khủng bố lớn hơn và được vũ trang mạnh hơn. Vào thời điểm đó, Đại tá Ulrich Wegener, trợ lý cao cấp của Genscher và sau này là người thành lập đơn vị chống khủng bố chuyên nghiệp của Đức GSG 9, nói "Tôi chắc rằng nó sẽ làm nổ tung cả vụ!"[20]
Các máy bay trực thăng hạ cánh ngay sau 10:30 tối và bốn phi công cùng sáu tên bắt cóc xuất hiện. Trong khi bốn tên khủng bố tháng 9 Đen chĩa súng vào các phi công (phá vỡ lời hứa trước đó rằng chúng sẽ không bắt con tin Đức nào), Issa và Tony đi kiểm tra chiếc máy bay, và thấy nó trống rỗng. Nhận ra mình bị lừa vào tròng, chúng chạy lại phía các máy bay trực thăng. Khi chúng chạy qua tháp không lưu, Tay súng số 3 có cơ hội cuối cùng và hạ Issa, khiến nhóm khủng bố không còn kẻ chỉ huy. Tuy nhiên, vì ánh sáng kém, anh ta khó thấy mục tiêu và bắn trượt vào bắp đùi của Tony. Cùng lúc đó, chính quyền Đức ra lệnh cho các tay súng bắn tỉa xung quanh nổ súng, sự việc diễn ra khoảng lúc 11:00 tối.
Trong tình trạng hỗn loạn sau đó, hai trong những kẻ khủng bố (Ahmed Chic Thaa và Afif Ahmed Hamid) đang giữ các phi công trực thăng bị bắn hạ, và các tay súng còn lại (một hay hai tên trong số đó có thể đã bị thương) trườn tới nơi an toàn, bắn trả từ phía sau và bên dưới chiếc trực thăng, ngoài tầm bắn của các tay súng bắn tỉa, bắn hỏng nhiều bóng đèn ở sân bay. Một cảnh sát Đức tại tháp điều khiển, Anton Fliegerbauer, thiệt mạng. Các phi công trực thăng bỏ chạy: các con tin, bị trói bên trong máy bay không thể thoát ra. Trong cuộc đấu súng, các con tin đã tìm cách nới lỏng dây trói và người ta đã thấy các vết răng trên một số dây trói sau khi cuộc đấu súng chấm dứt.[24]

Thảm sát

Người Đức không bố trí các xe bọc thép chở quân từ trước và tới lúc đó họ mới gọi xe để phá vỡ tình huống bế tắc. Bởi các con đường tới sân bay chưa được giải tỏa, các xe bọc thép bị tắc đường và cuối cùng tới được sau nửa đêm. Khi chúng xuất hiện, những kẻ bắt cóc con tin cảm thấy tình huống đang xấu đi cho chúng, và có thể đã sợ hãi với ý nghĩ chiến dịch đã không thành công. Bốn phút sau nửa đêm ngày 6 tháng 9, một trong số chúng (có lẽ là Issa) quay về phía các con tin ở chiếc trực thăng phía đông và bắn thẳng vào họ bằng súng AK. Springer, Halfin và Friedman bị bắn chết lập tức; Berger, bị dính hai viên đạn vào chân, được cho là còn sống sau vụ tấn công lần đầu (bởi việc mổ tử thi sau này cho thấy ông bị chết vì ngạt khói). Những kẻ tấn công sau đó rút chốt một quả lựu đạn và ném nó vào buồng lái; vụ nổ sau đó đã phá hủy chiếc trực thăng và thiêu cháy những người Israel bị trói bên trong.
Sau đó Issa chạy qua đường băng và bắt đầu bắn vào cảnh sát, họ bắn trả và giết chết hắn. Một tên khác, Khalid Jawad, tìm cách chạy trốn và bị một tay súng bắn tỉa khác bắn hạ. Điều xảy ra với các con tin còn lại vẫn còn bị tranh cãi. Một cuộc điều tra của cảnh sát Đức cho thấy một trong những tay súng bắn tỉa và vài con tin có thể đã bị bắn bởi cảnh sát. Tuy nhiên, một cuộc tái hiện bản báo cáo của công tố viên Bavaria bị ngăn chặn từ lâu của tạp chí Time Magazine cho thấy một tên khủng bố thứ ba (Reeve xác định là Adnan Al-Gashey) đứng ở cửa chiếc trực thăng phía tây và đã dùng súng máy bắn cả năm con tin còn lại; Gutfreund, Shorr, Slavin, Spitzer và Shapira bị bắn trung bình bốn lần mỗi người.[24][25] Trong các con tin ở chiếc trực thăng phía đông, chỉ thi thể Ze'ev Friedman là khá nguyên vẹn; ông bị vụ nổ đẩy bắn ra ngoài chiếc trực thăng. Trong một số trường hợp, rất khó xác định nguyên nhân chính xác của cái chết của các con tin ở chiếc trực thăng phía đông bởi phần còn lại của thi thể đã bị đốt cháy tới mức khó nhận dạng trong vụ nổ và vụ cháy diễn ra sau đó.
Ba tên khủng bố còn lại nằm trên mặt đất, một trong số chúng giả chết, và đã bị cảnh sát bắt giữ. Jamal Al-Gashey đã bị bắn vào cổ tay phải,[20] và Mohammed Safady bị thương ở chân.[24] Adnan Al-Gashey hoàn toàn không bị thương. Tony bỏ chạy khỏi đó nhưng đã bị những chú chó cảnh sát phát hiện 40 phút sau trong khu đỗ xe của sân bay. Bị bao vây và tấn công bằng hơi cay, hắn bị bắn chết sau một trận đấu súng ngắn. Tới khoảng 1:30 sáng vụ việc kết thúc.

Hậu quả

Những tin tức báo cáo ban đầu, được truyền đi khắp thế giới, nói rằng các con tin còn sống, và rằng tất cả những kẻ khủng bố đã bị tiêu diệt. Chỉ sau đó một đại diện của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) cho rằng "những báo cáo ban đầu quá lạc quan." Jim McKay, đang đưa tin về Olympics năm đó cho ABC, đã nhận việc đưa tin về các sự kiện khi Roone Arledge đưa anh ta tai nghe của mình. Lúc 3:24 sáng, McKay nhận được xác nhận chính thức:
Chúng tôi đã nhận được những tuyên bố cuối cùng ... các bạn biết không, khi tôi còn là một đứa trẻ, cha tôi thường nói "Những hy vọng lớn nhất của chúng ta và những nỗi sợ lớn nhất của chúng ta hiếm khi xảy ra." Nỗi sợ hãi lớn nhất của chúng ta đã diễn ra ngày hôm nay. Bây giờ họ nói rằng có 11 con tin. Hai người thiệt mạng trong phòng buổi sáng hôm qua, chín người bị giết ở sân bay tối nay. Tất cả họ đều thiệt mạng.[27]

Chỉ trích

Tác giả Simon Reeve, cùng những người khác, viết rằng vụ đấu súng với những thành viên tháng 9 Đen được huấn luyện tốt đã cho thấy sự thiếu chuẩn bị nghiêm trọng từ phía chính quyền Đức. Họ không được chuẩn bị để đối đầu với kiểu tình huống như vậy. Bài học đắt giá này đã trực tiếp dẫn tới việc thành lập, trong chưa tới hai tháng sau đó, lực lượng cảnh sát chống khủng bố GSG 9.
Các tác giả cho rằng chính quyền Đức đã phạm một số sai lầm. Đầu tiên, bởi những giới hạn do hiến pháp Tây Đức thời hậu chiến, quân đội không được tham gia vào các nỗ lực giải cứu, bởi các lực lượng vũ trang Đức không được phép hoạt động bên trong nước Đức vào thời bình. Trách nhiệm hoàn toàn nằm trong tay cảnh sát Munich và chính quyền bang Bavaria.[28][cần giải thích]]]
Nửa giờ trước khi các con tin và những kẻ bắt giữ tới Fürstenfeldbruck mọi người đã biết số lượng chúng lớn hơn con số ước tính ban đầu. Dù có thông tin mới này, Schreiber vẫn quyết định thực hiện chiến dịch giải cứu như kế hoạch ban đầu và thông tin đó không được báo cho các tay súng bắn tỉa bởi họ không có liên lạc bộ đàm.[29] Một yêu cầu cơ bản của các chiến dịch bắn tỉa là phải có đủ tay súng (ít nhất hai cho mỗi mục tiêu đã biết, hay như trong trường hợp này tối thiểu là mười) được triển khai để vô hiệu hóa càng nhiều càng tốt những kẻ tấn công ngay từ loạt đạn đầu.[30] Tập phim Seconds From Disaster năm 2006 của National Geographic Channel về vụ thảm sát nói rằng các máy bay trực thăng được cho là sẽ đỗ ngang và ở phía tây tháp điều khiển, một cách bố trí sẽ cho phép các tay súng bắn tỉa tầm ngắm rộng khi những kẻ bắt cóc con tin mở cửa trực thăng. Nhưng, các máy bay này lại đỗ đối diện với tháp điều khiển và ở giữa sân bay. Việc này không chỉ giúp những kẻ khủng bố có chỗ nấp sau khi cuộc đấu súng bắt đầu, mà còn khiến Tay súng 1 và 2 nằm trong tầm bắn của ba tay súng bắn tỉa kia trên tháp điều khiển. Hai tay súng bắn tỉa đã không có cơ hội bắn tốt vì vị trí đỗ của những chiếc trực thăng, khiến chỉ còn ba tay súng chống lại tám tên khủng bố được trang bị tốt.
Cũng theo chương trình này, ủy ban giải quyết khủng hoảng quyết định cách thức xử lý vụ việc gồm Bruno Merk (Bộ trưởng nội vụ bang Bavaria), Hans-Dietrich Genscher (Bộ trưởng nội vụ Tây Đức) và Manfred Schreiber (Cảnh sát trưởng Munich); nói cách khác, gồm hai chính trị gia và một chiến thuật gia. Chương trình nói rằng một năm trước Olympics, Schreiber đã tham gia vào việc giải quyết một cuộc khủng hoảng con tin khác (một vụ cướp nhà băng không thành) trong đó ông ta đã ra lệnh một người mang mặt nã bắn một thủ phạm, nhưng hắn chỉ bị thương. Vì thế, những tên cướp đã bắn chết một phụ nữ vô tội và Schreiber đã bị kết tội giết người không chủ đích. Một cuộc điều tra sau đó đã kết luận ông không mắc sai lầm nào, nhưng chương trình cho rằng vụ việc trước đó đã ảnh hưởng tới những quyết định của ông ở cuộc khủng hoảng con tin tại Olympic sau đó.
Như đã được đề cập ở trên, năm tay súng bắn tỉa Đức tại Fürstenfeldbruck không liên hệ radio với nhau (cũng không có liên hệ với trung tâm chiến dịch giải cứu) và vì thế không thể phối hợp hành động. Tiếp xúc duy nhất của những tay súng bắn tỉa với chỉ huy chiến dịch là qua Georg Wolf, người nằm bên cạnh ba tay súng bắn tỉa trên tháp không lưu với những mệnh lệnh trực tiếp cho họ.[31] Hai tay súng nằm dưới mặt đất đã nhận được những mệnh lệnh mơ hồ để nổ súng khi những tay súng khác bắt đầu bắn, và nói chung chỉ tự lo liệu được cho họ.[32]
Ngoài ra, các tay súng bắn tỉa không có trang bị thích hợp cho chiến dịch giải cứu như kiểu này. Các khẩu súng tấn công Heckler & Koch G3 được sử dụng bị nhiều chuyên gia coi là không đủ khoảng cách hoạt động cho tầm bắn của các tay súng. G3, súng tiêu chuẩn của Bundeswehr ở thời điểm đó có nòng súng 20 inch (510 mm); ở các khoảng cách các tay súng phải bắn, nòng súng đảm bảo chính xác phải là 27 inch (690 mm).[33] Không tay súng bắn tỉa nào được trang bị ống ngắm hồng ngoại hay ống ngắm xa.[34] Ngoài ra, không ai được trang bị mũ sắt hay áo chống đạn.[34] Không có xe bọc thép nào tại Fürstenfeldbruck, và chúng chỉ được gọi tới sau khi vụ đấu súng đã diễn ra.[35]
Cũng có rất nhiều sai lầm về chiến thuật. Như đã đề cập ở trên, "Tay súng số 2", nằm phía sau tháp tín hiệu, thẳng với đường bắn của các đồng đội trên tháp điều khiển, mà không có thiết bị bảo vệ và các cảnh sát khác cũng không biết về vị trí của anh ta.[34] Vì thế, "Tay súng số 2" đã không bắn một phát nào cho tới gần cuối cuộc đấu súng, khi kẻ bắt con tin Khalid Jawad tìm cách bỏ chạy bộ qua trước anh ta. "Tay súng số 2" đã tiêu diệt tên này nhưng lại bị thương nặng bởi đạn từ một cảnh sát, người không hề biết rằng mình đang nổ súng vào đồng đội. Một trong các phi công trực thăng, Gunnar Ebel, nằm cạnh "Tay súng số 2" và cũng bị thương do hỏa lực thân thiện. Cả Ebel và tay súng bắn tỉa đều bình phục.[36]
Không sỹ quan cảnh sát nào được giao đóng giả phi hành đoàn chiếc Boeing 727 bị truy tố hay khiển trách vì bỏ vị trí. Nhiều sỹ quan cảnh sát và biên phòng được tiếp xúc phỏng vấn bởi đội phóng viên thực hiện chương trình One Day in September đã bị đe dọa sẽ mất các chế độ hưu trí nếu nói chuyện với đoàn làm phim. Nhiều sai lầm của người Đức trong chiến dịch giải cứu sau này đã được Heinz Hohensinn liệt kê chi tiết, ông đã tham gia vào chiến dịch, nhưng nghỉ hưu sớm và không có chế độ hưu trí gì để mất.[37]

Hậu quả

Thi thể của năm kẻ sát nhân người Palestine — Afif, Nazzal, Chic Thaa, Hamid và Jawad — bị giết trong trận đấu súng tại Fürstenfeldbruck được chuyển về Lybia, nơi họ được tổ chức tang lễ như những anh hùng và được chôn cất với đầy đủ các nghi lễ danh dự của quân đội. Ngày 8 tháng 9, các máy bay của Israel đã đánh bom mười trại của PLO tại Syria và Liban để trả đũa cho vụ thảm sát. Tới 200 người đã bị thiệt mạng.
Ngày 29 tháng 19, những kẻ không tặc một chiếc máy bay phản lực chở khách của hãng Lufthansa Tây Đức đã yêu cầu thả ba tay súng còn sống sót, những kẻ bị bắt giữ sau vụ đấu súng tại Fürstenfeldbruck và đang bị giam giữ chờ xét xử. Safady và hai anh em Al-Gashey lập tức được Tây Đức thả, và được chào đón ầm ỹ khi về tới Libya và (như trong phim One Day in September) và kể lại chi tiết về chiến dịch của mình tại một cuộc họp báo được truyền đi khắp thế giới.
Vụ thảm sát đã lập tức khiến nhiều quốc gia châu Âu thành lập các lực lượng chống khủng bố chuyên nghiệp và thường trực, hay tổ chức lại những đơn vị đã có cho mục đích đó. Vụ thảm sát cũng khiến các công ty thiết kế và sản xuất vũ khí tạo ra những kiểu vũ khí mới thích hợp hơn cho mục đích chống khủng bố.

Ảnh hưởng tới sự kiện

Ngay sau vụ bắt giữ con tin, cuộc thi đấu lần đầu tiên bị ngừng lại trong lịch sử Olympic hiện đại. Ngày 6 tháng 10, một cuộc tưởng niệm với sự tham dự của 80,000 người cùng 3,000 vận động viên đã được tổ chức tại Olympic Stadium. Chủ tịch IOC Avery Brundage không hề đề cập tới các vận động viên đã bị giết hại trong một bài phát biểu ca ngợi sức mạnh của phong trào Olympic và so sánh vụ tấn công vào các vận động viên Israel với những tranh cãi mới diễn ra về sự vi phạm vào tính chuyên nghiệp và việc không cho phép Rhodesia tham gia Olympic khiến thính giả la ó.[26]Bản mẫu:Not in citation given Gia đình các nạn nhân có các đại diện gồm vợ góa của Andre Spitzer là Ankie, mẹ của Moshe Weinberg và một người anh/em họ của Weinberg, Carmel Eliash. Trong buổi lễ tưởng niệm, Eliash đã ngã khụy và chết vì bệnh tim.[38]
Nhiều người trong số 80,000 người trong Olympic Stadium chờ đợi theo dõi trận bóng đá giữa Tây ĐứcHungary mang theo nhiều vật dụng ầm ỹ và vẫy cờ, nhưng khi nhiều khán giả giăng biểu ngữ có dòng chữ "17 cái chết, đã lãng quên sao?" các nhân viên an ninh đã thu biểu ngữ và trục xuất những người mang nó ra khỏi sân.[39] Trong buổi lễ tưởng niệm, lá cờ Olympic được treo rủ, cùng với những lá cờ của hầu hết các quốc gia tham dự theo yêu cầu của Willy Brandt. Mười quốc gia Ả rập từ chối hạ cờ để vinh danh những người Israel đã bị giết hại; những lá cờ của họ được đưa về vị trí cũ hầu như ngay lập tức.[40]
Willi Daume, chủ tịch ủy ban tổ chức Munich, ban đầu tìm cách hủy bỏ phần còn lại của Olympic, nhưng vào buổi chiều Brundage và những người khác muốn sự kiện được tiếp tục đã thắng thế, nói rằng họ không thể để vụ việc cản trở Olympic.[39] Brundage tuyên bố "Olympic phải tiếp tục, và chúng ta phải làm như vậy ... và chúng ta phải tiếp tục những nỗ lực của mình nhằm giữ nó trong sạch, tinh khiết và chân thật."[41] Quyết định này được chính phủ Israel và trưởng đoàn Olympic Israel Shmuel Lalkin đồng ý.[42]
Ngày 6 tháng 9, sau lễ tưởng niệm, các thành viên còn lại của đội tuyển Israel rút khỏi Olympic và rời Munich. Tất cả các vận động viên người Do thái đều được bảo vệ chặt chẽ. Mark Spitz, ngôi sao bơi lội người Mỹ đã hoàn thành các cuộc thi của mình, rời Munich trong vụ khủng hoảng con tin (mọi người sợ rằng vì là một người Do thái nổi tiếng, Spitz có thể trở thành mục tiêu bắt cóc). Đội tuyển Ai Cập rời Olympic ngày 7 tháng 9, tuyên bố rằng họ sợ bị trả đũa.[43] Các đội tuyển PhilippineAlgeria cũng rời khỏi Olympic, tương tự là một số thành viên của đội tuyển Hà Lan và Na Uy. Vận động viên chạy marathon người Mỹ Kenny Moore, người đã tường thuật về vụ việc cho Sports Illustrated, đã trích dẫn lời vận động viên chạy người Hà Lan Jos Hermens nói "Khá là đơn giản. Chúng ta đã được mời tới một bữa tiệc, và nếu ai đó đến bữa tiệc và bắn mọi người, làm sao bạn có thể ở lại?"[44] Nhiều vận động viên, bàng hoàng trước thảm kịch, cũng cảm thấy nhiệt tình thi đấu đã biến mất, dù vẫn ở lại.
Bốn năm sau tại Olympics mùa hè năm 1976Montreal, đội tuyển Israel đã tưởng niệm vụ thảm sát: khi đi vào sân vận động ở lễ khai mạc, lá cờ quốc gia Israel đã được treo một dải băng đen.
Gia đình của một số nạn nhân đã yêu cầu IOC thành lập một lễ tưởng niệm thường trực cho các vận động viên. IOC đã từ chối, nói rằng việc ám chỉ trực tiếp tới các nạn nhân có thể "khiến các thành viên khác của cộng đồng Olympic cảm thấy xa lãnh," theo BBC.[45] Alex Gilady, motọ quan chức IOC người Israel, đã nói với BBC: "Chúng ta phải xem xét việc đó sẽ ảnh hưởng thế nào tới các thành viên của các đoàn có thái độ thù địch với Israel." IOC đã từ chối một chiến dịch quốc tế ủng hộ cho một phút im lặng tại lễ khai mạc Olympics London năm 2012 để vinh danh các nạn nhân Israel nhân kỷ niệm bốn mươi năm ngày diễn ra vụ thảm sát.[46][47]
Có một đài tưởng niệm bên ngoài sân vận động Olympic tại Munich dưới hình thức một tấm bảng đá tại cây cầu nối sân vận động với làng Olympic cũ. Cũng có một tấm bảng tưởng niệm những nạn nhân bên ngoài cửa trước nơi ở cũ của họ tại 31 Connollystraße. Ngày 15 tháng 10 năm 1999 (gần một năm trước Olympics Sydney năm 2000), một tấm bảng tưởng niệm được khai trương tại một trong những tháp đèn lớn nhất (Tháp 14) bên ngoài sân vận động Olympic Sydney.[48][49]

Trả đũa của Israel

Golda Meir và Ủy bản Quốc phòng Israel đã ra lệnh cho Mossad truy tìm và tiêu diệt những người bị cho là chịu trách nhiệm về vụ thảm sát Munich,[50] một tuyên bố đã bị Zvi Zamir, người miêu tả phi vụ như là "chấm dứt kiểu khủng bố đã xảy ra" (tại châu Âu), bác bỏ.[51] Để thực hiện điều này Mossad đã lập ra một số đội đặc biệt để định vị và tiêu diệt các fedayeen đó, với sự hỗ trợ của các văn phòng của tổ chức này tại châu Âu.[43]
Trong một cuộc phỏng vấn tháng 2 năm 2006,[51] cựu lãnh đạo Mossad Zvi Zamir đã trả lời các câu hỏi trực tiếp:
Liệu không có yếu tố trả thù trong quyết định đưa ra hành động chống lại những kẻ khủng bố?
"Không. Chúng tôi không thực hiện hành động trả thù. Chúng tôi đã bị buộc tội hành động theo ham muốn báo thù. Điều đó vô nghĩa. Điều chúng tôi đã làm là để ngăn chặn một cách chắc chắn (hành động tương tự) trong tương lai. Chúng tôi hành động chống lại những kẻ cho rằng họ có thể tiếp tục thực hiện các hành động khủng bố. Tôi không nói rằng những kẻ có liên quan tới vụ thảm sát Munich không đáng chết. Chúng hoàn toàn đáng chết. Nhưng chúng tôi không làm việc với quá khứ; chúng tôi tập trung vào tương lai."
Ông đã không nhận được một chỉ đạo trực tiếp từ Golda Meir trong thời gian đó về việc 'trả thù những kẻ chịu trách nhiệm vụ Munich?
"Golda ghê tởm sự cần thiết khiến chúng tôi phải tiến hành những chiến dịch đó. Golda không bao giờ nói với tôi ‘thực hiện trả thù những kẻ chịu trách nhiệm vụ Munich.’ Không ai nói với tôi điều đó."[51]
Phi vụ của Israel sau này được gọi là Chiến dịch sự phẫn nộ của Chúa trời hay Mivtza Za'am Ha'El.[20] Reeve trích dẫn lời Tướng Aharon Yariv — người, ông viết, là người chỉ đạo chung của chiến dịch — nói rằng sau vụ Munich chính phủ Israel cảm thấy họ không có lựa chọn nào khác mà chỉ đòi hỏi công lý.
Chúng tôi không có lựa chọn. Chúng tôi phải khiến chúng dừng lại, và không có con đường nào khác  ... chúng tôi không cảm thấy tự hào về nó. Nhưng đó là một câu hỏi về tính cần thiết tuyệt đối. Chúng tôi quay trở lại với nguyên tắc của cựu ước một mắt đổi một mắt  ... Tôi tiếp cận những vấn đề đó không chỉ từ một quan điểm đạo đức, mà, có thể là khắc nghiệt, từ một quan điểm về chi phí và lợi ích. Nếu tôi là một người rất cứng đầu, tôi có thể nói vậy, lợi ích chính trị nào sẽ có được từ việc giết người này? Liệu nó có mang hòa bình tới gần hơn cho chúng tôi không? Liệu nó sẽ giúp chúng tôi hiểu hơn về người Palestine hay không? Trong hầu hết trường hợp tôi không nghĩ câu trả lời là có. Nhưng trong trường hợp Tháng 9 Đen chúng tôi không có lựa chọn nào khác và nó đã có tác dụng. Nó chấp nhận được về mặt đạo đức không ư? Một người có thể tranh cãi về vấn đề đó. Nó có quan trọng về chính trị không? Có.[20]
Benny Morris viết rằng một danh sách mục tiêu đã được lập ra từ các thông tin có được từ những nhân vật PLO "quay đầu" và các cơ quan tình báo đồng minh ở châu Âu. Khi danh sách đã xong, một làn sóng những vụ ám sát nhằm vào các nhân vật Tháng 9 Đen bị tình nghi bắt đầu trên khắp châu Âu.
Ngày 9 tháng 4 năm 1973, Israel tung ra Chiến dịch mùa xuân tuổi trẻ, một chiến dịch kết hợp giữa Mossad và IDF tại Beirut. Các mục tiêu gồm Mohammad Yusuf al-Najjar (Abu Yusuf), lãnh đạo nhánh tình báo của Fatah, điều hành Tháng 9 Đen, theo Morris; Kamal Adwan, người lãnh đạo cái gọi là Khu vực phía Tây của PLO, điều hành hoạt động của PLO bên trong Israel; và Kamal Nassir, người phát ngôn của PLO. Một nhóm biệt kích Sayeret được đưa lên 9 tàu tên lửa và một hạm đội nhỏ tàu tuần tra tới một bãi biển vắng người tại Liban, trước khi được đưa bằng hai chiếc xe vào khu trung tâm Beirut, nơi họ tiêu diệt Najjar, Adwan và Nassir. Hai nhóm lính biệt kích khác làm nổ tung trụ sở của PFLP tại Beirut và một xưởng chế tạo bom của Fatah. Lãnh đạo nhóm biệt kích tiến hành các chiến dịch đó là Ehud Barak.
Ngày 21 tháng 7 năm 1973, trong cái gọi là vụ Lillehammer, một đội điệp viên Mossad đã giết nhầm Ahmed Bouchiki, một người Ma rốc không liên quan tới vụ tấn công ở Munich, tại Lillehammer, Na Uy,[52] sau khi một nguồn tin thông báo nhầm Bouchiki là Ali Hassan Salameh, lãnh đạo Force 17 và là một lãnh đạo của Tháng 9 Đen. Năm điệp viên Mossad, gồm hai nữ, bị chính quyền Na Uy bắt giữ, trong khi những người khác đào thoát thành công.[50] Năm người bị kết tội giết người và bị tống giam, nhưng đã được thả và cho quay về Israel năm 1975. Sau này Mossad phát hiện Ali Hassan Salameh tại Beirut và giết ông ta ngày 22 tháng 1 năm 1979 bằng một vụ đánh bom xe điều khiển từ xa. Vụ tấn công làm thiệt mạng bốn người đi ngang qua và làm bị thương 18 người khác.[53] Theo sỹ quan CIA Duane "Dewey" Claridge, lãnh đạo chiến dịch của Phái bộ cận Đông CIA từ năm 1975 tới năm 1978, vào giữa năm 1976, Salameh đã đề nghị giúp đỡ và bảo vệ người Mỹ với lời đảm bảo của Arafat trong vụ rút đại sứ quán Mỹ khỏi Beirut để tránh tình trạng hỗn loạn ngày càng tăng trong cuộc nội chiến Liban. Có một cảm giác chung rằng không thể tin cậy người Mỹ. Tuy nhiên, tình trạng hợp tác bất thần chấm dứt sau vụ ám sát Salameh. Người Mỹ nói chung bị lên án là bên trợ giúp chính cho Israel.[54]
Simon Reeve viết rằng các chiến dịch của Israel còn tiếp tục trong hơn 20 năm nữa. Ông liệt kê các vụ ám sát tại Paris năm 1992 nhằm vào Atef Bseiso, lãnh đạo tình báo của PLO, và nói rằng một vị tướng Israel đã xác nhận có một sự liên quan tới vụ Munich. Reeve cũng viết rằng tuy các quan chức Israel đã phát biểu Chiến dịch sự phẫn nộ của Chúa trời được dự định là sự trả thù chính xác cho những gia đình các vận động viên thiệt mạng trong vụ Munich, "ít người thân của họ muốn một sự bạo lực như thế với những người Palestine." Reeve nói rằng thay vào đó các gia đình nạn nhân muốn biết sự thực những sự kiện bao quanh vụ khủng bố Munich. Reeve vạch ra những điều ông ta coi là một sự che đậy từ lâu của chính quyền Đức nhằm dấu đi sự thực.[20] Sau 20 năm đấu tranh với chính quyền Đức, các gia đình nạn nhân, dẫn đầu là Ankie Spitzer và Ilana Romano (hai góa phụ của huấn luyện viên đấu kiếm Andre và vận động viên cử tạ Yossef), đã yêu cầu những tài liệu chính thức chứng minh mức độ của sự che giấu.[cần dẫn nguồn] Sau một cuộc chiến pháp lý dài dằng dẵng, năm 2004 các gia đình nạn nhân vụ Munich đã đạt được một thỏa thuận dàn xếp trị giá €3 triệu với chính phủ Đức.

Nghi ngờ về sự che giấu của Đức

Một bài báo trang nhất của tạp chí Đức Der Spiegel đa thông báo rằng đa số thông tin liên quan tới việc xử lý kém vụ thảm sát đã bị chính quyền Đức che giấu trong những thập kỷ qua. Trong 20 năm, Đức đã từ chối đưa ra bất kỳ thông tin nào về vụ tấn công và đã không nhận trách nhiệm vụ việc. Tờ tạp chí cho biết rằng chính phủ đã che giấu 3,808 hồ sơ, với hàng chục nghìn tài liệu. Der Spiegel nói họ có được những bản báo cáo mật của chính quyền, các điện tín của sứ quán, và nhiều biên bản cuộc họp nội các cho thấy sự kém chuyên nghiệp của các quan chức Đức trong việc xử lý vụ thảm sát. Tờ báo cũng viết rằng chính quyền Đức đã được thông báo rằng người Palestine đã đang lên kế hoạch một "vụ việc" tại Olympics ba tuần trước khi vụ thảm sát xảy ra nhưng đã không thực hiện những biện pháp an ninh cần thiết, và những sự thực đó đã bị che giấu khỏi các tài liệu chính thức của chính phủ Đức.[13][55][56][57]
Tháng 8 năm 2012, Der Spiegel thông báo rằng sau vụ thảm sát, Đức bắt đầu các cuộc gặp bí mật với Tháng 9 Đen, với chỉ thị của chính phủ Đức, vì e ngại rằng Tháng 9 Đen có thể tiến hành những vụ tấn công khủng bố khác tại Đức. Chính phủ đã đề xuất một cuộc gặp bí mật giữa Ngoại trưởng Đức Walter Scheel và một thành viên của Tháng 9 Đen để tạo ra một "cơ sở tin cậy mới." Đổi lại với một vị thế chính trị cho Tổ chức Giải phóng Palestine, PLO sẽ ngừng các vụ tấn công khủng bố trên lãnh thổ Đức. Khi cảnh sát Pháp bắt giữ Abu Daoud, một trong những kẻ tổ chức hàng đầu của vụ thảm sát Munich và yêu cầu dẫn độ hắn về Đức, bộ trưởng tư pháp Đức Alfred Seidl đã đề xuất Đức không nên đưa ra hành động nào, khiến Pháp phải thả Abu Daoud và chế độ Assad đã cho hắn cư trú tới khi chết trong một bệnh viện tại Damascus năm 2010.[58]

Những tay súng còn sống sót

Hai trong ba tay súng còn sống sót, Mohammed Safady và Adnan Al-Gashey, được cho là đã bị Mossad tiêu diệt như một phần của Chiến dịch sự phẫn nộ của Chúa trời. Al-Gashey được cho là đã bị định vị sau khi liên hệ với một người anh/em họ tại một quốc gia vùng Vịnh, và Safady đã bị phát hiện vì vẫn giữ liên hệ với gia đình tại Liban.[59] Lời tường thuật này đã bị nghi ngờ trong một cuốn sách của Aaron Klein, người cho rằng Al-Gashey đã chết vì bệnh tim trong thập kỷ 1970, và rằng Safady hoặc bị những người Phalangists Thiên chúa giáo giết tại Liban trong những năm đầu thập kỷ 1980, hoặc, theo một quan chức PLO thân cận với Safady, vẫn còn sống (ở thời điểm năm 2005).[25][60]

Jamal Al-Gashey

Một quan điểm được nhiều người chấp nhận là Jamal Al-Gashey là tay súng duy nhất còn sống sót, ở thời điểm năm 2012, trốn tránh tại Bắc Phi hay tại Syria, vì vẫn sợ bị Israel báo thù. Ông ta là tay súng còn sống duy nhất đồng ý tham gia phỏng vấn từ năm 1972, và đã thực hiện một cuộc phỏng vấn năm 1992 với một tờ báo Palestine, và đã xuất hiện một thời gian ngắn năm 1999 để tham gia vào cuộc phỏng vấn cho bộ phim One Day in September, trong đó ông cải trang và khuôn mặt bị làm mờ.[61]

Abu Daoud

Trong số những người bị nghi ngờ tham gia lên kế hoạch vụ thảm sát, chỉ Abu Daoud, người tuyên bố vụ thảm sát là ý tưởng của mình, được biết đã chết vì những lý do tự nhiên. Những tài liệu lịch sử được mật vụ Đức cung cấp cho Der Spiegel cho thấy rằng cảnh sát Dortmund đã biết về sự hợp tác giữa Abu Daoud và nhật vật Phát xít mới Willi Pohl bảy tuần trước vụ tấn công.[62] Tháng 1 năm 1977, Abu Daoud bị cảnh sát Pháp chặn ở Paris khi đang trên đường từ Beirut dưới một cái tên giả.[63] Dưới sự phản đối của PLO, Iraq, và Libya, với lý lẽ rằng Abu Daoud đang đi tới lễ tang một đồng chí trong PLO nên ông ta phải được nhận quyền miễn trừ ngoại giao, chính phủ Pháp đã từ chối một yêu cầu dẫn độ của Tây Đức với lý do những thủ tục đã không được tiến hành một cách chính xác, và đưa ông ta lên một máy bay tới Algeria trước khi Đức có thể nộp một yêu cầu dẫn độ khác.[63] Ngày 27 tháng 7 năm 1981, ông ta đã bị bắn 5 lần từ khoảng cách khoảng hai mét trong một quán cà phê thuộc khách sạn Warsaw Victoria (hiện là Sofitel) nhưng sống sót sau vụ tấn công, đuổi theo kẻ đã bắn mình ra tới cửa quán cà phê trước khi ngã gục;
Abu Daoud được phép di chuyển tự do qua Israel năm 1996 để ông ta có thể tham gia một cuộc họp của PLO được tổ chức tại Dải Gaza cho mục đích bãi bỏ một điều khoản trong hiến chương của tổ chức này kêu gọi xóa bỏ nhà nước Israel.[25] Trong tự truyện của mình, From Jerusalem to Munich, lần đầu được xuất bản tại Pháp năm 1999, và sau này trong một cuộc phỏng vấn với Sports Illustrated,[64] Abu Daoud đã viết rằng nguồn tiền cho vụ Munich đã được cung cấp bởi Mahmoud Abbas, Chủ tịch PLO từ 11 tháng 11 năm 2004 và Chủ tịch của Chính quyền Quốc gia Palestine từ 15 tháng 1 năm 2005.[65]
Dù ông ta tuyên bố mình không biết tiền sẽ được chi vào đâu, từ lâu quan chức Fatah là Mahmoud Abbas, còn gọi là Abu Mazen, chịu trách nhiệm cung cấp tài chính cho vụ tấn công tại Munich.[66]
Abu Daoud tin rằng nếu người Israel biết rằng Mahmoud Abbas là người cung cấp tài chính cho chiến dịch, thỏa thuận Oslo năm 1993 sẽ không thể đạt được, trong đó Mahmoud Abbas xuất hiện trong tấm ảnh tại Nhà Trắng.[64]
Abu Daoud, người sống với vợ bằng lương bổng do Chính quyền Palestine cung cấp, nói rằng "chiến dịch Munich đã được sự tán thành của Arafat," dù Arafat không liên quan tới việc lập kế hoạch hay tiến hành vụ tấn công." Trong tự truyện của mình, Abu Daoud viết rằng Arafat đã tiễn đội đi thực hiện phi vụ với những lời "Chúa trời bảo vệ các bạn."[67]
Ankie Spitzer, quả phụ của huấn luyện viên đấu kiếm Andre, đã từ chối nhiều lời đề nghị gặp gỡ với Abu Daoud, nói rằng nơi duy nhất bà muốn gặp ông ta là ở trong phòng tòa án. Theo Spitzer, "Ông ta (Abu Daoud) đã không phải trả giá cho việc mình làm."[68] Năm 2006 trong khi bộ phim Munich của Steven Spielberg được công chiếu, Der Spiegel đã phỏng vấn Abu Daoud về vụ thảm sát Munich. Ông ta được trích dẫn đã nói: "Tôi không hối tiếc điều gì. Bạn chỉ có thể tưởng tượng ra việc tôi sẽ xin lỗi."[69]
Ông ta chết ngày 3 tháng 7 năm 2010 tại Damascus, Syria, vì suy thận ở tuổi 73.[70]

Danh sách thương vong

Bị bắn trong vụ tấn công đầu tiên
Bị bắn và chết do lựu đạn trong chiếc trực thăng D-HAQO
D-HAQO là chiếc trực thăng ở phía đông.
Theo thứ tự ngồi, từ trái sang phải:
Bị bắn trong trực thăng D-HAQU
D-HAQU là chiếc trực thăng ở phía tây.
Theo thứ tự ngồi, từ trái sang phải:
Bị bắn trên sân bay
  • Anton Fliegerbauer (Sỹ quan cảnh sát Đức)
Những người Palestine bị cảnh sát Đức tiêu diệt
  • Luttif Afif (Issa)
  • Yusuf Nazzal (Tony)
  • Afif Ahmed Hamid (Paolo)
  • Khalid Jawad (Salah)
  • Ahmed Chic Thaa (Abu Halla)

Tưởng niệm


Bảng tượng niệm ở trước khu nhà ở của các vận động viên Israel. Dòng chữ, viết bằng tiếng Đức và Hebrew, có nghĩa:"Đội tuyển Quốc gia Israel ở tòa nhà này tại Olympic mùa hè từ 21 tháng 8 tới 5 tháng 9 năm 1972. Ngày 5 tháng 9 [danh sách các nạn nhân] đã có một cái chết dữ dội. Vinh quang cho sự tưởng niệm dành cho họ."

Truyền thông

Xem thêm


Tham khảo

  1. ^ Breznican, Anthony (22 tháng 12 năm 2005). “Messages from 'Munich'”. USAToday (Gannett Co.). Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009.
  2. ^ Karon, Tony (12 tháng 9 năm 2000). “Revisiting the Olympics' Darkest Day”. Time. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
  3. ^ Juan Sanchez (7 tháng 8 năm 2007). Terrorism & It's Effects. Global Media. tr. 144–. ISBN 978-81-89940-93-5. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012.
  4. ^ The new dimension of international... . Google Books. 11 tháng 9 năm 2001. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  5. ^ Encyclopedia of terrorism . Google Books. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  6. ^ The terrorist trap: America's... . Google Books. 18 tháng 7 năm 1976. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  7. ^ Reeve, Simon (22 tháng 1 năm 2006), Olympics Massacre: Munich – The real story, The Independent, truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012
  8. ^ Fleisher, Malkah (22 tháng 7 năm 2012). “"Baffled" Bob Costas to Call Own Minute of Silence During Olympic Broadcast for Slain Israeli Team”. The Jewish Press. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2012.
  9. ^ Terrorism: A Global Scourge – Google Livres. Books.google. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  10. ^ Latsch, Gunther; Wiegrefe, Klaus (18 tháng 6 năm 2012), Files Reveal Neo-Nazis Helped Palestinian Terrorists, Spiegel Online
  11. ^ a ă â Wolff, Alexander (20 tháng 8 năm 2002). “When The Terror Began”. Sports Illustrated. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
  12. ^ TIME article, 2 September 2002.
  13. ^ a ă Ahren, Raphael (22 tháng 7 năm 2012). “Germany had a tip-off three weeks ahead of Munich massacre, Der Spiegel claims”. The Times of Israel. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012.
  14. ^ Reeve, Klein and Groussard.[cần số trang]
  15. ^ Klein, pp. 35–36.
  16. ^ Kelly, Cathal (28 tháng 4 năm 2012), Munich massacre helped unwittingly by Canadians in 1972 Olympic atrocity
  17. ^ Burnton, Simon (2 tháng 5 năm 2012). “50 stunning Olympic moments No 26: The terrorist outrage in Munich in 1972”. Guardian News and Media Limited. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2012.
  18. ^ “Article on CBC Archives”. Archives.cbc.ca. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  19. ^ a ă Cooley.[cần số trang]
  20. ^ a ă â b c d đ Reeve, Simon. One Day in September, 2001.
  21. ^ “Interview "Uns ging es darum, das Leben der Geiseln zu retten”. Süddeutsche Zeitung. 1 tháng 1 năm 2006.
  22. ^ Moore, Kenny (18 tháng 9 năm 1972). “Shootings in the Night”. Sports Illustrated.
  23. ^ Interview with Heinz Hohensinn in One Day in September
  24. ^ a ă â b Groussard.
  25. ^ a ă â b TIME article, part 5, 5 August 2002.
  26. ^ a ă Grace, Francie (5 tháng 9 năm 2002). “Munich Massacre Remembered”. CBS News. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010.
  27. ^ “American Sportscasters Online interview with Jim McKay”. Americansportscastersonline.com. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  28. ^ Interview with Ulrich Wegener in One Day in September.
  29. ^ Reeve, pp. 103 and 107.
  30. ^ Groussard, p. 349.
  31. ^ Reeve, pp. 115–116.
  32. ^ Reeve, pp. 106–107.
  33. ^ Groussard, pp. 354–355.
  34. ^ a ă â Reeve, p. 116.
  35. ^ Reeve, pp. 118 and 120.
  36. ^ Reeve, pp. 121–122.
  37. ^ Reeve, pp. 236–237.
  38. ^ Gallagher, Brendan (6 tháng 8 năm 2002). “Athletics: Memories stirred of Olympic hostage horror”. London: The Telegraph (UK). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2012.
  39. ^ a ă TIME article, part 6, 5 August 2002.
  40. ^ Fleming, David (29 tháng 7 năm 1996). “Remembering the Munich 11?”. Sports Illustrated. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2006.
  41. ^ “Munich Crisis”. Upi.com. 12 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  42. ^ “Encarta article on the Olympic Games”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2009.
  43. ^ a ă Guardian article on the massacre, 7 September 1972.
  44. ^ Butcher, Pat (12 tháng 8 năm 2002), “ATHLETICS: In Munich, Israelis honor '72 victims”, The New York Times, truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2012
  45. ^ BBC News article on commemoration at 2004 Olympics, 20 August 2004.
  46. ^ “Rogge again rejects calls for minute's silence for victims of 1972 Munich massacre”. The Washington Post. The Associated Press. 21 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012.
  47. ^ Davidovich, Joshua (22 tháng 7 năm 2012). “Still refusing moment of silence, Olympic head says memorial will be held in Germany”. The Times of Israel. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012.
  48. ^ “Israel Ministry of Foreign Affairs article on Sydney 2000 Olympics and Plaque”. MFA. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  49. ^ “Simon Reeve’s article in 2000: Munich massacre’s echoes heard amid Sydney’s jubilee. Jewishsf. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  50. ^ a ă Morris.[cần số trang]
  51. ^ a ă â Melman.[cần số trang]
  52. ^ Shalev, Noam 'The hunt for Black September'. BBC. Retrieved 4 March 2012.
  53. ^ “MIDDLE EAST: Death of a Terrorist”. TIME. 5 tháng 2 năm 1979.
  54. ^ Posner, Gerald (2004). Why America slept: the failure to prevent 9/11. Random House Inc. tr. 13. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/0-8129-6623-7|0-8129-6623-7[[Thể loại:Trang có lỗi ISBN]]]] Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp).
  55. ^ “Officials Ignored Warnings of Terrorist Attack”. Der Spiegel. 23 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2012.
  56. ^ Aderet, Oferet (22 tháng 7 năm 2012). “Germany was warned one month before Munich massacre, claims Der Spiege”. Ha'aretz. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2012.
  57. ^ “Der Spiegel: Germany had warning of Munich attack”. 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2012.
  58. ^ Weinthal, Benjamin (26 tháng 8 năm 2012). “'Germany met with Munich terrorists after attack'”. The Jerusalem Post. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2012.
  59. ^ Reeve, p. 188.
  60. ^ Klein, Aaron (2007). Striking back: The 1972 Munich Olympics Massacre and Israel's deadly response. New York: Random House Trade Paperbacks. ISBN 9780812974638.[cần số trang]
  61. ^ “One Day in September”. NY Times. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2008.
  62. ^ Neo-Nazi 'aided Munich Olympics massacre', The Local 17 June 2012
  63. ^ a ă Frum, David (2000). How We Got Here: The '70s. New York, New York: Basic Books. tr. 319. ISBN 0-465-04195-7.
  64. ^ a ă Wolff, Alexander (26 tháng 8 năm 2002). “The Mastermind”. Sports Illustrated. Sports Illustrated. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  65. ^ “Israel Law Center on Abu Mazen”. Israel law center. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
  66. ^ Abu Daoud.[cần số trang]
  67. ^ Conservative News Station on involvement of PLO in the massacre[[]][liên kết hỏng]
  68. ^ “Her husband's killer”. New York Daily News. 25 tháng 12 năm 2005.
  69. ^ “Suspected Munich massacre mastermind dead, report says”. CNN. 3 tháng 7 năm 2010.
  70. ^ “Mastermind behind Munich Olympics attacks dies”. BBC News. 3 tháng 7 năm 2010.

Đọc thêm

Phim

Liên kết ngoài

 Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính
 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam,
Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con