Sunday, August 24, 2014

Chào ngày mới 25 tháng 8

Vị trí của Uruguay
CNM365 Chào ngày mới 25 tháng 8. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Độc lập tại Uruguay (1825); ngày Quân nhân tại Brasil. Năm 1609Galileo Galilei trưng bày chiếc kính viễn vọng đầu tiên của mình trước những nhà lập pháp Venezia. Năm 1758Chiến tranh Bảy năm: Quốc vương Friedrich II dẫn quân đội Phổ bắt đầu tiến công (hình) quân Nga tại Zorndorf thuộc Ba Lan ngày nay. Năm 1883 – Chính phủ Pháptriều Nguyễn ký kết Hòa ước Quý Mùi, xác lập quyền bảo hộ lâu dài của Pháp trên toàn bộ Việt Nam. Năm 1945Cách mạng tháng Tám: Bảo Đại đọc chiếu thoái vị tại Huế, kết thúc nhà Nguyễn.

Uruguay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
República Oriental del Uruguay
Cộng hòa Đông Uruguay
Oriental Republic of Uruguay

Flag of Uruguay.svg Coat of arms of Uruguay.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Uruguay
Khẩu hiệu
Libertad o Muerte
(tiếng Tây Ban Nha: "Tự do hoặc Chết")
Quốc ca
Orientales, la Patria o la tumba
Hành chính
Chính phủ Cộng hoà dân chủ
Tổng thống
 • Phó tổng thống
José Mujica
Danilo Astori
Ngôn ngữ chính thức tiếng Tây Ban Nha
Thủ đô Montevideo
34°53′N, 56°10′T
Thành phố lớn nhất Montevideo
Địa lý
Diện tích 176.220 km² (hạng 90)
Diện tích nước 1,5% %
Múi giờ UTC-3; mùa hè: - (UTC-2)
Lịch sử
Dân cư
Dân số ước lượng (2006) 3.431.932 người (hạng 131)
Dân số (2002) 3.399.237 người
Mật độ 19 người/km² (hạng 156)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 54,58 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,840 cao (hạng 46)
Đơn vị tiền tệ Peso Uruguay (UYU)
Thông tin khác
Tên miền Internet .uy
Uruguay (tiếng Tây Ban Nha: República Oriental del Uruguay, Hán-Việt: Ô Lạp Khuê hay Ô Lạp Khuê ĐÔng phương Cộng hòa quốc) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Nước này tiếp giáp với Brasil ở phía bắc, Argentina ở phía tây (qua sông Uruguay) và tây nam qua Río de la Plata, với Đại Tây Dương ở phía đông nam. Đây là quốc gia độc lập có diện tích nhỏ thứ hai ở Nam Mỹ sau Suriname.
Colonia del Sacramento, một trong số những khu định cư châu Âu lâu đời nhất ở Uruguay được thành lập bởi Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha chiếm Montevideo vào đầu thế kỉ 18 và họ dựng lên thành phố ở đó. Uruguay nổi dậy dành độc lập vào những năm 1811–1828 từ ba nước Tây Ban Nha, Argentina, Brasil. Đó là một nền dân chủ lập hiến, nơi tổng thống giữ cả hai vai trò đứng đầu nhà nướcchính phủ.
Uruguay là một trong số những nền kinh tế phát triển ở Nam Mĩ, với GDP cao, đứng hàng thứ 50 về chất lượng sống tên thế giới. Nền kinh tế dựa vào nông nghiệp (chiếm 10% GDP và đứng thứ nhất về xuất khẩu).Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Uruguay là nước ít tham nhũng nhất châu Mĩ Latin (cùng với Chile).[1]
Năm 2007, Uruguay là nước đầu tiên ở châu Mĩ Latin thực hiện kết hợp dân sự giữa những người đồng tính.
bản đồ Uruguay
hình ảnh Uruguay nhìn từ vệ tinh

Từ nguyên

Từ tiếng Tây Ban Nha República Oriental del Uruguay dịch sang tiếng Việt là Cộng hoà Đông Uruguay. Đó là do nước này có vị trí địa lí ở phía đông sông Uruguay. Từ Uruguay trong tiếng Guaraní nghĩa là con sông nơi mà loài chim đang sống.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Uruguay

Sự thực dân hóa

River Plate Indians with Boleadoras (Hendrick Ottsen, 1603)
Người Tây Ban Nha khám phá ra Uruguay vào đầu thế kỷ 16 nhưng gặp phải sự kháng cự của thổ dân rồi lại bị người Bồ Đào Nha gây khó dễ khiến Uruguay trở thành chiến trường giữa hai đế quốc, Bồ Đào NhaTây Ban Nha. Trong những năm 1669 - 1671, Bồ Đào Nha lập đồn lũy ở Colonia del Sacramento hầu kiểm soát khu vực này. Trong khi đó Tây Ban Nha cũng tìm đưa dân đến lập nghiệp, chống lại dân Bồ Đào Nha từ Brasil lấn xuống.
Triều đình Tây Ban Nha cho thành lập Montevideo vào đầu thế kỷ 18 làm căn cứ quân sự rồi sau thị trấn này phát triển thành một hải cảng quan trọng cạnh tranh với Buenos Aires bên Argentina. Vào những năm 1806 - 1807, trong khi bên Âu châu Anh và Pháp lâm chiến thì ở Nam Mỹ cuộc chiến chống Napoleon cũng cuốn Anh, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vào vòng binh lửa nhằm khống chế hai thị trấn chính là MontevideoBuenos Aires. Quân Anh chiếm được Montevideo vào năm 1807 nhưng không bao lâu thì quân Tây Ban Nha tái chiếm được.

Đấu tranh giành độc lập khỏi Tây Ban Nha những năm 1811-1814

Năm 1811, José Gervasio Artigas, anh hùng dân tộc của Uruguay, đứng đầu một cuộc cách mạng chống lại Tây Ban Nha, đánh bại họ vào ngày 18 tháng 5 tại trận Las Piedras và ông tuyên bố thành lập liên bang Liga vào năm 1814.

Liên bang Liga 1814-1820

Từ năm 1815 - 1820, Uruguay là trung tâm chính trị của Liên bang Liga hay Liên bang của những người tự do. Tuy nhiên, sự tăng trưởng và uy tín của nó làm cho Đế quốc Bồ Đào Nha ở Brasil sợ hãi (vì chính thể cộng hòa của nó). Tháng 8 năm 1816, Bồ Đào Nha tấn công các tỉnh miền Đông (Uruguay) với ý định tiêu diệt nền cộng hòa ở đây. Nhờ ưu thế về quân sự, quân Bồ Đào Nha chiếm Montevideo vào ngày 20 tháng 1 năm 1817. Quân của Artigas rút về đấu tranh ở nông thôn đấu tranh trong ba năm tiếp theo. Cuối cùng, quân Bồ Đào Nha đánh bại Artigas trong trận Tacuarembó.

Sự chiếm đóng của Brasil 1821 - 1830

Năm 1821, các tỉnh miền Đông (Uruguay) bị sáp nhập vào Brasil (như là một phần của Vương quốc Bồ Đào Nha). Đế chế Brasil được độc lập từ 1822. Ba năm sau, ba mươi ba tỉnh do Juan Antonio Lavalleja đứng đầu tuyên bố độc lập ngày 25 tháng 8 năm 1825 dưới sự bảo trợ của Liên hiệp các tỉnh Rio de la Plata (nay là Argentina).
Điều này đã dẫn đến cuộc chiến tranh Brasil-Argentina kéo dài 500 ngày. Nhưng không bên nào đạt được thế thượng phong, do vậy, hai nước Brasil, Argentina kí kết Hiệp ước Montevideo theo đó công nhận nhà nước Uruguay độc lập. Hiến pháp đầu tiên được thông qua ngày 18 tháng 7 năm 1830.

"Guerra Grande" 1839–1852

Quang cảnh chính trị ở Uruguay đã trở thành phân chia giữa hai bên, các bảo thủ Blancos ("da trắng") và các tự do Colorados ("Quỷ đỏ"). Các Colorados được dẫn đầu bởi Fructuoso Rivera và đại diện lợi ích kinh doanh của Montevideo; các Blancos đã được lãnh đạo bởi Manuel Oribe, người chăm sóc lợi ích của nông nghiệp nông thôn và thúc đẩy bảo hộ. Hai nhóm lấy tên của họ từ màu sắc của các băng tay mà họ mặc. Các bên Uruguay đã trở thành gắn liền với chiến tranh phe phái chính trị tại nước láng giềng Argentina. Các Colorados ủng hộ tự do lưu vong Argentina Unitarios, nhiều người đã lấy tị nạn tại Montevideo, trong khi tổng thống Blanco Manuel Oribe là một người bạn thân của người cai trị Argentina Manuel de Rosas. Oribe đã phía Rosas khi hải quân Pháp phong tỏa Buenos Aires năm 1838. Điều này dẫn các Colorados và Unitarios lưu vong để tìm kiếm sự ủng hộ của Pháp chống lại Oribe, và vào ngày ngày 15 Tháng Sáu 1838, một đội quân dẫn đầu là Rivera Colorado lãnh đạo lật đổ tổng thống, người đã bỏ chạy tới Argentina. Các Unitarians Argentina đã thành lập một chính phủ lưu vong tại Montevideo và, với sự khuyến khích Pháp bí mật, Rivera tuyên chiến Rosas năm 1839. Cuộc xung đột kéo mười ba năm và trở thành được gọi là "Grande Guerra" ("Đại chiến"). Trong năm 1840, một đội quân Unitarios lưu vong đã cố gắng xâm lược miền bắc Argentina từ Uruguay, nhưng họ đã thành công rất ít. Trong tháng 12 năm 1842, Tổng thống Joaquín Suárez chính thức bãi bỏ chế độ nô lệ. Hai tháng sau, một đội quân người Argentina đã trượt khỏi Uruguay thay mặt của Oribe. Họ tịch thu nhất của đất nước nhưng không có vốn. Các cuộc bao vây của Montevideo, bắt đầu từ tháng 2 năm 1843, sẽ chín cuối năm và chụp thế giới tưởng tượng của các. Alexandre Dumas so sánh nó với một mới Trojan War. Những người Uruguay bao vây kêu gọi người nước ngoài cư trú để được giúp đỡ và một quân đoàn Pháp và một người Ý đã được hình thành. thứ hai là do lưu vong Giuseppe Garibaldi, người đã làm việc như một giáo viên toán học tại Montevideo khi chiến tranh nổ ra.
Garibaldi cũng làm người đứng đầu của hải quân Uruguay. Ông đã tham gia vào nhiều hành động nổi tiếng trong chiến tranh, đặc biệt là trong trận San Antonio, trong đó giành cho ông một danh tiếng trên toàn thế giới như là một nhà lãnh đạo du kích dữ dội. Cuộc phong tỏa của Argentina với Montevideo không hiệu quả như Rosas thường cố gắng không can thiệp với vận chuyển quốc tế về mảng sông. Nhưng năm 1845, khi vào Paraguay đã bị chặn, Anh và Pháp liên minh chống lại Rosas, thu giữ hạm đội của mình và bắt đầu một cuộc phong tỏa của Buenos Aires, trong khi Brasil tham gia chống lại Argentina.
Rosas đạt thỏa thuận hòa bình với Anh và Pháp vào năm 1849 và 1850. Người Pháp đã đồng ý rút quân đoàn của mình nếu Rosas di tản quân đội Argentina từ Uruguay. Oribe vẫn duy trì một cuộc bao vây lỏng lẻo với thủ đô. Năm 1851, những người Argentina Caudillo Justo José de Urquiza quay lưng lại với Rosas và ký kết một hiệp ước với Unitarios lưu đày, các Colorados Uruguay và Brazil chống lại ông. Urquiza vượt qua thành Uruguay, đánh bại Oribe và dỡ bỏ cuộc bao vây với Montevideo. Ông sau đó đã lật đổ Rosas ở trận Caseros ngày 3 tháng hai năm 1852. Với thất bại này, Rosas sống lưu vong, Guarra Grande cuối cùng đã kết thúc.

Chiến tranh giữa liên minh Triple

Năm 1855, cuộc xung đột mới nổ ra giữa các bên. Nó đạt đỉnh cao trong thời gian chiến tranh của Liên minh Triple. Năm 1863, Colorado chung Venancio Flores tổ chức một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại tổng thống Blanco, Bernardo Prudencio Berro. Flores đã giành sự ủng hộ từ Brasil và, thời gian này, Argentina đã cung cấp ông với quân đội và vũ khí, trong khi Berro thực hiện một liên minh với các nhà lãnh đạo Paraguay Francisco Solano López. Khi chính phủ của Berro bị lật đổ trong năm 1864 với sự giúp đỡ của Brazil, López sử dụng nó như là một lý do để tuyên chiến với Uruguay. Kết quả là cuộc chiến tranh của Liên minh Triple, một cuộc xung đột năm năm, trong đó Uruguay, quân đội Brasil và Argentina, Paraguay đã chiến đấu, và đó Flores cuối cùng thắng, nhưng chỉ ở mức giá của sự mất 95% quân của riêng mình. Flores đã không tận hưởng của mình chiến thắng Pyrrhic cho lâu dài. Năm 1868, ông bị giết trong cùng một ngày như là đối thủ của ông Berro.
Cả hai bên đã mệt mỏi của sự hỗn loạn này. Năm 1870, họ đã đi đến một thỏa thuận để xác định các lĩnh vực ảnh hưởng: các Colorados sẽ kiểm soát Montevideo và khu vực ven biển, các Blancos sẽ cai trị nội địa với bất động sản nông nghiệp của mình. Ngoài ra, Blancos đã được trả nửa triệu đô la để bồi thường cho họ mất cổ phần của họ ở Montevideo. Nhưng Caudillo tâm lý rất khó để xóa từ Uruguay và tiếp tục hoạt động chính trị mà đỉnh cao là cuộc cách mạng của Lances (Revolución de las Lanzas) (1870-1872), và sau này với các cuộc nổi dậy của Aparicio Saravia, người đã bị thương tại trận Masoller (1904).

Xã hội và sự phát triển kinh tế đến năm 1890

Sau khi kết thúc Guerra Grande có một sự gia tăng mạnh số lượng người nhập cư, nhiều nhất là từ Italy và Tây Ban Nha. Số lượng người nhập cư đã tăng từ 48% dân số trong 1860 lên 68% năm 1868. Trong thập niên 1870, một 100,000 người châu Âu tiếp tục đến, để đến năm 1879 khoảng 438.000 người đã sống ở Uruguay, một phần tư trong số họ trong Montevideo. Năm 1857, ngân hàng đầu tiên đã được mở cửa, ba năm sau đó, một hệ thống kênh đào đã được bắt đầu xây dựng, dòng điện tín đầu tiên được thành lập, và các liên kết đường sắt được xây dựng giữa các thành phố và nông thôn.
Nền kinh tế nhìn thấy sự tăng trưởng mạnh sau khi "Guerra Grande" kết thúc, trên tất cả trong chăn nuôi và xuất khẩu. Giữa năm 1860 và 1868, số lượng cừu tăng 3-17.000.000. Lý do cho sự gia tăng này nằm ở trên tất cả trong các phương pháp cải tiến chăn nuôi của những người nhập cư châu Âu.
Montevideo đã trở thành một trung tâm kinh tế lớn của khu vực. Nhờ bến cảng tự nhiên của nó, nó trở thành một nơi trung chuyển hàng hóa từ Argentina, BrasilParaguay. Các thị xã PaysandúSalto, cả trên sông Uruguay, cũng có kinh nghiệm phát triển tương tự.

Thế kỉ 20

Uruguay phát triển tăng tốc trong phần sau của thế kỷ 19 cũng như số ngày càng tăng của người nhập cư thành lập doanh nghiệp và mua đất. Một phần thông qua nỗ lực của họ, cừu đã được giới thiệu để gặm cỏ cùng với gia súc, trang trại được rào, và những con bò và cừu được nhập khẩu để cải thiện chăn nuôi. Thu nhập từ len (mà đã trở thành việc xuất khẩu hàng đầu vào năm 1884), da, và thịt bò khô khuyến khích người Anh đầu tư xây dựng đường sắt và cũng đã giúp hiện đại hóa Montevideo, đáng chú ý trong các tiện ích công cộng và hệ thống giao thông vận tải, mà qua đó khuyến khích nhập cư bổ sung.
Năm 1876, các lực lượng vũ trang Uruguay đã qua của chính phủ, và hỗ trợ bởi thông tin liên lạc được cải thiện, bắt đầu thiết lập vững chắc hơn trong kiểm soát đất nước. Tuy nhiên, công cuộc hỗ trợ cho chế độ dần dần phai nhạt vì sự tàn bạotham nhũng của một số nhà lãnh đạo của nó, và một chính phủ dân sự Colorado trở lại cầm quyền vào năm 1890.
Blanco nhu cầu của một vai trò lớn hơn trong chính phủ leo thang thành cuộc Cách mạng năm 1897, do Aparicio Saravia, kết thúc khi tổng thống Colorado, Juan Idiarte Borda, đã bị giết bởi một sát thủ không liên kết với các Blancos. Mặc dù các cuộc xung đột giữa Colorados và Blancos vẫn tiếp tục cản trở sự phát triển kinh tế, theo dân số của Uruguay năm 1900 đã lên đến một triệu tăng 13 lần so với mức của năm 1830. Các nhà lãnh đạo Colorado José Batlle y Ordóñez được bầu làm tổng thống năm 1903. Năm sau các Blancos đã dẫn đầu một cuộc nổi dậy nông thôn, và tám tháng chiến đấu đẫm máu xảy ra sau đó trước khi Saravia bị giết chết trong trận chiến và lực lượng chính phủ đã nổi lên giành chiến thắng. Năm 1905 các Colorados thắng cuộc bầu cử lập pháp lần đầu tiên trong suốt phần lớn trong 30 năm qua, và sự ổn định trong nước cuối cùng đã đạt được.
Batlle, người đã trở thành một anh hùng Colorado, đã dùng sự ổn định của quốc gia và phát triển thịnh vượng kinh tế để viện cải cách lớn, bao gồm gia tăng sự can thiệp của nhà nước trong các vấn đề kinh tế. Chính quyền của ông đã giúp mở rộng chăn thả gia súc, giảm sự phụ thuộc của quốc gia nhập khẩu và vốn nước ngoài, cải thiện điều kiện lao động thông qua những cải cách sâu rộng đến xã hội, và mở rộng giáo dục. Ngoài ra Batlle bãi bỏ án tử hình, cho phép phụ nữ để tiến hành thủ tục ly dị, tăng cường các quyền của trẻ em sinh ra ngoài giá thú, và giảm các ảnh hưởng chính trị của Giáo hội Công giáo La Mã, phản ánh xu hướng phát triển theo hướng tự do hóa xã hội và thế tục tại Uruguay.
Batlle đã có hai nhiệm kỳ (1903-1907 và 1911-1915), trong đó để bắt đầu chính sách của ông, nhưng ông nhận ra rằng chương trình của mình có thể bị đảo ngược bởi một tổng thống trong tương lai hoặc độc tài, ông đã thúc đẩy một cuộc cải cách hiến pháp để kết thúc nhiệm kỳ tổng thống và thay thế bằng một số nhiều điều hành, các colegiado. kế hoạch táo bạo của Batlle chia Colorados và hồi sinh Blanco phe đối lập, và năm 1916 các colegiado bị đánh bại trong cuộc bầu cử đầu tiên của nước bằng cách bỏ phiếu kín. Batlle giữ lại một số lượng đáng kể uy tín và hỗ trợ, tuy nhiên, trong đó cho phép ông ta tấn công một thỏa hiệp là một phần giải cứu các colegiado, do đó, trong hiến pháp ban hành vào năm 1918, trách nhiệm điều hành được phân chia giữa tổng thống và một Hội đồng Hành chính Quốc gia.
Một chính quyền đồng thuận nổi lên với các chính sách đã được thận trọng hơn so với sáng tạo, ngoại trừ trong pháp luật về xã hội. mức sống cao hơn được hỗ trợ bởi một nền kinh tế nông trại đó đã ngừng phát triển, một tiến thoái lưỡng nan ẩn do giá xuất khẩu cao của cuối thập niên 1920. Năm 1930, Uruguay được chọn là nơi tổ chức đầu tiên của bóng đá World Cup. Mặc dù qui mô của giải nhỏ hơn rất nhiều so với các cuộc thi của ngày hôm nay, sự kiện cung cấp niềm tự hào quốc gia khi đội chủ nhà đã giành giải đấu trên nước láng giềng Argentina.
Trong cuối thập niên 1950, một phần vì làm giảm nhu cầu tại các thị trường thế giới cho các sản phẩm nông nghiệp, Uruguay đã bắt đầu gặp phải vấn đề kinh tế, bao gồm lạm phát, thất nghiệp hàng loạt, và dốc thả một trong mức sống cho người lao động Uruguay. Điều này dẫn đến tình trạng bất ổn quân sự cho sinh viên và lao động.
Năm 1950 cũng chứng kiến Uruguay giành chiến thắng thứ hai World Cup, đánh bại Brazil 2-1 trong trận chung kết của cuộc thi để có vị trí trong nhóm vô địch, một sự kiện được gọi là Maracanazo. Một phong trào du kích đô thị được gọi là Tupamaros hình thành trong đầu những năm 1960, lần đầu tiên tham gia vào các hoạt động phản đối Robin Hood loại, như cướp ngân hàng và phân phối tiền cho người nghèo, và cố gắng đối thoại chính trị. Theo chính quyền cấm hoạt động chính trị của họ và cảnh sát trở nên ngột ngạt, các Tupamaros đã lên công khai đấu tranh vũ trang, tham gia vào cuộc xung đột trực tiếp với cảnh sát và bắt cóc các quan chức tham nhũng và nhận thức kẻ thù. [11] Hoa Kỳ Văn phòng An Toàn Công Cộng (OPS) đã bắt đầu hoạt động tại Uruguay vào năm 1965. Văn phòng Mỹ An Toàn Công Cộng cảnh sát Uruguay đào tạo và thông minh trong lập chính sách và kỹ thuật interrogration.
Tổng thống Jorge Pacheco tuyên bố tình trạng khẩn cấp vào năm 1968, tiếp theo là tiếp tục đình chỉ quyền tự do dân sự vào năm 1972 bởi người kế nhiệm ông, Tổng thống Juan María Bordaberry, người mang trong quân đội để chống lại các du kích MLN, do Raúl Sendic. Sau khi đánh bại các Tupamaros, việc thu giữ quyền lực quân sự năm 1973. Một nhà nước quân luật được hiệu quả sử dụng để tiêu diệt các MLN (Phong trào giải phóng quốc gia). Thủ trưởng MLN đã bị cô lập trong nhà tù. Bordaberry cuối cùng đã được gỡ bỏ từ chủ tịch phụ trách "của mình" trong năm 1976. Ông là thành công đầu tiên của Alberto Demicheli. Sau đó một hội đồng quốc gia được lựa chọn bởi chính phủ quân sự được bầu Aparicio Méndez.
Năm 1980, lực lượng quân đội đề xuất một sự thay đổi trong hiến pháp sẽ được thông qua với một trưng cầu dân ý. Các "Không" cho những cải cách hiến pháp đã giành được bỏ phiếu với 57,2% số phiếu, hiển thị các unpopularity của chính phủ trên thực tế, mà sau này được tăng tốc bởi một cuộc khủng hoảng kinh tế. Năm 1981, Tổng Gregorio Álvarez nắm chức tổng thống.
Năm 1984, cuộc biểu tình lớn chống lại quyền quân sự nổ ra. Sau một cuộc tổng đình công 24 giờ, cuộc đàm phán đã bắt đầu và lực lượng vũ trang công bố một kế hoạch quay trở lại quy luật dân sự. cuộc bầu cử quốc gia đã được tổ chức vào năm 1984; Colorado Đảng lãnh đạo Julio María Sanguinetti thắng cử tổng thống và, sau khi tạm ngắn gọn của Tổng thống Rafael Addiego Bruno, phục vụ 1985-1990. Các Sanguinetti đầu tiên chính quyền triển khai thực hiện cải cách kinh tế và dân chủ hợp nhất các năm tiếp theo của đất nước dưới sự cai trị quân sự. Tuy nhiên, Sanguinetti không bao giờ ủng hộ những tuyên bố nhân quyền, và chính phủ của ông đã không truy tố các phiến quân, khủng bố, các nhà lãnh đạo quân sự hoặc những người đã bị buộc tội giết người và tra tấn. Thay vào đó, ông chọn cho một lựa chọn hòa bình hơn, ký kết một hiệp ước ân xá gọi là tiếng Tây Ban Nha "Ley de Amnistia".

Kỉ nguyên hiện đại

Sanguinetti cải cách kinh tế, tập trung vào việc thu hút thương mại và vốn nước ngoài, đạt được một số thành công và ổn định nền kinh tế. Để thúc đẩy hòa giải dân tộc và tạo điều kiện cho sự trở lại của luật dân sự dân chủ, bảo đảm Sanguinetti phê duyệt công cộng bằng phổ thông đầu phiếu của một cuộc đại xá gây tranh cãi cho các nhà lãnh đạo quân sự bị cáo buộc vi phạm nhân quyền dưới chế độ quân sự và tăng tốc việc phát hành các cựu du kích.
Đảng Quốc gia của Luis Alberto Lacalle thắng cuộc bầu cử tổng thống năm 1989 và phục vụ 1990-1995. Tổng thống Lacalle thực hiện kết cấu chính và cải cách kinh tế theo đuổi tự do hóa hơn nữa các chế độ thương mại, bao gồm bao gồm nội dung của Uruguay trong Khối thị trường chung Nam Mỹ(MERCOSUR) trong năm 1991. Mặc dù tăng trưởng kinh tế trong nhiệm kỳ của Lacalle, điều chỉnh và nỗ lực tư nhân kích động chống đối chính trị, và một số cải cách đã được đảo ngược bằng cách trưng cầu dân ý.
Plaza Independencia (quảng trường Independence)
Trong cuộc bầu cử năm 1994, cựu Tổng thống Sanguinetti giành một thuật ngữ mới, mà chạy từ năm 1995 đến tháng 3 năm 2000. Vì không có đảng duy nhất có đa số tại Đại hội, Đảng Quốc gia đã tham gia với Sanguinetti của Đảng Colorado trong một chính phủ liên minh. Chính phủ tiếp tục cải cách kinh tế Sanguinetti của Uruguay và hội nhập MERCOSUR. cải cách quan trọng khác là nhằm cải thiện hệ thống bầu cử, an sinh xã hội, giáo dục, và an toàn công cộng. Nền kinh tế tăng trưởng ổn định cho hầu hết các kỳ hạn của Sanguinetti cho đến khi giá cả hàng hóa thấp và khó khăn kinh tế tại các thị trường xuất khẩu chính của nó gây ra một cuộc suy thoái vào năm 1999, trong đó có tiếp tục vào năm 2002. Các cuộc bầu cử quốc gia năm 1999 đã được tổ chức theo một hệ thống bầu cử mới được thành lập theo một sửa đổi hiến pháp năm 1996. Bầu cử sơ bộ trong tháng tư đã quyết định ứng cử viên tổng thống duy nhất cho mỗi bên, và cuộc bầu cử quốc gia ngày 31 tháng 10 xác định đại diện trong cơ quan lập pháp. Vì không có ứng cử viên tổng thống đã nhận được một đa số trong cuộc bầu cử tháng mười, một dòng chảy đã được tổ chức trong tháng mười một. Trong dòng chảy này, ứng cử viên Đảng Colorado Jorge Batlle, hỗ trợ bởi sự hỗ trợ của Đảng Quốc gia, đánh bại Mặt trận Rộng ứng cử viên Tabare Vázquez.
Các Colorado và Quốc gia thành viên liên minh tiếp tục lập pháp của họ, không bên nào giành tự như nhiều chỗ ngồi là 40% của mỗi nhà giành chiến thắng liên minh Mặt trận rộng. Các liên minh chính thức kết thúc vào tháng mười một năm 2002, khi Bộ trưởng Blancos rút khỏi nội các, mặc dù Blancos tiếp tục hỗ trợ trên hầu hết các vấn đề Colorados.
Tabaré Vázquez, cựu tổng thống Uruguay và tổng thống Brasil Luiz Inácio Lula da Silva
Các năm nhiệm kỳ của Batlle được đánh dấu bởi tình trạng suy thoái kinh tế và sự không chắc chắn, đầu tiên với sự mất giá năm 1999 của Brazil thực sự, sau đó với các dịch lở mồm long móng (aftosa) trong thịt bò khu vực trọng điểm của Uruguay vào năm 2001, và cuối cùng với các chính trị và kinh tế sụp đổ của Argentina. Thất nghiệp tăng lên gần hai mươi phần trăm, tiền lương thực giảm, đồng peso đã mất giá và tỷ lệ đói nghèo của Uruguay đạt gần bốn mươi phần trăm. Những điều kiện kinh tế xấu đi góp phần vào chuyển ý kiến công chúng đối với thị trường tự do đã thông qua chính sách kinh tế của chính quyền và người tiền nhiệm của nó Batlle, dẫn đến từ chối phổ biến thông qua các đề xuất để tư nhân hoá của công ty dầu khí nhà nước trong năm 2003 và của công ty nhà nước trong nước năm 2004.
Năm 2004 Uruguayans được bầu làm tổng thống Tabaré Vázquez, trong khi cho Mặt trận Rộng (liên minh của chủ nghĩa xã hội, cộng sản, Tupamaros, cựu cộng sản và dân chủ xã hội) một đa số tại cả hai viện của Quốc hội. Chính phủ mới được bầu, trong khi cam kết tiếp tục thanh toán nợ nước ngoài của Uruguay, cũng đã hứa sẽ thực hiện một vụ tai nạn công ăn việc làm chương trình để tấn công những vấn đề phổ biến rộng rãi của nghèo đói và thất nghiệp. Trong thời chính quyền cựu Tổng thống Vazquez Juan Maria Bordaberry và Tổng Gregorio Alzarez sẽ được tống giam đối với vi phạm nhân quyền cam kết trong thập niên 1970 '. Điều tra bắt đầu sau khi xuất bản cuốn sách "Los Años Oscuros 1967-1987" của Northamerican sử Scott Myers.
Trong năm 2009 Mặt trận Rộng giành cho cuộc bầu cử lần thứ hai. Còn lại liên minh duy trì phần lớn trong cả hai ngôi nhà của Nghị viện và José Mujica nổi lên làm Tổng thống mới của Uruguay. Được gọi là "El Pepe", (sinh ngày 20 tháng năm 1935) Mujica là một chính trị gia Uruguay và cựu du kích chiến đấu, một thành viên của Mặt trận Rộng (liên minh cánh tả) và Tổng thống Uruguay hiện hành. Ông đã sống khắc khổ trên một trang trại ở ngoại ô Montevideo, thủ đô của đất nước. Mujica đã được Bộ trưởng Bộ Chăn nuôi, Nông nghiệp, Thủy sản và 2005-2008 và một Thượng nghị sĩ sau đó. Ông đã giành được cuộc bầu cử tổng thống và nhậm chức làm Tổng thống vào ngày 01 tháng 3 năm 2010.

Địa lí

Bài chi tiết: Địa lí Uruguay
Lãnh thổ của Uruguay bao gồm 176.220 km 2 diện tích đất liền và 142.999 km 2 diện tích sông, biển, và các đảo có thẩm quyền tài phán. Uruguay là nước độc lập có diện tích nhỏ thứ hai ở Nam Mỹ sau Suriname. Địa hình chủ yếu là đồng bằng, đồi thấp. Điểm cao nhất ở trong nước là Cerro Catedral cao 514 m trong phạm vi đồi Sierra Carapé.

Khí hậu

Bài chi tiết: Khí hậu Uruguay
Khí hậu của Uruguay là khí hậu ôn đới có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Nó nhận không khí địa cực vào mùa đông, không khí nhiệt đới từ Brasil vào mùa hè. Do vậy, nếu không có núi che chở như một rào cản thì thời tiết dễ bị thay đổi đột ngột.

Tỉnh thành

Bài chi tiết: Tỉnh của Uruguay
Uruguay bao gồm 19 sở. Các sở đầu tiên được thành lập từ năm 1816 và gần đây nhất Flores được thành lập vào năm 1885.
Bản đồ các tỉnh thành của Uruguay theo thứ tự chữ cái.
Sở Diện tích (km2) Dân số Thủ phủ
- 1Artigas 11,928 79,317 Artigas
- 2Canelones 4,536 509,095 Canelones
- 3Cerro Largo 13,648 89,383 Melo
- 4Colonia 6,106 120,855 Colonia del Sacramento  
- 5Durazno 11,643 60,926 Durazno
- 6Flores 5,144 25,609 Trinidad
- 7Florida 10,417 69,968 Florida
- 8Lavalleja 10,016 61,883 Minas
-9 Maldonado 4,793 147,391 Maldonado
- 10Montevideo 530 1,342,474 Montevideo
-11 Paysandú 13,922 115,623 Paysandú
-12 Río Negro 9,282 55,657 Fray Bentos
- 13Rivera 9,370 109,267 Rivera
-14 Rocha 10,551 70,614 Rocha
-15 Salto 14,163 126,745 Salto
-16 San José 4,992 107,644 San José de Mayo
-17 Soriano 9,008 87,073 Mercedes
-18 Tacuarembó 15,438 94,613 Tacuarembó
-19 Treinta y Tres   9,676 49,769 Treinta y Tres
* 2007

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Uruguay
Uruguay là nền kinh tế chủ yếu dựa vào thương mại, đặc biệt là xuất khẩu nông sản, khiến cho trong nước dễ bị biến động giá cả hàng hóa.
Chăn nuôi bò, cừu trở thành ngành kinh tế chủ yếu thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến để xuất khẩu (len, hàng dệt, thịt và ngành da thú). Ngành trồng trọt gồm có: ngũ cốc, mía, cây ăn quả.
Kinh tế gặp nhiều khó khăn do nợ nước ngoài chồng chất. Là nước thành viên của tổ chức Mercosur, Uruguay bị lấn át bởi hai nước láng giềng khổng lồ BrasilArgentina. Thâm hụt cán cân mậu dịch gia tăng.
Mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm 9% GDP, nhưng nông phẩm chiếm hơn 50% hàng xuất khẩu. Urugoay đứng đầu Mỹ Latinh và thứ 6 thế giới về xuất khẩu lúa gạo. Công nghiệp chủ yếu là chế biến nông sản (thịt, sản phẩm da thuộc, len…). Từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ 20, Urugoay theo mô hình kinh tế tự do mới, giảm được lạm phátthâm hụt ngân sách, cân đối xuất nhập khẩu. Urugoay là một trong những nước có điều kiện và chính sách lao động tự do nhất ở châu Mỹ.
Từ năm 1999, kinh tế Urugoay suy thoái, một nguyên nhân lớn là do tác động của việc phá giá tiền tệ của Brasil làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá Urugoay và ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Argentina. Tháng 6 năm 2002, chính phủ quyết định thả nổi đồng pê xô, đồng đô la Mỹ tăng giá 60% so với nội tệ, giúp cho hàng hoá xuất khẩu của Urugoay tăng sức cạnh tranh nhưng cũng gây ra đổ vỡ tín dụng, khủng hoảng hệ thống ngân hàng, làm giảm sức mua của người tiêu dùng và tăng lạm phát từ 4% (2001) lên tới 26% (2002).
Urugoay có môi trường đầu tư tốt, hệ thống pháp lý mạnh và thị trường tài chính mở cửa. Chiến lược của chính phủ hiện nay là kích thích tăng trưởng dựa trên việc đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước bạn hàng truyền thống trong khối Mercosur, EUBắc Mỹ. Với châu Á, Urugoay có quan hệ thương mại với Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, MalaysiaIndonesia... Urugoay xuất hàng truyền thống như thịt bò, lúa gạo, len, , da thuộc và đồ da; nhập khẩu máy móc, hoá chất, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, quần áo...

Nông nghiệp

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Uruguay. Hiện nay, nông nghiệp đóng góp 11% GDP của Uruguay và là nguồn thu ngoại hối chính, đưa Uruguay lên ngang tầm các nước có số lượng nông sản xuất khẩu khác như Brasil, Argentina, New Zealand.

Chính trị

Uruguay là một nền cộng hòa dân chủ. Tổng thống giữ cả hai vai trò đứng đầu nhà nước và chính phủ. Tổng thống giữ quyền hành pháp. Quốc hội, gòm thượng việnhạ viện giữ quyền lập pháp. Bộ tư pháp nắm quyền tư pháp.
Tổng thống Uruguay José Mujica
Đảng Colorado và các bên khác đã đấu tranh giành quyền lực trong suốt phần lớn lịch sử Uruguay. Tuy nhiên, vào cuộc bầu cử năm 2004, một mặt trận rộng đã được thành lập gồm liên minh của Tupamaros, cộng sản, Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong số những người được bầu vào quốc hội. Tabare Vazquez được bầu làm Tổng thống.
Hiến pháp đầu tiên của Uruguay được thông qua vào năm 1830, sau Hiệp ước Montevideo theo đó thành lập nhà nước Uruguay.
Uruguay là nước đứng thứ 25 trong Chỉ số nhận thức tham nhũng.
Hiến pháp Uruguay cho phép sử dụng trưng cầu dân ý để thay đổi luật pháp và hiến pháp.

Giao thông vận tải

Bài chi tiết: Giao thông Uruguay

Đường bộ

Đường quốc lộ kết nối Montevideo và các thành phố lớn khác trong nước. Đường cao tốc chính dẫn tới những vùng biên giới. Những con đường nhỏ khác không được trải nhựa nối các trang trại và thị trấn nhỏ. Đường sá phát triển mạnh sau khi Khối thị trường chung Nam Mỹ được thành lập vào những năm 1990. Hầu hết hàng hóa vận chuyển trong nước được chuyên chở bằng đường bộ chứ không phải đường sắt.

Đường sắt

Mạng lưới đường sắt hầu hết đều đã cũ (mua của Anh từ Chiến tranh thế giới thứ nhất) trừ một đường nhỏ chạy từ Montevideo đi San José, qua các thành phố Las PiedrasCanelones.

Đường thủy

Cảng biển chủ yếu ở Montevideo, Tàu thuyền di chuyển trong nội địa có các kích thước khác nhau, một dịch vụ tàu cánh ngầm kết nối Buenos Aires với MontevideoColonia del Sacramento qua Rio de Plata.

Hàng không

Một sân bay quốc tế nằm gần khu nghỉ mát bãi biển Carrasco một khoảng 21 km từ trung tâm thành phố Montevideo. Các hãng hàng không thuộc sở hữu của chính phủ, Primeras Líneas Uruguayas de Navegación Aérea (PLUNA), liên kết các điểm đến Montevideo với một số sân bay quốc tế.

Tôn giáo

Vương Cung Thánh Đường Nhà thờ Florida ở Montevideo, tức nhà thờ chính tòa tổng giáo phận Montevideo
Uruguay không có tôn giáo chính thức của nhà nước, nhà thờ và nhà nước được chính thức tách ra, và tự do tôn giáo được đảm bảo.[2] Một cuộc khảo sát năm 2008 của Viện Nacional de Estadística của Uruguay cho thấy Công giáo Rôma là tôn giáo chính, với 45,7% dân số tin theo, 9,0% là Kitô hữu khác ngoài Công giáo, 0,6% là Thuyết duy linh hoặc Umbandists (một tôn giáo bản địa), và 0,4% là người Do Thái giáo, 30,1% cho biết họ có tin tưởng vào một vị thần, nhưng không thuộc tôn giáo nào, trong khi 14% là người vô thần hoặc bất khả tri.[3]
Giới quan sát chính trị xem Uruguay quốc gia thế tục nhất ở châu Mỹ.[4] Uruguay thế tục hóa bắt đầu với vai trò tương đối nhỏ của nhà thờ trong thời kỳ thuộc địa, so với các bộ phận khác của đế quốc Tây Ban Nha. Sau khi độc lập, ý tưởng chống đối ảnh hưởng của tôn giáo đối với chính quyền lan rộng tới Uruguay, đặc biệt là từ Pháp, tiếp tục làm xói mòn ảnh hưởng của nhà thờ đối với chính phủ.[5] Năm 1837, hôn nhân dân sự đã được công nhận và năm 1861 nhà nước tiếp quản các hoạt động của các nghĩa trang nhân dân vốn do nhà thờ đảm trách. Trong năm 1907, ly hôn đã được hợp pháp hóa và năm 1909, tất cả các chương trình giáo dục giảng dạy tôn giáo đã bị cấm tại tất cả các trường công lập nhà nước. Dưới ảnh hưởng của các cải cách tự do, do nhà lãnh đạo Colorado José Batlle y Ordóñez (1903-1911) đề xướng, một bản Hiến pháp mới đã được ban hành năm 1997 đã tách hoàn toàn ảnh hưởng của nhà thờ đối với nhà nước.[6]
Theo khảo sát chính thức gần đây nhất khoảng 58,1% dân số Uruguay xác định mình là Kitô giáo (47% Công giáo La Mã, Tin Lành 11,1%), và khoảng 40,89% dân số không xưng tôn giáo (23,2% "tin vào Thiên Chúa nhưng không có tôn giáo", 17,2% là người vô thần), 0,6% là tín đồ của các tôn giáo châu Phi khác, 0,5% là người Do Thái giáo, và 0,4% theo tôn giáo khác.[7]
Có khoảng 2,3 triệu người Công giáo Rôma trong cả nước. Có 9 giáo phận trực thuộc tổng giáo phận Montevideo; Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Uruguay hiện nay lag Tổng giám mục Nicolas Cotugno Fanizzi, người được bổ nhiệm vào tháng 12 năm 1998. Các vị thánh bảo trợ của Uruguay là Maria, hiện được tôn kính tại Vương Cung Thánh Đường Nhà thờ Florida.[8]
Hồi giáo ở Uruguay ước tính có từ 300 đến 400 người, đại diện cho 0,01 phần trăm dân số. Có hai trung tâm Hồi giáo, tại Montevideo.[9]
Hiện nay, có từ 20.000-25.000 người Do Thái giáo sống ở Uruguay, với 95% cư trú tại Montevideo. Có một cộng đồng nhỏ ở Paysandú. Khoảng 75% trong số đó là nhánh Do Thái giáo Ashkenazi và 11% thuộc nhánh Sephardi. Đến năm 2003, có 20 giáo đường Do Thái, nhưng chỉ có sáu trong số đó tổ chức các buổi lễ Shabbat hàng tuần.
Đức tin Bahá'í được truyền bá đến Uruguay bởi Abdu'l-Baha, một trong những người đứng đầu tôn giáo này trong năm 1916.[10] Hội đồng tin thần Bahá'í địa phương đầu tiên tại Montevideo được bầu vào năm 1942. Năm 1961, Hội đồng tinh thần Bahá'í Uruguay được thiết lập và tới năm 1963 đã có ba Hội đồng tinh thần Bahá'í địa phương. Năm 2001 có khoảng 4.000 tín đồ Baha'is tại Uruguay và đến năm 2005, đã tăng lên 7.300 người.[11]

Externi liên kết

Tham khảo



Galileo Galilei

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Galileo Galilei

Chân dung của Galileo Galilei,
do Giusto Sustermans vẽ
Sinh 15 tháng 2, 1564[1]
Pisa,[1] Công quốc Firenze
Mất 8 tháng 1, 1642 (77 tuổi)[1]
Arcetri,[1] Tuscany
Nơi cư trú Đại công quốc Tuscany
Tôn giáo Công giáo Rôma
Ngành Thiên văn, Vật lýToán học
Alma mater Đại học Pisa
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ Ostilio Ricci[2]
Các sinh viên nổi tiếng Benedetto Castelli
Mario Guiducci
Vincenzio Viviani[3]
Nổi tiếng vì Động lực học
Chuyển động học
Các khám phá thiên văn bằng kính viễn vọng
Thuyết nhật tâm
Chữ ký
Galileo Galilei (thường được phiên âm trong tiếng ViệtGa-li-lê; phát âm tiếng Ý: [ɡaliˈlɛːo ɡaliˈlɛi]; 15 tháng 2 năm 1564[4] – 8 tháng 1 năm 1642)[1][5] là một nhà thiên văn học, vật lý học, toán họctriết học người Ý, người đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học. Các thành tựu của ông gồm những cải tiến cho kính thiên văn và các quan sát thiên văn sau đó, và ủng hộ Chủ nghĩa Copernicus. Galileo đã được gọi là "cha đẻ của việc quan sát thiên văn học hiện đại",[6] "cha đẻ của vật lý hiện đại",[7] "cha đẻ của khoa học",[7] và "cha đẻ của Khoa học hiện đại."[8] Stephen Hawking đã nói, "Galileo, có lẽ hơn bất kỳ một người riêng biệt nào, chịu trách nhiệm về sự khai sinh khoa học hiện đại."[9]
Sự chuyển động của các vật thể tăng tốc đều, được dạy ở hầu hết trong các khóa học về vật lý của các trường trung học và cao đẳng, đã được Galileo nghiên cứu trong chủ đề về chuyển động học. Những đóng góp của ông trong thiên văn học quan sát gồm vệc xác nhận các tuần của Sao Kim bằng kính thiên văn, phát hiện bốn vệ tinh lớn nhất của Sao Mộc, được đặt tên là các vệ tinh Galileo để vinh danh ông, và sự quan sát và phân tích vết đen Mặt Trời. Galileo cũng làm việc trong khoa học và công nghệ ứng dụng, cải tiến thiết kế la bàn.
Sự bênh vực của Galileo dành cho Chủ nghĩa Copernicus đã gây tranh cãi trong đời ông. Quan điểm địa tâm đã là thống trị từ thời Aristotle, và sự tranh cãi nảy sinh sau khi Galileo trình bày thuyết nhật tâm như một minh chứng khiến giáo hội Công giáo Rôma cấm tuyên truyền nó như một sự thực đã được chứng minh, vì nó chưa được chứng minh theo kinh nghiệm ở thời điểm ấy và trái ngược với ý nghĩa của Kinh Thánh.[10] Galileo cuối cùng buộc phải từ bỏ thuyết nhật tâm của mình và sống những ngày cuối đời trong cảnh bị quản thúc tại gia theo lệnh của Toà án dị giáo La Mã.

Cuộc đời

Galileo sinh tại Pisa (khi ấy là một phần của Lãnh địa công tước Florence), Italia, con cả trong số sáu người con của Vincenzo Galilei, một người chơi đàn luýt và nhà lý luận âm nhạc nổi tiếng, và Giulia Ammannati. Bốn trong số sáu người con sống qua tuổi sơ sinh, và người con út Michelangelo (hay Michelagnolo) trở thành một người chơi đàn luýt và nhà soạn nhạc nổi tiếng.
Tên đầy đủ của Galileo là Galileo di Vincenzo Bonaiuti de' Galilei. Khi ông lên 8, gia đình ông chuyển tới Florence, nhưng ông ở lại cùng Jacopo Borghini trong hai năm.[1] Sau đó ông đi học tại Tu viện Camaldolese ở Vallombrosa, 35 km phía đông nam Florence.[1] Dù khi còn trẻ ông nghiêm túc đi theo con đường tu sĩ, nhưng ông cũng theo học y tại Đại học Pisa theo yêu cầu của cha mình. Ông không hoàn thành khoá học, mà thay vào đó nghiên cứu toán học.[11] Năm 1589, ông được chỉ định làm giáo sư toán tại Pisa. Năm 1591 cha ông mất và ông được giao phó việc chăm lo người em trai Michelagnolo. Năm 1592, ông tới Đại học Padua, dạy địa lý, cơ khí, và thiên văn học cho tới năm 1610.[12] Trong giai đoạn này Galileo đã thực hiện những khám phá quan trọng trong cả khoa học lý thuyết (ví dụ, động học của chuyển động và thiên văn học) và khoa học ứng dụng (ví dụ, sức bền vật liệu, cải tiến kính thiên văn). Các quan tâm của ông gồm nghiên cứu chiêm tinh, mà ở thời tiền hiện đại được xem là liên quan với việc nghiên cứu toán học và thiên văn học.[13]
Dù là một tín đồ sùng đạo của Giáo hội Công giáo Rôma[14], Galileo có ba đứa con ngoài giá thú với Marina Gamba. Họ có hai con gái, Virginia sinh năm 1600 và Livia sinh năm 1601, và một con trai, Vincenzo, sinh năm 1606. Vì là con ngoài giá thú, ông cho rằng các cô con gái của mình không thể lập gia đình. Tương lai duy nhất của họ là tôn giáo. Cả hai cô gái đều được gửi tới nhà dòng kín San Matteo ở Arcetri và sống trọn đời ở đó.[15] Virginia lấy tên Maria Celeste khi vào nhà tu. Bà mất ngày 2 tháng 4 năm 1634, và được chôn cất cùng Galileo tại Basilica di Santa Croce di Firenze. Livia lấy tên Sister Arcangela và ốm đau trong suốt cuộc đời. Vincenzo sau này được hợp pháp hoá và cưới Sestilia Bocchineri.[16]
Năm 1610 Galileo xuất bản một cuốn sách về các quan sát thiên văn của mình với các Mặt Trăng của Sao Mộc, sử dụng quan sát này để ủng hộ lý thuyết nhật tâm của vũ trụ của Copernicus chống lại thuyết địa tâm Ptolemy và các lý thuyết của Aristote. Năm sau đó, Galileo tới thăm Rome để chứng minh kính viễn vọng của mình trước các nhà triết học và toán học của Học viện Dòng Tên Rôma (Jesuit Collegio Romano), và để họ tự thấy bằng mắt mình sự thực về bốn Mặt Trăng của Sao Mộc.[17] Khi ở Rome ông cũng trở thành một thành viên của Accademia dei Lincei.[18]
Năm 1612, xuất hiện sự chống đối thuyết nhật tâm của vũ trụ đang được Galileo ủng hộ. Năm 1614, từ bục giảng kinh của Vương cung thánh đường Santa Maria Novella, linh mục Tommaso Caccini (1574–1648) lên án các ý kiến của Galileo về sự chuyển động của Trái Đất, cho rằng chúng là nguy hiểm và gần với sự dị giáo. Galileo tới Roma để bảo vệ mình trước những cáo buộc đó, nhưng, vào năm 1616, hồng y Robert Bellarmine đích thân khiển trách Galileo bắt ông không được ủng hộ cũng như giảng dạy thiên văn học Copernicus.[19] Trong năm 1621 và 1622, Galileo đã viết cuốn sách đầu tiên của mình, Người thí nghiệm (Il Saggiatore), được phê duyệt và cho phát hành năm 1623. Năm 1630, ông quay lại Roma để xin giấy phép in cuốn Đối thoại về hai Hệ thống Thế giới, được xuất bản tại Florence năm 1632. Tuy nhiên, vào tháng 10 năm ấy, ông bị bắt phải ra trước Thánh bộ Giáo lý Đức tin ở Roma.
Sau một phiên xử của Giáo hoàng, theo đó ông bị nghi ngờ mạnh mẽ là dị giáo, Galileo bị quản thúc tại gia và các hoạt động của ông bị Giáo hoàng kiểm soát. Từ năm 1634 trở về sau, ông sống tại ngôi nhà thôn quê ở Arcetri, bên ngoài Florence. Ông bị mù hoàn toàn năm 1638 và bị chứng thoát vịmất ngủ đầy đau đớn, vì thế ông được cho phép tới Florence chữa bệnh. Ông tiếp tục tiếp khách cho tới năm 1642, sau khi qua đời vì sốt và chứng tim đập nhanh.[20][21]

Các phương pháp khoa học

Galileo đã có những đóng góp cơ bản cho khoa học về chuyển động bằng cách kết hợp một cách sáng tạo giữa toán học và thực nghiệm.[22]. Một đặc trưng nữa của khoa học thời bấy giờ là các nghiên cứu định tính của William Gilbert về điện và từ tính. Cha của Galileo, Vincenzo Galilei, một nghệ sĩ đàn luýt kiêm nhà lý luận âm nhạc, đã tiến hành các thực nghiệm thiết lập nên hệ thức phi tuyến tính có thể được xem là cổ xưa nhất trong vật lý học: đối với một dây đàn dược kéo căng, cao độ sẽ biến thiên theo căn bặc hai của độ căng.[23] Những quan sát này dựa trên nền tảng trước đó của Pythagore và những người theo thuyết của ông trong lĩnh vực âm nhạc, họ cũng đồng thời là những người chế tạo nhạc cụ, đó là: chia nhỏ dây đàn theo một số nguyên thì sẽ tạo ra một thang âm hài hoà. Như vậy, trong một chừng mực nào đó, toán học đã có một mối quan hệ lâu đời với vật lý và âm nhạc, và Galileo trẻ tuổi đã nhận thấy những quan sát của cha mình được khai triển dựa trên truyền thống đó.[24].
Có lẽ Galileo là người đầu tiên phát biểu một cách rõ ràng rằng các quy luật của tự nhiên đều liên quan đến toán học. Trong cuốn The Assayer (Người Thí nghiệm) ông viết "Triết học được viết trong cuốn sách lớn này, vũ trụ... Nó được viết bằng ngôn ngữ của toán học, ký tự của nó là những hình tam giác, hình tròn, và các đường hình học khác...".[25] Những phân tích toán học của ông là sự phát triển của một truyền thống đã được các nhà triết học tự nhiên kinh viện sử dụng từ trước, Galileo đã học lý luận đó khi ông nghiên cứu triết học.[26] Bất chấp việc ông nỗ lực trung thành với Giáo hội Công giáo, giữ vững lập trường của mình với các kết quả thực nghiệm, và cả những giải nghĩa chân thực nhất mà những thực nghiệm đó đưa ra, kết quả vẫn là sự bác bỏ của những nhà cầm quyền với sự trung thành mù quáng với giáo lý và cả triết học khi xem xét các vấn đề khoa học. Xét trên diện rộng, điều này đã thúc đẩy việc tách khoa học ra khỏi triết học và tôn giáo; một bước ngoặt trong tư duy của nhân loại.
Với những tiêu chuẩn thời đó, Galileo vẫn luôn sẵn sàng thay đổi quan điểm theo những quan sát đạt được của mình. Nhà triết học đồng thời cũng là một nhà khoa học hiện đại, Paul Feyerabend, cũng từng lưu ý đến những khía cạnh được cho là sai trong phương pháp luận của Galileo nhưng ông cũng chỉ ra rằng phương pháp của Galileo, với những kết quả đã đưa ra, vẫn có thể đúng so với khoa học thời kì trước. Phần lớn công việc chính của Feyerabend, Against Method (1975), được dành cho những phân tích của Galileo, ông sử dụng nghiên cứu thiên văn của Galileo như một mẫu nghiên cứu để hỗ trợ cho nghiên cứu của ông về sự hỗn loạn trong các phương pháp nghiên cứu khoa học. Ông viết: 'Những người theo thuyết của Aristote... đòi hỏi sự hỗ trợ của kinh nghiệm trước đó trong khi những người theo thuyết của Galileo thì lại bằng lòng với những lý thuyết đa chiều, không chắc chắn và bị bác bỏ một phần. Tôi không phê phán họ nhưng tôi vẫn ủng hộ câu nói của Niels Bohr "Chỉ điên thì không đủ" '.[27] Để công bố những thực nghiệm của mình, Galileo đã phải thiết lập các tiêu chuẩn về độ dài và thời gian, để các phép đo vào những ngày khác nhau và trong các phòng thí nghiệm khác nhau có thể được so sánh trong cùng một khuôn mẫu.
Galileo thể hiện một sự đánh giá tiến bộ phi thường vế mối quan hệ đúng đắn giữa toán học, vật lý lý thuyết và vật lý thực nghiệm. Ông hiểu biết về các parabol, về mặt tiết diện conic lẫn về mặt toạ độ. Galileo xác định thêm rằng parabol là quỹ đạo lý thuyết lý tưởng đối với những vật được bắn ra, chuyển động nhanh dần đều mà không có ma sát hay bất cứ lực cản nào. Galileo thừa nhận rằng lý thuyết này chỉ có giá trị giới hạn, về mặt lý thuyết thì quỹ đạo phóng một vật phóng có kích thước tương tự với Trái Đất không thể là parabol,[28] nhưng ông vẫn cho rằng đối với khoảng cách lên tới phạm vi của tầm pháo trong thời của ông, quỹ đạo parabol của một phóng bị lệch không đáng kể.[29]. Thứ ba, ông nhận ra rằng dữ liệu thực nghiệm của ông sẽ không bao giờ giống một cách chính xác với bất kỳ biểu thức lý thuyết hoặc toán học nào vì sự thiếu chính xác của các phép đo, sự ma sát, và các yếu tố khác.
Theo Stephen Hawking, Galileo là người ảnh hưởng nhiều nhất đối với sự ra đời của khoa học hiện đại hơn bất kỳ người nào khác.,[30] Albert Einstein gọi ông là cha đẻ của khoa học hiện đại.[31]

Thiên văn học

Đóng góp

Chính trên trang giấy này Galileo lần đầu tiên ghi chú một sự quan sát các Mặt Trăng của Sao Mộc. Quan sát này đánh đổ quan niệm rằng mọi thiên thể phải quay quanh Trái Đất. Galileo đã xuất bản sự miêu tả đầy đủ trong Sidereus Nuncius tháng 3 năm 1610
Các tuần của Sao Kim, quan sát bởi Galileo năm 1610
Chỉ dựa vào một số miêu tả không chính xác về chiếc kính viễn vọng thực tế đầu tiên, do Hans Lippershey người Hà Lan phát minh năm 1608, Galileo, trong năm sau đó, đã làm một chiếc kính viễn vọng có độ phóng đại 3x, và sau này làm những chiếc khác có độ phóng đại lên tới 30x.[32] Với thiết bị đã được cải tiến này ông có thể thấy các hình ảnh phóng đại, thẳng đứng trên Trái Đất – cái mà hiện được biết là kính viễn vọng Trái Đất, hay kính thiên văn nhỏ. Ông cũng có thể sử dụng nó để quan sát bầu trời; trong một thời gian ông là một trong những người chế tạo các kính thiên văn đủ tốt cho mục đích đó. Ngày 25 tháng 8 năm 1609, ông trưng bày chiếc kính viễn vọng đầu tiên của mình trước những nhà lập pháp Venice. Công việc chế tạo kính thiên văn của ông còn có tác dụng phụ mang lại khá nhiều tiền khi các lái buôn thấy nó hữu ích cho các chuyến đi biển và đi buôn của họ. Ông đã xuất bản các quan sát thiên văn học bằng kính viễn vọng đầu tiên của mình vào tháng 3 năm 1610 trong một chuyên luận ngắn có nhan đề Sidereus Nuncius (Sứ giả sao).[33]
Ngày 7 tháng 1 năm 1610, Galileo quan sát bằng kính viễn vọng của mình cái ông miêu tả ở thời gian đó là "ba định tinh, hoàn toàn không nhìn thấy được bởi chúng quá nhỏ", tất cả nằm gần Sao Mộc và thẳng hàng qua nó.[34] Những quan sát vào các đêm sau đó cho thấy các vị trí của các "ngôi sao" đó liên quan tới Sao Mộc đang thay đổi theo một cách khiến chúng có thể là không giải thích được nếu đó thực sự là các định tinh. Ngày 10 tháng 1, Galileo ghi chú rằng một trong số chúng đã biến mất, một quan sát mà ông cho rằng nó đã bị Sao Mộc che khuất. Trong vài ngày ông đã kết luận rằng chúng quay quanh Sao Mộc:[35] Ông đã khám phá ra bốn vệ tinh (Mặt Trăng) lớn nhất của Sao Mộc: Io, Europa, và Callisto. Ông phát hiện ra vệ tinh thứ tư, Ganymede, ngày 13 tháng 1. Galileo đặt tinh cho bốn vệ tinh ông đã phát hiện ra là những ngôi sao Medici, để vinh danh người bảo trợ tương lai của ông, Cosimo II de' Medici, Đại Công tước Tuscany, và ba người anh em của Cosimo.[36] Tuy nhiên, các nhà thiên văn học sau này đổi tên chúng thành các vệ tinh Galileo để vinh danh ông.
Một hành tinh với các hành tinh nhỏ hơn quay quanh nó không thích hợp với các nguyên tắc của Thiên văn học Aristotle, cho rằng mọi thiên thể phải quay quanh Trái Đất,[37] và nhiều nhà thiên văn học và triết học ban đầu đã từ chối tin rằng Galileo đã phát hiện ra một vật như thế.[38]
Galileo tiếp tục quan sát các vệ tinh trong mười tám tháng sau đó, và tới giữa năm 1611 ông đã có nhiều ước tính chính xác về các chu kỳ của chúng—một kỳ công mà Kepler đã cho rằng không thể thực hiện.[39]
Từ tháng 9 năm 1610, Galileo quan sát thấy Sao Kim có đủ các tuần tương tự như Mặt Trăng. Mô hình nhật tâm của hệ mặt trời được Nicolaus Copernicus phát triển tiên đoán rằng tất cả các pha phải được quan sát thấy bởi Sao Kim quay quanh Mặt trời sẽ khiến phần được chiếu sáng của nó quay về phía Trái Đất khi nó ở phía đối diện của Mặt trời và quay đi khi nó ở cùng phía với Trái Đất. Trái lại, mô hình địa tâm của Ptolemy dự đoán rằng chỉ trăng lưỡi liềm và các tuần mới mới có thể được quan sát, bởi Sao Kim được cho là nằm giữa Mặt Trời và Trái Đất khi nó quay quanh Trái Đất. Các quan sát của Galileo về các tuần của Sao Kim chứng minh rằng nó quay quanh Mặt trời và là bằng chứng ủng hộ (nhưng không chứng minh cho) mô hình nhật tâm. Tuy nhiên, bởi nó bác bỏ mô hình hành tinh hoàn toàn địa tâm của Ptolemy, dường như nó là quan sát có tính quyết định khiến đa số cộng đồng khoa học thế kỷ 17 quay sang ủng hộ các mô hình nhật-địa tâm (tất cả các hành tinh chuyển động xung quanh Mặt trời nhưng Mặt trời quay quanh Trái Đất)[40] và địa tâm như các mô hình TychoCapella,[41] và vì thế được cho là quan sát thiên văn quan trọng nhất của Galileo.
Galileo cũng quan sát Sao Thổ, và ban đầu nhầm lẫn các vành đai của nó là các hành tinh, cho rằng nó là hệ ba vật thể. Khi ông quan sát hành tinh ở thời điểm sau này, các vành đai của Sao Thổ hướng trực tiếp về phía Trái Đất, khiến ông cho rằng hai vật thể đã biến mất. Các vành đai tái xuất hiện khi ông quan sát hành tinh năm 1616, càng khiến ông bối rối.[42]
Galileo là một trong những người Châu Âu đầu tiên quan sát các đốm mặt trời, dù Kepler đã không chủ tâm quan sát một đốm năm 1607, nhưng nhầm lẫn cho rằng đó là một sự lướt qua của Sao Thuỷ. Ông cũng tái giải thích một quan sát đốm mặt trời từ thời Charlemagne, mà trước kia được gán cho (không có khả năng) một lần lướt qua của Sao Thuỷ. Sự tồn tại của các đốm mặt trời cho thấy một khó khăn khác trong sự hoàn hảo không thể thay đổi của các tầng trời do vật lý thiên thể chính thống Aristotle đặt ra, nhưng những lần lướt qua có chu kỳ đều của nó cũng xác nhận dự đoán trong cơ học thiên thể Aristotle của Kepler trong tác phẩm Astronomia Nova (Thiên văn Mới) năm 1609 của ông rằng mặt trời quay, đây là tiên đoán đúng đầu tiên của vật lý thiên thể thời hậu mặt cầu.[43] Và những biến đổi hàng năm trong các chuyển động của các đốm mặt trời, do Francesco Sizzi và những người khác khám phá năm 1612–1613,[44] cung cấp một bằng chứng mạnh chống lại cả hệ Ptolemy và hệ địa-nhật tâm của Tycho Brahe.[45] Vì các biến đổi theo mùa bác bỏ mọi mô hình hành tinh địa tĩnh không chuyển động địa chất như mô hình địa tâm hoàn toàn của Ptolemy và mô hình địa-nhật tâm của Tycho theo đó Mặt trời quay quanh Trái Đất hàng ngày, vì thế sự thay đổi phải xuất hiện hàng ngày. Nhưng nó có thể giải thích được bằng các hệ thống quay địa chất như mô hình địa-nhật tâm bán Tycho của Longomontanus, các mô hình địa-nhật tâm của Capella và mở rộng của Capella với một sự chuyển động quay hàng ngày của Trái Đất, và mô hình nhật tâm hoàn toàn. Một cuộc tranh cãi về sự ưu tiên trong việc khám phá các đốm mặt trời, và sự giải thích chúng, khiến Galileo rơi vào một sự thù hằn kéo dài và cay đắng với thầy tu dòng Tên Christoph Scheiner; trên thực tế, có ít nghi ngờ rằng cả hai người trong số họ đã bị đánh bại bởi David Fabricius và con trai ông Johannes, tìm kiếm việc xác nhận tiên đoán của Kepler về chuyển động của Mặt trời.[46] Scheiner nhanh chóng chấp nhận đề xuất năm 1615 của Kepler về thiết kế kính thiến văn hiện đại, cho độ phóng đại lớn hơn nhưng hình ảnh bị lộn ngược; Galileo rõ ràng không thay đổi thiết kế của Kepler.
Galileo là người đầu tiên thông báo về các ngọn núihố va chạm trên Mặt Trăng, mà ông cho sự hiện diện của nó bởi các kiểu mẫu sáng và tối trên bề mặt Mặt Trăng. Thậm chí ông còn ước tính chiều cao của các ngọn núi từ các quan sát đó. Điều này dẫn ông tới kết luận rằng Mặt Trăng là "xù xì và không bằng phẳng, và giống như chính bề mặt của Trái Đất," chứ không phải là một mặt cầu hoàn hảo như Aristotle đã tuyên bố. Galileo quan sát Ngân hà, trước đó được cho là một tinh vân, và thấy rằng nó là tập hợp những ngôi sao trong một vùng quá đặc khiến nó trông như một đám mây từ Trái Đất. Ông định vị nhiều ngôi sao khác quá xa để có thể thấy bằng mắt thường. Galileo cũng quan sát Sao Hải Vương năm 1612, nhưng không nhận thấy rằng nó là một hành tinh và không có chú ý đặc biệt đến nó. Trong cuốn sổ ghi chép của ông nó xuất hiện như một ngôi sao tối không đáng chú ý.[47]

Tranh cãi về các sao chổi và Người thí nghiệm

Bài chi tiết: Người thí nghiệm
Năm 1619, Galileo bị lôi cuốn vào một cuộc tranh cãi với Cha Orazio Grassi, giáo sư toán học tại Collegio Romano dòng Tên. Nó bắt đầu như một cuộc tranh cãi về tính chất của các sao chổi, nhưng tới khi Galileo đã xuất bản The Assayer (Il Saggiatore) năm 1623, sự bảo lưu cuối cùng của ông trong cuộc tranh cãi, nó đã trở thành một cuộc tranh cãi lớn hơn về trạng thái tự nhiên của chính Khoa học. Bởi The Assayer có chứa những ý tưởng của Galileo và việc Khoa học cần phải được thực nghiệm như thế nào, nó đã bị coi là sự thể hiện khoa học của ông.[48]
Đầu năm 1619, linh mục Grassi ẩn danh xuất bản một cuốn sách mỏng, An Astronomical Disputation on the Three Comets of the Year 1618 (Một tranh cãi thiên văn về ba sao chổi của năm 1618),[49] bàn cãi về trạng thái của một sao chổi đã xuất hiện hồi cuối tháng 11 năm trước. Grassi đã kết luận rằng sao chổi là một vật thể bùng cháy chuyển động dọc theo một đoạn của một vòng tròn lớn ở một khoảng cách xa từ Trái Đất,[50] và rằng nó nằm ở ngoài xa Mặt Trăng.
Những lý lẽ và kết luận của Grassi đã bị chỉ trích trong một bài viết sau đó, Discourse on the Comets (Bài thuyết trình về các sao chổi),[51] được xuất bản dưới cái tên của một trong những học trò của Galileo, một luật sư người Florence tên là Mario Guiducci, dù phần lớn nó do chính Galileo viết.[52] Galileo và Guiducci không đưa ra lý thuyết xác định của họ về trạng thái của các sao chổi,[53] dù họ quả thực có trình bày một số phỏng đoán không quả quyết mà hiện chúng ta biết là không chính xác.
Trong đoạn mở đầu Bài thuyết trình, Galileo và Guiducci vô cớ xúc phạm thày tu dòng Tên Christoph Scheiner,[54] và có nhiều lưu ý xúc phạm tới các giáo sư của Học viện Roma trong cả tác phẩm.[55] Những tu sĩ Dòng Tên bị xúc phạm,[56] và Grassi nhanh chóng trả lời bằng một luận văn ngắn có tính luận chiến của mình, The Astronomical and Philosophical Balance (Sự cân bằng Thiên văn và Triết học),[57] dưới bút danh Lothario Sarsio Sigensano,[58] ngụ ý là một trong những học sinh của ông.
The Assayer là câu trả lời có tính bác bỏ của Galileo với Cân bằng thiên văn.[59] Nó được mọi người coi là một kiệt tác của văn học luận chiến,[60] trong đó những lý lẽ của "Sarsi" là đối tượng bị khinh thường.[61] Nó được đón chào với nhiều sự ca ngợi, và đặc biệt làm hài lòng vị Giáo hoàng mới là Urban VIII, người được đề tặng cho cuốn sách này.[62]
Cuộc tranh cãi của Galileo với Grassi đã khiến nhiều tu sĩ Dòng Tên từng có thiện cảm với các ý tưởng của ông trở nên xa lánh,[63] và Galileo cùng những người bạn của mình tin rằng những tu sĩ Dòng Tên đó chịu trách nhiệm gây ra cuộc kết tội ông sau này.[64] Tuy nhiên, bằng chứng cho điều này là đáng nghi ngờ.[65]

Galileo, Kepler và các giả thiết thuỷ triều

Năm 1615, hồng y Bellarmine đã viết rằng hệ thống Copernicus không thể được bảo vệ nếu không có "một minh chứng vật lý thực sự rằng Mặt Trời không quay quanh Trái Đất mà là Trái Đất quay quanh Mặt Trời".[66] Galileo xem xét lý thuyết của ông về thủy triều để cung cấp bằng chứng vật lý cần thiết cho chuyển động của Trái Đất. Lý thuyết này quá quan trọng với Galileo tới mức ban đầu ông dự định đặt tên cuốn Dialogue on the Two Chief World Systems (Đối thoại về hai hệ thống thế giới chính) là Dialogue on the Ebb and Flow of the Sea (Đối thoại về thuỷ triều và dòng chảy của biển).[67] Với Galileo, thuỷ triều được gây ra bởi sự chuyển động tiến lùi của nước trong các biển khi một điểm trên bề mặt Trái Đất tăng tốc và giảm tốc vì chuyển động quay của Trái Đất quanh trục của nó và chuyển động xung quanh Mặt Trời. Galileo đã cho truyền bá những quan sát đầu tiên của mình về thuỷ triều năm 1616, chuyển tới hồng y Orsini.[68]
Nếu lý thuyết này là đúng, thì chỉ có một lần thủy triều cao trong ngày. Galileo và những người đương thời với ông biết về sự không chính xác này bởi có hai lần thuỷ triều cao hàng ngày tại Venice chứ không phải một, khoảng 12 tiếng một lần. Galileo cho sự bất thường này như kết quả của nhiều nguyên nhân thứ hai, gồm hình dạng của biển, độ sâu, và các yếu tố khác.[69] Chống lại sự quyết đoán rằng Galileo dối trá khi đưa ra những lý lẽ đó, Albert Einstein đã đưa ra quan điểm rằng Galileo đã phát triển "các lý lẽ mê hoặc" của mình và chấp nhận chúng mà không phê phán chỉ là vì ý muốn có bằng chứng vật lý cho chuyển động của Trái Đất.[70]
Galileo đã coi ý tưởng của một người cùng thời với ông là Johannes Kepler rằng Mặt Trăng gây ra thuỷ triều là "điều tưởng tượng vô nghĩa".[71] Galileo cũng từ chối chấp nhận các quỹ đạo elíp của các hành tinh do Kepler đưa ra,[72] coi vòng tròn là hình dạng "hoàn hảo" cho quỹ đạo chuyển động của các hành tinh.
Galileo Galilei. Chân dung vẽ bằng bút chì màu của Leoni.
Một bản sao của kính viễn vọng đầu tiên được cho là của Galileo Galilei, được trưng bày tại Đài thiên văn Griffith.

Công nghệ

Galileo đã có những đóng góp vào cái hiện nay được gọi là công nghệ, phân biệt rõ khỏi vật lý thuần tuý, và đề xuất nhiều thứ khác. Điều này không giống với sự phân biệt của Aristotle, ông coi mọi vật lý của Galileo là techne hay tri thức hữu ích, trái ngược với episteme, hay sự xem xét theo quan điểm triết học đối với các những nguyên nhân của sự vật. Trong giai đoạn 1595–1598, Galileo sáng chế và cải tiến một La bàn Địa lý và Quân sự thích hợp sử dụng cho các pháo thủnhững người vẽ bản đồ. Đây là việc cải tiến các thiết bị đã được thiết kế trước đó của Niccolò TartagliaGuidobaldo del Monte. Với các pháo thủ, ngoài một cách mới và an toàn hơn để nâng độ chính xác của pháo, nó còn cung cấp một cách tính toán nhanh chóng lượng thuốc súng cho các viên đạn pháo ở các kích thước và vật liệu khác nhau. Như một công cụ địa lý, nó cho phép xây dựng một hình đa giác đều bất kỳ, tính toán diện tích bất kỳ phần nào của hình đa giác hay hình tròn, và thực hiện nhiều tính toán khác. Năm 1593, Galileo chế tạo một nhiệt kế, sử dụng sự giãn nở và co lại của không khí trong một bóng đèn để di chuyển nước vào trong một ống gắn bên cạnh.
Năm 1609, Galileo cùng với Thomas Harriot người Anh và những người khác, là những người đầu tiên sử dụng một kính viễn vọng khúc xạ như dụng cụ để quan sát các ngôi sao, hành tinh hay các Mặt Trăng. Cái tên "kính viễn vọng" (telescope) được đặt cho dụng cụ của Galileo bởi một nhà toán học Hy Lạp, Giovanni Demisiani,[73] tại một bữa ăn được tổ chức năm 1611 bởi Hoàng tử Federico Cesi biến Galileo thành một thành viên trong Accademia dei Lincei của ông.[74] Cái tên xuất phát từ từ tiếng Hy Lạp tele = 'xa' và skopein = 'nhìn'. Năm 1610, ông đã sử dụng một kính viễn vọng ở cự ly gần để phóng đại các phần của những con côn trùng.[75] Tới năm 1624 ông đã hoàn thiện[76] một kính hiển vi phức hợp. Ông trao một thiết bị đó cho hồng y Zollern vào tháng 5 năm ấy để giới thiệu với Công tước Bavaria,[77] và vào tháng 9 ông gửi một chiếc khác cho Hoàng tử Cesi.[78] Những thành viên của Accademia dei Lincei lại đóng một vai trò trong việc đặt tên "kính hiển vi" (microscopea) một năm sau đó khi một thành viên của viện Giovanni Faber đặt tên cho sáng chế của Galileo từ từ tiếng Hy Lạp μικρόν (micron) có nghĩa "nhỏ", và σκοπεῖν (skopein) có nghĩa "để nhìn vào". Từ này được dự định cho giống với "kính viễn vọng".[79][80] Những hình vẽ các côn trùng được thực hiện nhờ một trong những kính hiển vi của Galileo, và được xuất bản năm 1625, dường như là tài liệu rõ ràng đầu tiên về việc sử dụng một kính hiển vi phức hợp.[81]
Năm 1612, sau khi đã xác định được các chu kỳ quỹ đạo của các vệ tinh Sao Mộc, Galileo đề xuất rằng với sự hiểu biết đủ chính xác về quỹ đạo của chúng một người có thể sử dụng các vị trí của chúng như một chiếc đồng hồ vũ trụ, và điều này có thể xác định kinh độ. Ông đã bỏ nhiều thời gian làm việc về vấn đề này trong phần còn lại cuộc đời mình; nhưng các vấn đề thực tế rất khó giải quyết. Phương pháp lần đầu áp dụng thành công là của Giovanni Domenico Cassini năm 1681 và sau đó được sử dụng nhiều trong các cuộc điều tra đất đai lớn; ví dụ, phương pháp này đã được Lewis and Clark sử dụng cho hoa tiêu trên biển, nơi mà các quan sát thiên văn bằng kính viễn vọng khó đạt được độ chính xác, vấn đề kinh độ cuối cùng đòi hỏi sự phát triển một đồng hồ hàng hải mang theo được, như thiết bị của John Harrison.
Trong năm cuối đời mình, khi đã mù hoàn toàn, ông thiết kế một cơ cấu hồi cho một chiếc đồng hồ quả lắc, một mô hình véctơ của nó có thể được thấy tại đây. Chiếc đồng hồ quả lắc thực tế hoạt động đầu tiên do Christiaan Huygens chế tạo thập niên 1650. Galilei đã phác thảo nhiều phát minh, như một ngọn nến và một chiếc gương để phản chiếu ánh sáng xuyên quan một ngôi nhà, một máy nhặt khoai tây tự động, một chiếc lược bỏ túi gấp lại được như một đồ ăn, và một thứ dường như là một chiếc bút bi.

Vật lý

Galileo e Viviani, 1892, Tito Lessi
Công trình lý thuyết và thực nghiệm của Galileo về chuyển động của các thiên thể, cùng với công trình phần lớn độc lập của Kepler và René Descartes, là sự khởi đầu của cơ học cổ điển được Isaac Newton phát triển.
Một tiểu sử do học trò của Galileo Vincenzo Viviani nói rằng Galileo đã thả những quả bóng bằng cùng vật liệu, nhưng có trọng lượng khác nhau, từ Tháp nghiêng Pisa để chứng minh rằng thời gian rơi của chúng không phụ thuộc vào trọng lượng.[82] Điều này trái ngược với điều Aristotle đã dạy: rằng các vật thể nặng rơi nhanh hơn các vật thể nhẹ, liên quan trực tiếp tới trọng lượng.[83] Tuy câu chuyện đã được kể lại nhiều lần, không có lời nào nói rằng chính Galileo đã làm một thực nghiệm như vậy, và nói chung các nhà sử học tin rằng nó hầu như chỉ là một thực nghiệm ý tưởng không diễn ra trong thực tế.[84]
Trong cuốn Discorsi năm 1638 của mình nhân vật Salviati của Galileo được mọi người coi là người phát ngôn của ông, đã cho rằng mọi trọng lượng khác biệt, sẽ rơi với cùng tốc độ tuyệt đối trong chân không. Nhưng điều này trước đó đã được Lucretius đề cập tới[85] và cả Simon Stevin.[86] Salviati cũng cho rằng có thể chứng minh bằng thực nghiệm điều này bằng cách so sánh các chuyển động đu đưa trong không khí với những quả lắc chì hay bần có trọng lượng khác nhau nhưng có kích thước tương tự nhau.
Galileo đã đề xuất rằng một vật thể rơi sẽ rơi với gia tốc đồng nhất, khi sức cản của môi trường mà nó đang rơi trong đó là không đáng kể, hay trong trường hợp giới hạn sự rơi của nó xuyên qua chân không.[87] Ông cũng xuất phát từ định luật động học chính xác cho khoảng cách đã được đi qua trong một gia tốc đồng nhất bắt đầu từ sự nghỉ, có nghĩa nó tỷ lệ với bình phương của thời gian ( d ∝ t 2 ).[88] Tuy nhiên, cả hai trường hợp những khám phá đó mới hoàn toàn ở mức sơ khởi. Định luật bình phương thời gian cho sự thay đổi gia tốc đồng nhất đã được Nicole Oresme biết tới từ thế kỷ 14,[89]Domingo de Soto, ở thế kỷ 16, cho rằng các vật thể rơi qua một môi trường đồng nhất sẽ có gia tốc đồng nhất[90] Galileo đã thể hiện định luật bình phương thời gian bằng các giải thích hình học và các từ toán học chính xác, so với các tiêu chuẩn của thời ấy. (Những người khác thể hiện lại định luật theo các thuật ngữ đại số). Ông cũng kết luận rằng các vật thể duy trì chuyển động của chúng trừ khi một lực — thường là ma sát — tác động vào chúng, bác bỏ lý thuyết nói chung được chấp nhận của Aristotele rằng các vật thể "tất nhiên" giảm tốc độ và dừng lại trừ khi một lực tác động vào chúng (các ý tưởng triết học liên quan tới quán tính đã được Ibn al-HaythamJean Buridan đề xuất từ nhiều thế kỷ trước, và Joseph Needham, Mo Tzu đã đề xuất nó từ nhiều thế kỷ trước nữa, nhưng đây là lần đầu tiên nó được trình bày ở dạng toán học, được kiểm chứng trong thực tế, và đưa ra ý tưởng lực ma sát, sự đột phá quan trọng trong đánh giá quán tính). Nguyên tắc quán tính của Galileo nói: "Một vật thể chuyển động trên một bề mặt phẳng sẽ tiếp tục duy trì hướng và tốc độ trừ khi bị tác động." Nguyên tắc này đã được tích hợp vào trong Các định về luật chuyển động của Newton (định luật thứ nhất).
Vòm thánh đường Pisa với cây "đèn của Galileo"
Galileo cũng tuyên bố (không chính xác) rằng một sự đu đưa của con lắc luôn mất cùng khoảng thời gian, độc lập với biên độ. Có nghĩa, một con lắc đơn giản là đẳng thời. Nói chung mọi người tin rằng ông đi đến kết luận này khi quan sát sự đua đưa của ngọn đèn chùm trong thánh đường Pisa, đo thời gian của nó theo mạch của mình. Tuy nhiên dường như ông không tiến hành thực nghiệm bởi tuyên bố là đúng chỉ với những sự đu đưa rất nhỏ như Christian Huygens đã khám phá ra. Con trai của Galileo, Vincenzo, đã phác thảo một chiếc đồng hồ dựa trên các lý thuyết của cha mình năm 1642. Chiếc đồng hồ này không bao giờ được chế tạo bởi những sự đu đưa lớn bởi cái hồi nghiêng của nó, sẽ là một chiếc đồng hồ tồi. (Xem Kỹ thuật bên trên.)
Năm 1638 Galileo đã miêu tả một phương pháp thực nghiệm để đo vận tốc ánh sáng bằng cách bố trí hai người quan sát, mỗi người cầm một đèn lồng có cửa che, quan sát đèn của nhau ở một khoảng cách. Người quan sát đầu tiên mở cửa sập ở cây đèn của mình, và người thứ hai, ngay khi thấy ánh sáng, lập tức mở cửa sập ở cây đèn của mình. Thời gian giữa lúc người quan sát đầu tiên mở cửa sập và quan sát thấy ánh sáng từ cây đèn của người quan sát thứ hai cho thấy khoảng thời gian ánh sáng cần để đi tiến lùi giữa hai người quan sát. Galileo đã thông báo rằng khi ông thử nó ở một khoảng cách chưa tới một dặm, ông không thể xác định liệu ánh sáng có xuất hiện đồng thời hay không.[91] Trong một khoảng thời gian giữa khi Galileo qua đời và năm 1667, các thành viên của Accademia del Cimento Florence đã lặp lại thực nghiệm ở khoảng cách khoảng một dặm và có được kết quả tương tự.[92]
Galileo ít được biết tới về, nhưng vẫn được quy cho là, một trong những người đầu tiên hiểu được tần số âm thanh. Bằng cách cào một cái đục ở những tốc độ khác nhau, ông kết nối độ cao thấp của âm thanh tạo ra do chiếc đục, một cách đo tần số.
Trong cuốn Đối thoại năm 1632 của mình Galileo đã trình bày một lý thuyết vật lý về thuỷ triều, dựa trên chuyển động của Trái Đất. Nếu chính xác, nó sẽ là một lý lẽ mạnh cho sự chuyển động thực tế của Trái Đất. Trên thực tế, cái tên ban đầu của cuốn sách miêu tả nó như một cuộc đối thoại về thuỷ triều; đoạn nói về thuỷ triều đã bị loại bỏ theo lệnh của Toà án dị giáo. Lý thuyết của ông là cái nhìn đầu tiên vào tầm quan trọng của các hình dạng vịnh biển ảnh hưởng trên kích cỡ và thời gian thuỷ triều; ví dụ, ông đã tính toán chính xác các đợt thuỷ triều nhỏ ở giữa dọc theo Biển Adriatic so với các đợt thuỷ triều ở hai đầu cuối. Tuy nhiên, nếu là một sự tính toán tổng thể về nguyên nhân thuỷ triều, lý thuyết của ông là sai lầm. Kepler và những người khác đã chính xác khi liên kết Mặt Trăng với những ảnh hưởng trên thuỷ triều, dựa trên dữ liệu kinh nghiệm, tuy nhiên một lý thuyết vật lý thực sự về thuỷ triều chỉ xuất hiện với Newton.
Galileo cũng đưa ra nguyên tắc căn bản của tương đối, rằng các định luật của vật lý là như nhau trong bất kỳ hệ thống nào đang chuyển động ở một tốc độ không đổi theo một đường thẳng, không cần biết tới tốc độ và hướng. Vì thế, không có chuyển động tuyệt đối hay sự nghỉ tuyệt đối. Nguyên tắc này cung cấp nền tảng căn bản cho các định luật về chuyển động của Newton và là trung tâm của thuyết tương đối của Einstein.

Toán học

Cuốn sách "Hai khoa học mới" năm 1638 của Galileo
Trong khi việc áp dụng toán học vào vật lý thực nghiệm của Galileo có tính đột phá, các phương pháp toán học của ông là phương pháp tiêu chuẩn của thời kỳ ấy. Sự phân tích và các bằng chứng dựa nhiều trên lý thuyết về tỷ lệ của Eudoxus, như đã được trình bày trong cuốn sách thứ năm của Các nguyên lý Euclid. Lý thuyết này chỉ có được một thế kỷ trước đó, nhờ các bản dịch chính xác của Tartaglia và những người khác; nhưng cuối đời Galileo nó trở thành lạc hậu bởi các phương pháp đại số của Descartes.
Galileo đã tạo ra một phần nguyên thuỷ và thậm chí một công trình mang tính tiên tri trong toán học: nghịch lý Galileo, thể hiện rằng có nhiều bình phương hoàn hảo khi có tổng thể các con số, thậm chí đa số các con số không phải là những bình phương hoàn hảo. Điều dường như trái ngược này đã được giải quyết 250 năm sau trong công trình của Georg Cantor.

Tranh cãi với Giáo hội

Bài chi tiết: Vụ Galileo
Bức tranh Galileo đối mặt với Toà án dị giáo La Mã năm 1857 của Cristiano Banti
Tham khảo Thánh Vịnh 93:1, Thánh Vịnh 96:10, và 1 Sử biên niên 16:30 trong Kinh Thánh Kitô giáo Tây phương (dựa trên bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ) có đoạn nói rằng: "Chúa thiết lập Địa Cầu, Địa Cầu không lay chuyển". Cũng trong đoạn Thánh Vịnh 104:5 nói, "Chúa lập Địa Cầu trên nền vững, không chuyển lay muôn thuở muôn đời!". Hơn nữa, Sách Giảng viên 1:5 viết rằng: "Mặt trời mọc rồi lặn; mặt trời vội vã ngả xuống nơi nó đã mọc lên" v.v..[93]
Galileo đã bảo vệ thuyết nhật tâm, và tuyên bố rằng nó không trái ngược với các đoạn Kinh Thánh đó. Ông lấy quan điểm của Augustine về Kinh Thánh: không hiểu mọi đoạn theo nghĩa đen, đặc biệt khi Kinh Thánh bị nghi ngờ là cuốn sách về thơ và các bài hát, chứ không phải là một cuốn sách chỉ dẫn hay lịch sử. Những người viết Kinh Thánh đã viết từ quan điểm của thế giới Trái Đất, và từ quan điểm đó mặt trời mọc và lặn. Tuy nhiên Galileo đã công khai đặt nghi vấn sự đáng tin cậy trong đoạn Sách Giôsua 10:13 nói: "Mặt Trời liền dừng lại, Mặt Trăng lập tức đứng lại, cho đến khi dân đã trị tội các địch thù", có nghĩa là Mặt Trời và Mặt Trăng đã bị ra lệnh ngừng chuyển động để cho phép người Israel giành chiến thắng.
Tới năm 1616 những cuộc tấn công vào Galileo đã lên tới đỉnh điểm, và ông tới Roma để tìm cách thuyết phục Giáo hội không ngăn cấm các ý tưởng của ông. Cuối cùng, hồng y Bellarmine, theo các chỉ thị của Toà án dị giáo, ra lệnh cho ông "không tin hay bảo vệ" ý tưởng rằng Trái Đất di chuyển và Mặt Trời đứng yên ở trung tâm. Chỉ thị không ngăn cản Galileo thảo luận các lý thuyết nhật tâm (vì thế duy trì một sự chia rẽ bên ngoài giữa khoa học và giáo hội). Trong nhiều năm tiếp theo Galileo đứng ngoài cuộc tranh cãi. Ông tiếp tục dự án của mình khi viết một cuốn sách về chủ đề này, được khuyến khích bởi sự lên ngôi của hồng y Barberini khi ông trở thành Giáo hoàng Urbanô VIII năm 1623. Barberini là một người bạn và là người hâm mộ Galileo, và đã phản đối cuộc kết án Galileo năm 1616. Cuốn sách, Đối thoại về Hai Hệ thống Thế giới Chính, được xuất bản năm 1632, với sự cho phép chính thức của Toà án dị giáo và Giáo hoàng.
Đích thân Giáo hoàng Urbanô VIII yêu cầu Galileo đưa ra những lý lẽ ủng hộ và chống thuyết nhật tâm trong cuốn sách, và cẩn thận không ủng hộ thuyết nhật tâm. Ông lại có một yêu cầu khác, rằng các quan điểm của riêng mình về vấn đề sẽ được đưa vào trong cuốn sách của Galileo. Chỉ yêu cầu sau cùng này được Galileo thực hiện. Không biết vô tình hay hữu ý, Simplicio, người bảo vệ quan điểm Địa tâm của Aristotele trong Đối thoại về Hai Hệ thống Thế giới Chính, thường tự mắc vào các lỗi của chính mình và thỉnh thoảng có vẻ như một người thiểu năng. Điều này khiến Đối thoại về Hai Hệ thống Thế giới Chính có vẻ là một cuốn sách cổ vũ; một cuộc tấn công vào hệ nhật tâm của Aristotele và bảo vệ lý thuyết của Copernicus. Nguy hại hơn, Galileo đã đặt các lời lẽ của Giáo hoàng Urbanô VIII vào miệng Simplicio. Đa số các nhà sử học đồng ý rằng Galileo hành động một cách không chủ ý và bị cô lập trước phản ứng với cuốn sách của mình.[94] Tuy nhiên, Giáo hoàng không xem nhẹ sự nhạo báng bị nghi ngờ đó. Galileo đã mất một trong những người ủng hộ lớn và quyền uy nhất của mình, và bị gọi tới Rôma để bảo vệ những điều ông đã viết.
Với việc để mất nhiều người ủng hộ tại Rôma vì cuốn Đối thoại về Hai Hệ thống Thế giới Chính, Galileo bị gọi ra trước toà vì nghi ngờ dị giáo năm 1633. Phán quyết của Toà án dị giáo nằm trong ba phần chính:
  • Galileo bị xác định "rất nghi ngờ về dị giáo", nói rõ là đã tin vào các ý kiến rằng Mặt Trời nằm im ở trung tâm vũ trụ, rằng Trái Đất không phải trung tâm vũ trụ và chuyển động, rằng một người có thể tin vào và bảo vệ một ý kiến coi nó là đúng sau khi nó đã bị tuyên bố là trái ngược với Kinh Thánh linh thiêng. Ông bị yêu cầu "từ bỏ, nguyền rủa và ghê tởm" các ý kiến đó.[95]
  • Ông bị ra lệnh bỏ tù; phán quyết này sau đó được đổi thành quản thúc tại gia.
  • Cuốn Đối thoại của ông bị cấm; và trong một hành động không được công bố tại phiên xử, việc xuất bản mọi tác phẩm của ông bị cấm, gồm cả những tác phẩm ông có thể viết trong tương lai.[96]
Theo truyền thuyết dân gian, sau khi công khai từ bỏ lý thuyết của ông rằng Trái Đất quay quanh Mặt Trời, Galileo được cho là đã thì thầm câu mang tính chống đối sau: Dù sao nó vẫn chuyển động, nhưng không có bằng chứng rằng thực tế ông đã nói câu đó hay một thứ gì khác như thế. Lời kể đầu tiên về việc này xuất hiện một thế kỷ sau khi ông mất.[97]
Sau một giai đoạn thân thiết với Ascanio Piccolomini (Tổng giám mục Siena), Galileo được cho phép quay trở lại ngôi nhà của ông tại Arcetri gần Florence, nơi ông sống nốt phần đời trong tình trạng bị quản thúc, và nơi ông cuối cùng bị mù hoàn toàn. Chính khi bị quản thúc Galileo đã dành trọn thời gian cho một trong những tác phẩm tốt nhất của ông, Hai Khoa học Mới. Ở đây ông đã tóm tắt công việc mà mình đã làm trong khoảng bốn mươi năm, về hai khoa học hiện được gọi là động họcsức bền vật liệu. Cuốn sách này nhận được sự đánh giá cao từ Albert Einstein.[98] Nhờ tác phẩm này, Galileo thường được gọi là "người cha của vật lý hiện đại".
Galileo mất ngày 8 tháng 1 năm 1642 ở tuổi 77. Đại Công tước Tuscany, Ferdinando II, muốn chôn cất ông trong tòa nhà chính của Vương cung thánh đường Santa Croce di Firenze, gần lăng mộ của cha ông và các tổ tiên khác, và dựng một lăng mộ bằng đá mable để vinh danh ông.[99] Tuy nhiên, các kế hoạch này đã bị loại bỏ, sau khi Giáo hoàng Urban VIII và cháu của mình hồng y Francesco Barberini phản đối.[100] Thay vào đó ông được chôn cất trong một căn phòng nhỏ bên cạnh nhà nguyện của những tu sĩ mới ngay cuối một hành lang từ gian bên phía nam của vương cung thánh đường tới phòng để đồ thờ.[101] Ông được chôn lại trong phòng chính của vương cung thánh đường năm 1737 sau khi một đài kỷ niệm đã được dựng ở đó để vinh danh ông.[102]
Lệnh cấm in lại các tác phẩm của Galileo của Toà án dị dáo được dỡ bỏ năm 1718 khi có giấy phép cho phép xuất bản các tác phẩm của ông (ngoại trừ cuốn Đối thoại đã bị lên án) tại Florence.[103] Năm 1741 Giáo hoàng Biển Đức XIV cho phép xuất bản một bộ hoàn chỉnh các tác phẩm khoa học của Galileo[104] gồm một phiên bản không bị kiểm duyệt nhiều của Đối thoại.[105] Năm 1758 lệnh cấm chung với các tác phẩm ủng hộ thuyết nhật tâm của ông bị dỡ bỏ trong Danh mục sách cấm xuất bản, dù lệnh cấm rõ ràng về các phiên bản chưa được kiểm duyệt của cuốn Đối thoại và cuốn Về chuyển động quay của Copernicus vẫn còn lại.[106] Tất cả dấu vết về sự phản đối chính thức với hệ nhật tâm của Giáo hội biến mất năm 1835 khi các tác phẩm này cuối cùng được loại khỏi danh mục.[107]
Năm 1939, trong bài nói chuyện đầu tiên trước Viện hàn lâm Khoa học Giáo hoàng được một vài tháng sau khi được bầu lên vị trí Giáo hoàng, Giáo hoàng Piô XII đã miêu tả Galileo là một trong số "các anh hùng táo bạo nhất trong nghiên cứu ... không sợ hãi trước những trở ngại và nguy hiểm khi thực hiện công việc, cũng không mù quáng tuân theo những vĩ nhân thời trước"[108] Cố vấn thân cận của ông trong 40 năm, Giáo sư Robert Leiber đã viết: "Piô XII đã rất cẩn thận để không đóng bất kỳ cánh cửa nào một cách vội vã (với khoa học). Ông là người nhiệt tâm về vấn đề này và đã hối tiếc về nó trường hợp của Galileo."[109]
Ngày 15 tháng 2 năm 1990, trong một bài phát biểu tại Đại học Sapienza Roma,[110] Hồng y Ratzinger (sau này trở thành Giáo hoàng Benedict XVI) đã dẫn ra một số quan điểm hiện tại về vụ Galileo như nguyên nhân hình thành cái mà ông gọi là "một trường hợp có tính triệu chứng cho phép chúng ta thấy sự tự nghi ngờ của thời đại hiện đại, của khoa học và công nghệ ngày nay đi sâu tới mức nào."[111] Một số quan điểm ông trích dẫn là các quan điểm của nhà triết học Paul Feyerabend, người mà ông cho rằng đã nói "Giáo hội ở thời điểm của Galileo tuân theo lý lẽ mạnh hơn chính Galileo, và giáo hội cũng xem xét các hậu quả đạo đức và xã hội của các bài giảng của Galileo. Tuyên bố của giáo hội chống lại Galileo là dựa trên lý trí và chính xác và việc xem xét lại phán quyết đó chỉ công bằng khi dựa trên nền tảng của thời điểm chính trị."[111] Hồng y không nói rõ liệu ông đồng ý hay không đồng ý với các ý kiến của Feyerabend. Tuy nhiên, ông đã nói: "Sẽ là điên rồ khi thực hiện một lời xin lỗi bốc đồng trên cơ sở của những quan diểm đó".[111]
Ngày 31 tháng 11 năm 1992, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thể hiện sự hối tiếc về cách vụ Galileo được phán xét, và chính thức công nhận rằng Trái Đất không đứng yên, như kết quả của một cuộc nghiên cứu do Viện Văn hoá Giáo hoàng tiến hành.[112][113] Tháng 3 năm 2008, Vatican đề nghị hoàn thành việc phục hồi cho Galileo bằng cách dựng một bức tượng ông bên trong những bức tường thành Vatican.[114] Tháng 12 cùng năm, trong các sự kiện kỷ niệm lần thứ 400 những quan sát thiên văn bằng kính viễn vọng sớm nhất của Galileo, Giáo hoàng Benedict XVI đã ca ngợi những đóng góp của ông cho thiên văn học.[115]

Các tác phẩm

Bức tượng bên ngoài Uffizi, Florence.
Các tác phẩm đầu tiên của Galileo miêu tả các thiết bị khoa học gồm tiểu luận năm 1586 với tiêu đề Chiếc Cân Nhỏ (La Billancetta) miêu tả một chiếc cân chính xác để cân các vật thể trong không khí hay trong nước[116] và cuốn sách giáo khoa in năm 1606 Le Operazioni del Compasso Geometrico et Militare về hoạt động của một compa hình học và quân sự.[117]
Các tác phẩm đầu tiên của ông về động lực, khoa học chuyển động và các cơ cấu là cuốn De Motu (Về Chuyển động) năm 1590 và Le Meccaniche (Cơ học) khoảng năm 1600. Cuốn đầu dựa trên động lực chất lỏng của Aristotele-Archimede và cho rằng tốc độ rơi hấp dẫn trong một môi trường chất lỏng tỷ lệ với số dôi của trọng lượng riêng của vật thể trong môi trường đó, theo đó trong một chân không các vật thể sẽ rơi với các tốc độ tỷ lệ với trọng lượng riêng của chúng. Nó cũng tán thành lực đẩy động lực Hipparchan-Philoponan theo đó lực đẩy là tự tiêu hao và rơi tự do trong chân không sẽ có một tính chất tốc độ cuối cùng theo trọng lượng riêng sau một giai đoạn gia tốc ban đầu.
Cuốn Sứ giả Sao (Sidereus Nuncius) năm 1610 của Galileo là chuyên luận khoa học đầu tiên được xuất bản dựa trên các quan sát được thực hiện bằng kính viễn vọng và gồm cả sự khám phá các vệ tinh Galileo. Galileo xuất bản một cuốn sách miêu tả các đốm mặt trời năm 1613 với tiêu đề Những bức thư về các Đốm mặt trời[118] cho rằng Mặt trời và các tầng trời là không hoàn hảo. Cũng trong năm 1610 qua các quan sát bằng kính viễn vọng ông thông báo về các bướu và các pha đầy đủ của Sao Kim bác bỏ hệ địa tâm và ủng hộ sự chuyển đổi từ thiên văn học địa tâm của Ptolemy sang thiên văn học địa nhật tâm ở thế kỷ 17 như các mô hình hành tinh của Tycho và Capella.[119] Năm 1615 Galileo chuẩn bị một bản viết tay được gọi là Thư gửi Đại Công tước Christina mãi tới năm 1636 mới được in. Bức thư này là một phiên bản sửa đổi của Thư gửi Castelli, bị Toà án dị giáo cho là một sự xúc phạm tới tín ngưỡng khi ủng hộ thuyết Copernicus là đúng đắn về vật lý và cho rằng nó thích hợp với Kinh thánh.[120] Năm 1616, sau lệnh của Toà án dị giáo cấm Galileo tin vào hay bảo vệ quan điểm của Copernicus, Galileo đã viết Bài thuyết trình về thuỷ triều (Discorso sul flusso e il reflusso del mare) dựa trên mô hình Trái Đất của Copernicus, dưới hình thức một bức thư riêng gửi Giáo hoàng Orsini.[121] Năm 1619, Mario Guiducci, một học sinh của Galileo, xuất bản một bài viết với hầu hết nội dung do Galileo thực hiện với tiêu đề Bài thuyết trình về các Sao chổi (Discorso Delle Comete), đưa ra lý lẽ chống lãi cách diễn giải về Sao chổi của Dòng Tên.[122]
Năm 1623, Galileo xuất bản Người thí nghiệm – Il Saggiatore, tấn công các lý thuyết dựa trên mô hình của Aristotle và ủng hộ việc thành lập các ý tưởng khoa học dựa trên thực nghiệm và toán học. Cuốn sách rất thành công và thậm chí còn có được sự ủng hộ từ các giới chức cao cấp bên trong Giáo hội Công giáo.[123] Sau thành công của Người thí nghiệm, Galileo xuất bản Đối thoại về Hai Hệ thống Thế giới Chính (Dialogo sopra i due massimi sistemi del mondo) năm 1632. Dù đã thận trọng để tránh vi phạm vào các điều cấm của Toà án dị giáo năm 1616, những tuyên bố trong cuốn sách ủn hộ lý thuyết Copernicus và một mô hình hệ mặt trời phi địa tâm khiến Galileo bị đưa ra xét xử và cấm xuất bản. Dù có lệnh cấm xuất bản, Galileo vẫn xuất bản cuốn Những bài thuyết trình về các Chứng minh Toán học Liên quan tới Hai Khoa học Mới (Discorsi e Dimostrazioni Matematiche, intorno a due nuove scienze) năm 1638 tại Hà Lan, bên ngoài tầm tài phán của Toà án dị giáo.
  • Chiếc Cân nhỏ (1586)
  • Về chuyển động (1590) [124]
  • Cơ học (khoảng 1600)
  • Sứ giả Sao (1610; bằng tiếng Latinh, Sidereus Nuncius)
  • Những bức thư về các Đốm mặt trời (1613)
  • Thư gửi Đại Công tước Christina (1615; xuất bản năm 1636)
  • Thuyết trình về Thuỷ triều (1616; tiếng Italia, Discorso del flusso e reflusso del mare)
  • Thuyết trình về Sao chổi (1619; tiếng Italia, Discorso Delle Comete)
  • Người thí nghiệm (1623; tiếng Italia, Il Saggiatore)
  • Đối thoại về Hai Hệ thống Thế giới Chính (1632; tiếng Italia Dialogo dei due massimi sistemi del mondo)
  • Những bài Thuyết trình về các Chứng minh Toán học Liên quan tới Hai Khoa học Mới (1638; tiếng Italia, Discorsi e Dimostrazioni Matematiche, intorno a due nuove scienze)

Di sản

Những khám phá thiên văn học và nghiên cứu trong lý thuyết của Copernicus của Galileo để lại một di sản trường cửu gồm việc phân loại bốn Mặt Trăng lớn của Sao Mộc do Galileo phát hiện (Io, Europa, GanymedeCallisto) và được gọi là các vệ tinh Galileo. Các nỗ lực và nguyên tắc khoa học khác được đặt theo tên Galileo gồm tàu vũ trụ Galileo,[125] tàu vũ trụ đầu tiên đi vào quỹ đạo quanh Sao Mộc, hệ thống vệ tinh hoa tiêu toàn cầu Galileo đã được đề xuất,[126] sự biến đổi giữa các hệ thống quán tính trong cơ học cổ điển bao hàm sự biến đổi GalileoGal là một đơn vị của gia tốc không thuộc hệ SI.[127][128][129]
Để trùng một phần với những quan sát thiên văn đầu tiên được ghi lại của Galileo bằng kính viễn vọng, Liên hiệp quốc đã coi năm 2009 là Năm Thiên văn học Quốc tế.[130] Một kế hoạch toàn cầu do Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU) đặt ra, nó cũng được UNESCO — cơ quan Liên hiệp quốc chịu trách nhiệm về các vấn đề Giáo dục, Khoa học và Văn hóa, tán thành. Năm Thiên văn học Quốc tế 2009 được dự định là một ngày hội toàn cầu của thiên văn học và những đóng góp của nó vào xã hội và văn hoá, thu hút sự chú ý toàn thế giới không chỉ về thiên văn học mà còn về khoa học nói chung, với ưu tiên hướng về những người trẻ tuổi.
Nhà viết kịch Đức thế kỷ 20 Bertolt Brecht đã ghi lại cuộc đời Galileo trong tác phẩm Cuộc đời Galileo của ông (1943). Cũng có một vở kịch thế kỷ 21 về cuộc đời ông.[131]
Galileo Galilei gần đây được chọn như một motif chính cho đồng xu sưu tập có giá trị rất cao: đồng €25 đồng xu kỷ niệm Năm Thiên văn học Quốc tế, được đúc năm 2009. Đồng xu này cũng kỷ niệm sinh lần thứ 400 phát minh kính viễn vọng của Galileo. Hình trên đồng xu thể hiện một phần chân dung ông và chiếc kính viễn vọng. Phía sau là một trong những hình vẽ đầu tiên của ông về bề mặt Mặt Trăng.[132] Trong đồng xu bạc những chiếc kính viễn vọng khác cũng được thể hiện: Kính viễn vọng Isaac Newton, đài quan sát thiên văn tại Kremsmünster Abbey, một kính viễn vọng hiện đại, một kính viễn vọng radio và một kính viễn vọng không gian. Trong năm 2009, kính viễn vọng Galileo đường kính 50 mm cũng được bán ra với chi phí thấp và chất lượng tương đối cao phục vụ cho mục đích giáo dục.[133]

Ghi chú

  1. ^ a ă â b c d đ O'Connor, J. J.; Robertson, E. F. “Galileo Galilei”. The MacTutor History of Mathematics archive. Đại học St Andrews, Scotland. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2007.
  2. ^ F. Vinci, Ostilio Ricci da Fermo, Maestro di Galileo Galilei, Fermo, 1929.
  3. ^ “Vincenzio Viviani”. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  4. ^ Drake (1978, tr.1). Ngày sinh của Galileo theo lịch Julius, lịch sau này có hiệu lực trên tất cả các quốc gia theo Kitô giáo. Năm 1582 nó được thay thế bằng lịch Gregory ở Ý và một số nước theo Công giáo khác. Trừ khi có trích dẫn khác, ngày đề cập trong bài viết này được lấy theo lịch Gregory.
  5. ^ Galileo Galilei trong bản Catholic Encyclopedia năm 1913 của John Gerard
  6. ^ Singer, Charles (1941), A Short History of Science to the Nineteenth Century, Clarendon Press, tr. 217
  7. ^ a ă Weidhorn, Manfred (2005). The Person of the Millennium: The Unique Impact of Galileo on World History. iUniverse. tr. 155. ISBN 0-595-36877-8.
  8. ^ Finocchiaro 2007.
  9. ^ "Galileo and the Birth of Modern Science, by Stephen Hawking, American Heritage's Invention & Technology, Spring 2009, quyển 24, Số 1, tr. 36
  10. ^ Sharratt 1994, tr. 127–131, McMullin 2005a
  11. ^ Reston 2000, tr. 3–14
  12. ^ Sharratt 1994, tr. 45–66
  13. ^ Rutkin, H. Darrel. “Galileo, Astrology, and the Scientific Revolution: Another Look”. Program in History & Philosophy of Science & Technology, Đại học Stanford. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2007.
  14. ^ Sharratt 1994, tr. 17, 213
  15. ^ Sobel 2000, tr. 5 Chương 1. "Nhưng do ông chưa từng cưới mẹ của Virginia, ông xem chính cô ấy không thể kết hôn. Không lâu sau sinh nhật thứ 13 của ô ấy, ông đưa cô ấy đến tu viện San Matteo ở Arcetri."
  16. ^ Pedersen, O. (24 May–27, 1984). “Galileo's Religion”. Proceedings of the Cracow Conference, The Galileo affair: A meeting of faith and science. Cracow: Dordrecht, D. Reidel Publishing Co. tr. 75–102. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2008.
  17. ^ Gebler 1879, tr. 22–35.
  18. ^ Anonymous (2007). “History”. Accademia Nazionale dei Lincei. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2008.
  19. ^ Finocchiaro 1989, tr. 147–149, 153, Có các tài liệu mâu thuẫn nhau miêu tả bản chất của sự cảnh cáo này và hoàn cảnh phổ biến chúng.
  20. ^ Carney, Jo Eldridge (2000). Renaissance and Reformation, 1500-1620: a. Greenwood Publishing Group. ISBN 0-313-30574-9.
  21. ^ Allan-Olney 1870
  22. ^ Sharratt 1994, tr. 204-205
  23. ^ Cohen, H. F. (1984). Quantifying Music: The Science of Music at. Springer. tr. 78–84. ISBN 90-277-1637-4.
  24. ^ Field, Judith Veronica (2005). Piero Della Francesca: A Mathematician's Art. Yale University Press. tr. 317–320. ISBN 0-300-10342-5.
  25. ^ Drake 1957, tr. 237−238.
  26. ^ Wallace 1984.
  27. ^ Feyerabend, Paul (1993). Against Method . London: Verso. tr. 129. ISBN 0-86091-646-4.
  28. ^ Sharratt 1994, tr. 202–04, Galileo 1954, tr. 250–52, Favaro 1890 8:274–75) (tiếng Ý)
  29. ^ Sharratt 1994, tr. 202–04, Galileo 1954, tr. 252, Favaro 1890 8:275) (tiếng Ý)
  30. ^ Hawking 1988, tr. 179
  31. ^ Einstein 1954, tr. 271. "Propositions arrived at by purely logical metans are completely empty as regards reality. Because Galileo realised this, and particularly because he drummed it into the scientific world, he is the father of modern physics—indeed, of modern science altogether."
  32. ^ Drake 1990, tr. 133–34
  33. ^ “Sidereus Nuncius”. Rare Book Room. 1610. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  34. ^ Drake 1978, tr. 146
  35. ^ Trong Sidereus Nuncius Favaro 1890 1892, 3:81Bản mẫu:Latin) Galileo nói rằng ông đi tới kết luận này ngày 11 tháng 1. Drake 1978, tr. 152, tuy nhiên, sau khi nghiên cứu các bản viết tay chưa xuất bản về các quan sát của Galileo, kết luận rằng mãi tới ngày 15 tháng 1 ông mới kết luận như vậy.
  36. ^ Sharratt 1994, tr. 17
  37. ^ Linton 2004, tr. 98,205, Drake 1978, tr. 157
  38. ^ Drake 1978, tr. 158–168, Sharratt 1994, tr. 18–19
  39. ^ Drake 1978, tr. 168, Sharratt 1994, tr. 93
  40. ^ Thoren 1989, tr. 8; Hoskin 1999, tr. 117
  41. ^ Trong mô hình của Capellan chỉ có Sao Thủy và Sao Kim là quay quanh Mặt Trời, trong khi ở phiên bản mở rộng do Riccioli phát triển thì Sao Hỏa cũng quay quanh Mặt Trời, nhưng quỹ đạo của Sao Mộc và Sao Thổ thì có trọng tâm trên Trái Đất
  42. ^ Baalke, Ron. “Historical Background of Saturn's Rings”. Jet Propulsion Laboratory, California Institute of Technology, NASA. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2007.
  43. ^ Trong biến thể 'quán tính' Thomist của Kepler về động lực kiểu Aristotle trái ngược với biến thể động lực quán tính của Galileo mọi vật thể vũ trụ đều có một sự kháng cự cố hữu với mọi chuyển động và khuynh hướng nghỉ, vốn được gọi là 'quán tính'. Khái niệm này về quán tính ban đầu được Averroes đưa ra ở thế kỷ 12 chỉ dành cho các thiên thể để giải thích tại sao chúng không chuyển động với tốc độ vô hạn theo động lực học học Aristotle, như chúng phải thế nếu không có lực nào tác động tới những chuyển động của chúng. Và trong các cơ cấu vũ trụ trong cuốn Astronomia Nova (Thiên văn Mới) của ông quán tính của các hành tinh lớn hơn chuyển động quỹ đạo mặt trời của chúng bởi chúng buộc phải chuyển động quanh một mặt trời trời đang tự quay như những chiếc nan hoa của một chiếc bánh xe đang quay. Và nói chung hơn nó dự đoán tất cả nhưng chỉ những hành tinh có vệ tinh chuyển động quanh, ví dụ như Sao Mộc, cũng quay để đẩy chúng bay xung quanh, theo đó, ví dụ, Mặt Trăng, không quay, vì thế luôn quay một phía về Trái Đất, bởi nó không có vệ tinh để đẩy quanh. Đây dường như là những dự đoán lý thuyết đúng đắn đầu tiên về độc lực ‘quán tính’ Thomist Aristotle cũng như về vật lý hậu thiên thể. Trong cuốn Epitome (Toát yếu) (Xem tr. 514 on p896 của Encyclopædia Britannica 1952 ấn bản Great Books of the Western World) năm 1630 của mình Kepler mạnh mẽ nhấn mạnh rằng ông đã chứng minh chuyển động trục của Mặt trời từ các chuyển động hành tinh trong Commentaries on Mars (Bình luận về sao Hoả) Ch 34 từ lâu trước khi nó được phát hiện nhờ quan sát chuyển động của đốm mặt trời bằng kính thiên văn.
  44. ^ Drake 1978, tr. 209. Sizzi đã báo cáo rằng các quan sát của ông và những người bạn đã thực hiện trong một năm đến Orazio Morandi trong lá thư ghi ngày 10 tháng 4 năm 1613 Favaro 1890 1901, 11:491 (tiếng Ý)). Morandi sau đó chuyển tiếp một bản sao tới Galileo.
  45. ^ Trong các hệ địa tĩnh sự biến đổi hàng năm thể hiện trong sự chuyển động của các vệt đen mặt trời chỉ có thể được giải thích đó là kết quả của tuế sai phức tạp một khó hình dung của trục quay của Mặt Trời Linton 2004, tr. 212, Sharratt 1994, tr. 166, Drake 1970, tr. 191–196. Tuy nhiên, trong bản tranh luận của Drake về vấn đề phức tạp này trong chương chương 9 năm 1970 thì không không phải như thế, nó không bác bỏ các mô hình địa tâm không phải hệ địa tĩnh. Đối với các biến thiên thành năm theo quỹ đạo tháng của vết đen mặt trời đối với mặt phẳng hoàng đạo chỉ chứng minh phải có vài chuyển động của các hành tinh thuộc đất, nhưng không cần thiết vì sự chuyển động trên quỹ đạo quỹ đạo hàng năm quanh mặt trời của nó ngượci lại với chuyển động quay hàng ngày theo hệ địa tâm, và vì vậy không thể chứng minh học thuyết nhật tâm do chối bỏ thuyết địa tâm. Điều này có thể được giải thích trong mô hình bán địa tâm Tycho mà Trái Đất xoay hàng ngày. Đặc biệt trang 190 và 196 trong sách của Drake. Vì thế, dựa trên sự phân tích này nó chỉ bác bỏ mô hình địa tâm địa tĩnh Ptolema, mô hình của ông đề xuất rằng quỹ đạo địa tâm hàng ngày của Mặt Trời có thể dự đoán sự thay đổi hàng năm dựa trên các quan sát hàng ngày, và nó không hoạt động như thế.
  46. ^ Julian Barbour (1991). http://books.google.co.jp/books?id=j__QMcwHGqcC&pg=RA1-PA325&lpg=RA1-PA325&dq=Kepler%27s+prediction+of+the+sun%27s+rotation&source=bl&ots=-AeMajYi6q&sig=dA7ZrkXwNpMkaxr3f5ZiNwQmTJ8&hl=ja&ei=TyoXS4fjK8uTkAWwoaznCA&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=2&ved=0CBYQ6AEwAQ#v=onepage&q=Kepler%27s%20prediction%20of%20the%20sun%27s%20rotation&f=false |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp). The discovery of dynamics 1. Nhà in Đại học Oxford. tr. 325. ISBN 0-19-513202-5. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009.
  47. ^ Ondra 2004, tr. 72-73
  48. ^ Drake 1960, tr. vii,xxiii–xxiv, Sharratt 1994, tr. 139–140
  49. ^ Grassi 1960a
  50. ^ Drake 1978, tr. 268, Grassi 1960a, tr. 16.
  51. ^ Galileo & Guiducci 1960
  52. ^ Drake 1960, tr. xvi.
  53. ^ Drake 1957, tr. 222, Drake 1960, tr. xvii.
  54. ^ Sharratt 1994, tr. 135, Drake 1960, tr. xii, Galileo & Guiducci 1960, tr. 24.
  55. ^ Sharratt 1994, tr. 135
  56. ^ Sharratt 1994, tr. 135, Drake 1960, tr. xvii.
  57. ^ Grassi 1960b.
  58. ^ Drake 1978, tr. 494, Favaro 1890 (1896, 6:111). The pseudonym was a slightly imperfect anagram of Oratio Grasio Savonensis, a latinized version of his name and home town.
  59. ^ Galileo 1960.
  60. ^ Sharratt 1994, tr. 137, Drake 1957, tr. 227.
  61. ^ Sharratt 1994, tr. 138–142.
  62. ^ Drake 1960, tr. xix.
  63. ^ Drake 1960, tr. vii.
  64. ^ Sharratt 1994, tr. 175.
  65. ^ Sharratt 1994, tr. 175–178, Blackwell 2006, tr. 30.
  66. ^ Finocchiaro 1989, tr. 67–69.
  67. ^ Finocchiaro 1989, tr. 354, n. 52
  68. ^ Finocchiaro 1989, tr. 119–133
  69. ^ Finocchiaro 1989, tr. 127–131 và Drake 1953, tr. 432–436
  70. ^ Einstein 1952, tr. xvii
  71. ^ Finocchiaro 1989, tr. 128
  72. ^ Kusukawa, Sachiko. “Starry Messenger. The Telescope”. Department of History and Philosophy of Science of the University of Cambridge. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2007.
  73. ^ Sobel 2000, tr. 43, Drake 1978, tr. 196. Trong Starry Messenger (Sứ giả Sao), được viết bằng tiếng Latinh, Galileo đã sử dụng thuật ngữ "perspicillum".
  74. ^ “Bản dự trữ của omni-optical.com "A Very Short History of the Telescope"”.[[]][liên kết hỏng]
  75. ^ Drake 1978, tr. 163–164, Favaro 1890 (1892, 3:163164)(tiếng Latinh)
  76. ^ Có thể vào năm 1623, theo Drake 1978, tr. 286.
  77. ^ Drake 1978, tr. 289, Favaro 1890 (1903, 13:177) (tiếng Ý).
  78. ^ Drake 1978, tr. 286, Favaro 1890 (1903, 13:208)(tiếng Ý). The actual inventors of the telescope and microscope remain debatable. A general view on this can be found in the article Hans Lippershey (cập nhật lần cuối 2003-08-01), © 1995–2007 by Davidson, Michael W. and the Florida State University.
  79. ^ “brunelleschi.imss.fi.it "Il microscopio di Galileo"” (PDF).
  80. ^ Van Helden, Al. “Galileo Timeline”. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009. trong Galileo Project. Xem thêm Lịch sử công nghệ kính hiển vi.
  81. ^ Drake 1978, tr. 286.
  82. ^ Drake 1978, tr. 19,20. Ở thời điểm khi Viviani cho rằng cuộc thực nghiệm diễn ra, Galileo vẫn chưa hoàn thành phiên bản cuối cùng của định luật rơi tự do của ông. Tuy nhiên, ông đã hoàn thành một phiên bản trước đó dự đoán rằng các vật thể bằng cùng vật liệu rơi qua cùng môi trường sẽ có tốc độ như nhau (Drake 1978, tr. 20).
  83. ^ Drake 1978, tr. 9; Sharratt 1994, tr. 31.
  84. ^ Groleau, Rick. “Galileo's Battle for the Heavens. tháng 7/2002”. Ball, Phil. “Science history: setting the record straight. 30 tháng 6/2005”. Một ngoại lệ mà Drake 1978, tr. 19–21, 414–416, cho rằng những tranh cãi đã xảy ra, ít nhiều như Viviani đã miêu tả nó.
  85. ^ Lucretius. De rerum natura II. Còn đề cập trong Lane Cooper (1935). Aristotle, Galileo, and the Tower of Pisa. Ithaca, N.Y.: Nhà in Đại học Cornell. tr. 49.. tr. 225–229..
  86. ^ Simon Stevin (1586). Trong Christoffel Plantijn. De Beghinselen des Waterwichts, Anvang der Waterwichtdaet, en de Anhang komen na de Beghinselen der Weeghconst en de Weeghdaet [[The Elements of Hydrostatics, Preamble to the Practice of Hydrostatics, and Appendix to The Elements of the Statics and The Practice of Weighing]]. Christoffel Plantijn báo cáo thí nghiệm của Stevin và Jan Cornets de Groot khi họ thả một quả cầu bằng chì từ tháp chuông nhà thờ ở Delft; thông tin liên quan trong quyển: C. V. Swets & Zeitlinger (1955). Trong E. J. Dijksterhuis. The Principal Works of Simon Stevin 1. Amsterdam, Netherlands. tr. 509, 511.. Leiden, Netherlands.
  87. ^ Sharratt 1994, tr. 203, Galileo 1954 (1954, tr.251–54).
  88. ^ Sharratt 1994, tr. 198, Galileo 1954 (1954, tr.174).
  89. ^ Clagett 1968, tr. 561.
  90. ^ Sharratt 1994, tr. 198, Wallace 2004, tr. II 384, II 400, III 272, tuy nhiên Soto đã không nhận thấy được các nguyên tắc và tinh hoa trong các học thuyết của Galileo về vật thể rơi. Ví dụ, Ông đã không nhận ra được như Galileo đã làm như một vật thể chỉ có thể rơi với cùng một gia tốc trong chân không, và nói cách khác thì nó có thể đạt đến vận tốc không đổi ở đoạn cuối.
  91. ^ Galileo Galilei (1974). Two New Sciences. Madison: Nhà in Đại học Wisconsin. tr. 50..
  92. ^ I. Bernard Cohen (1940). Roemer and the First Determination of the Velocity of Light. tr. 332–333. Đã bỏ qua tham số không rõ |punlisher= (trợ giúp)
  93. ^ Brodrick 1965, tr. 95 quoting Cardinal Bellarmine's letter to Foscarini, dated 12 tháng 4 năm 1615. Translated from Favaro 1890 (1902, 12:171–172) (tiếng Ý).
  94. ^ Xem Langford 1998, tr. 133–134 và Seeger 1966, tr. 30.Drake 1978, tr. 355, asserts that Simplicio's character is modelled on the Aristotelian philosophers, Lodovico delle Colombe and Cesare Cremonini, rather than Urban. He also considers that the demand for Galileo to include the Pope's argument in the Dialogue left him with no option but to put it in the mouth of Simplicio (Drake 1953, tr. 491). Even Arthur Koestler, who is generally quite harsh on Galileo in The Sleepwalkers (Koestler 1990), after noting that Urban suspected Galileo of having intended Simplicio to be a caricature of him, says "this of course is untrue" (Koestler 1990, tr. 483).
  95. ^ Fantoli 2005, tr. 139, Finocchiaro 1989, tr. 288–293. Bản dịch của Finocchiaro về bản án của Tòa thánh đối với Galileo có thể xem tại đây (tiếng Anh). "Vehemently suspect of heresy" was a technical term of canon law and did not necessarily imply that the Inquisition considered the opinions giving rise to the verdict to be heretical. The same verdict would have been possible even if the opinions had been subject only to the less serious censure of "erroneous in faith" (Fantoli 2005, tr. 140; Heilbron 2005, tr. 282-284).
  96. ^ (Drake 1978, tr. 367, Sharratt 1994, tr. 184, Favaro 1890) (1905, 16:209, 230)(tiếng Ý). Xem vụ Galileo để biết thêm chi tiết.
  97. ^ Drake 1978, tr. 356. Tuy nhiên dòng chữ "Eppur si muove" đã xuất hiện trên bức tranh của họa sỹ Tây Ban Nha Bartolomé Esteban Murillo hay các học trò của ông vào thập niên 1640. Bức tranh mô tả Galileo bị giam giữ đang chỉ đến một bản sao của cụm từ được viết trên tường của phòng giam ông (Drake 1978, tr. 357).
  98. ^ Stephen Hawking. tr. 397, 398. “Galileo... is the father of modern physics -- indeed of modern science - Albert Einstein |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp).
  99. ^ Shea & Artigas 2003, tr. 199; Sobel 2000, tr. 378.
  100. ^ Shea & Artigas 2003, tr. 199; Sobel 2000, tr. 378; Sharratt 1994, tr. 207; Favaro 1890 (1906,18:378–80) (tiếng Ý).
  101. ^ Shea & Artigas 2003, tr. 199; Sobel 2000, tr. 380.
  102. ^ Shea & Artigas 2003, tr. 200; Sobel 2000, tr. 380–384.
  103. ^ Heilbron 2005, tr. 299.
  104. ^ Hai tác phẩm không phải khoa học của ông là các lá thử gởi Castelli và Grand Duchess Christina không được cho phép nằm trong đó (Coyne 2005, tr. 347).
  105. ^ Heilbron 2005, tr. 303–304; Coyne 2005, tr. 347. Phiên bản không bị kiểm duyệt của Dialogue vẫn còn trong danh mục các sách bị cấm (Heilbron 2005, tr. 279).
  106. ^ Heilbron 2005, tr. 307; Coyne 2005, tr. 347, The practical effect of the ban in its later years seems to have been that clergy could publish discussions of heliocentric physics with a formal disclaimer assuring its hypothetical character and their obedience to the church decrees against motion of the earth: see for example the commented edition (1742) of Newton's 'Principia' by Fathers Le Seur and Jacquier, which contains such a disclaimer ('Declaratio') before the third book (Propositions 25 onwards) dealing with the lunar theory.
  107. ^ McMullin 2005, tr. 6; Coyne 2005, tr. 346. In fact, the Church's opposition had effectively ended in 1820 when a Catholic canon, Giuseppe Settele, was given permission to publish a work which treated heliocentism as a physical fact rather than a mathematical fiction. The 1835 edition of the Index was the first to be issued after that year.
  108. ^ Discourse of His Holiness Pope Pius XII given on 3 tháng 12 năm 1939 at the Solemn Audience granted to the Plenary Session of the Academy, Discourses of the Popes from Pius XI to John Paul II to the Pontifical Academy of the Sciences 1939-1986, Vatican City, tr.34
  109. ^ Robert Leiber (1959). Pius XII Stimmen der Zeit. Pius XII. 1959. Sagt, Frankfurt. tr. 411..
  110. ^ Phiên bản trước được phát hành vào 16 tháng 12 năm 1989 ở Rieti, và phiên bản sau phát hành vào ngày 24 tháng 2 năm 1990 ở Madrid (Ratzinger 1994, tr. 81). Theo Feyerabend, Ratzinger cũng đã đề cập đến việc hỗ trợ quan điểm của ông trong một bài diễn văn ở Parma cũng vào cùng thời điểm đó (Feyerabend 1995, tr. 178).
  111. ^ a ă â Ratzinger 1994, tr. 98.
  112. ^ “Vatican admits Galileo was right”. New Scientist. 7 tháng 11 năm 1992. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007..
  113. ^ “Papal visit scuppered by scholars”. BBC News. 15 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2008.
  114. ^ “Vatican recants with a statue of Galileo”. TimesOnline News. 4 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2009.
  115. ^ “Pope praises Galileo's astronomy”. BBC News. 21 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2008.
  116. ^ Hydrostatic balance, The Galileo Project, truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008
  117. ^ The Works of Galileo, The University of Oklahoma, College of Arts and Sciences, truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008
  118. ^ Sunspots and Floating Bodies, The University of Oklahoma, College of Arts and Sciences, truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008
  119. ^ The 17th century conversion to geo-heliocentrism is referenced in such as the following claims: (1) "But the title [of Galileo's 1632 Dialogo] was seriously misleading: by that time the Ptolemaic system had been largely abandoned by believers in a central Earth, and astronomers who could not accept the Sun-centred system - the great majority - were opting for the Tychonic or one of the other Earth-centred compromises on offer." p117, The Cambridge Concise History of Astronomy Michael Hoskin, CUP 1999.(2) "In 1691 Ignace Gaston Pardies declared that the Tychonic was still the commonly accepted system, while Francesco Blanchinus reiterated this as late as 1728." The Tychonic and semi-Tychonic world systems Christine Schofield, p41 Taton & Wilson The General History of Astronomy 2A 1989
  120. ^ Galileo, Letter to the Grand Duchess Christina, The University of Oklahoma, College of Arts and Sciences, truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008
  121. ^ Galileo's Theory of the Tides, The Galileo Project, truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008
  122. ^ “Galileo Timeline”. The Galileo Project. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008.
  123. ^ “Galileo Galilei”. Tel-Aviv University, Science and Technology Education Center. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008.
  124. ^ title=galileo http://echo.mpiwg-berlin.mpg.de/content/scientific_revolution/ title=galileo. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009. |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  125. ^ Fischer, Daniel (2001). Mission Jupiter: The Spectacular Journey of the Galileo Spacecraft. Springer. tr. v. ISBN 0-387-98764-9.
  126. ^ “'Unanimous backing' for Galileo”. BBC NEWS. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009.
  127. ^ Barry N. Taylor (1995). Appendix B “Guide for the Use of the International System of Units (SI)”. NIST Special Publication 811. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009..
  128. ^ SI brochure, Table 9: Non-SI units associated with the CGS and the CGS-Gaussian system of units”. BIPM. 2006. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009..
  129. ^ Một số nguồn như Đại học North Carolina, Cơ quan Vũ trụ châu Âu, và ConversionTables.com cho rằng đơn vị này được đặt theo tên "galileo". NIST và BIPM ở trên được xem là những nguồn có uy tín hơn đề cập đến tên đơn vị chính xác.
  130. ^ United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (11 tháng 8 năm 2005). “Proclamation of 2009 as International year of Astronomy” (PDF). UNESCO. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2008.
  131. ^ “Galileo Galilei/Vesalius and Servetus”. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009.
  132. ^ “200th Anniversiary of the Death of Joseph Haydn Commemorative Coin”. Austrian Mint. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2008.
  133. ^ “The Galileoscope™: An IYA2009 Cornerstone Project”. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009.

Danh mục

Liên kết ngoài

(tiếng Anh)