Tuesday, August 19, 2014

Chào ngày mới 20 tháng 8


CNM365. Chào ngày mới 20 tháng 8. Wikipedia Ngày này năm xưa. Kỷ niệm 150 năm ngày Trương Định tuẫn tiết. Ngày Thánh István tại Hungary; ngày Cách mạng của Quốc vương và nhân dân tại Maroc; muỗi thế giới;  Năm 1940 – Tại thành phố México, nhà cách mạng lưu vong người Nga Lev Trotsky (hình) trọng thương do bị Ramón Mercader tấn công, Trotsky qua đời vào ngày sau đó. Năm 1949 – Hiến pháp mới của Hungary chính thức có hiệu lực, tên nước chuyển thành Cộng hòa Nhân dân Hungary.Năm 1977Chương trình Voyager: NASA phóng tàu vũ trụ không người lái liên hành tinh Voyager 2 từ trạm không quân Mũi Canaveral, Florida. Năm 1988Chiến tranh Iran-Iraq kết thúc khi một lệnh ngừng bắn được chấp thuận.

Trương Định

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chân dung Trương Định
Trương Định (chữ Hán: 張定; 1820-1864) hay Trương Công Định hoặc Trương Đăng Định, là võ quan nhà Nguyễn, và là thủ lĩnh chống Pháp giai đoạn 1859-1864, trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế và sự nghiệp

Trương Định sinh tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). Cha ông là Lãnh binh Trương Cầm, từng là Hữu thủy Vệ uý ở Gia Định dưới thời vua Thiệu Trị.

Theo cha vào Nam

Năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam. Sau khi cha mất, ông ngụ ngay nơi cha đóng quân. Sau đó, ông kết hôn với bà Lê Thị Thưởng, vốn là con gái của một hào phú ở huyện Tân Hòa (Gò Công Đông ngày nay).
Năm 1850, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của tướng Nguyễn Tri Phương, Trương Định xuất tiền ra chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền ở Gia Thuận (Gò Công), vì thế, ông được nhà Nguyễn bổ làm Quản cơ, hàm lục phẩm [1].

Trở thành thủ lĩnh chống Pháp

Mộ và Đền thờ Trương Định ở thị xã Gò Công
Tháng 2 năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Sau đó, Trương Định đem quân đồn điền của mình lên đóng ở Thuận Kiều (Gia Định), và từng đánh thắng đối phương ở Cây Mai, Thị Nghè...[2]
Đầu năm 1861, Pháp tấn công Gia Định lần thứ hai, Trương Định đem quân phối hợp với binh của tướng Nguyễn Tri Phương phòng giữ chiến tuyến Chí Hòa. Khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ, ông lui về Gò Công, cùng Lưu Tiến Thiện, Lê Quang Quyền chiêu binh ứng nghĩa, trấn giữ vùng Gia Định-Định Tường.
Ở đây, Trương Định tổ chức lại lực lượng, triển khai tác chiến trong các vùng Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười và kéo dài đến tận biên giới Campuchia.
Kể về ông ở giai đoạn này, sử nhà Nguyễn chép:
Trương Định am hiểu võ nghệ, dũng cảm, mưu lược. Tự Đức năm thứ 14 (1861), thành Gia Định hữu sự [3], Định hưởng ứng việc nghĩa, chiêu mộ thú dõng được hơn 6.000 người, lại kiêm quản những đầu mục thân hào mộ việc nghĩa, dồn lập 18 cơ quân, luôn chống đánh người Pháp, thu được súng ống khí giới và đúc chế thêm để dùng, được bạt bổ làm Quản cơ lĩnh Phó Lãnh binh Gia Định [4].
Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký kết hòa ước với Pháp. Cũng theo sử nhà Nguyễn thì:
Tháng 7 năm 1862...từ khi đã định hòa ước rồi, Ngài [Tự Đức] truyền dụ Nam Kỳ nghỉ binh và đòi Trương Định ra Phú Yên. Khi ấy trong các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa những người ứng nghĩa rủ nhau đoàn kết, tôn Trương Định làm Đại đầu mục, xin cho ra đánh, Đình thần nghị rằng: "bây giờ việc Bắc Kỳ đương khẩn, mà Nam Kỳ chưa có cơ hội gì, xin giao Phan Thanh Giản hiểu dụ". Nhưng Trương Định đã lâu mà không chịu về cung chức, bị cách chức hàm [5].
Trên thực tế, ông đã từ chối thư dụ hàng của tướng Pháp là Bonard, bất chấp chiếu vua ra lệnh bãi binh do Phan Thanh Giản truyền vào và rút quân về Gò Công, xưng là Trung thiên tướng quân[6], và được nhân dân tôn là Bình Tây Đại Nguyên soái, lấy nơi này làm bản doanh, xây dựng các căn cứ địa kháng chiến.
Ngày 16 tháng 12 năm 1862, Trương Định đã ra lệnh tấn công các vị trí của quân Pháp ở cả ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, đẩy Pháp vào tình thế lúng túng, bị động. Tháng 2 năm 1863, nhờ có viện binh, Pháp phản công tại Biên Hòa, Chợ Lớn, bao vây Gò Công. Ngày 26 tháng 2 năm 1863, Pháp đánh chiếm thành trì, ông thoát khỏi vòng vây và kéo quân về Biên Hòa.
Tháng 9 năm 1863, tướng Lagrandière sang thay Bonard, mở cuộc càn quét thứ hai, bắt được vợ con và một số tùy tùng của Trương Định.

Tuẫn tiết

Bàn thờ Trương Định ở bên trong đền
Ngày 19 tháng 8 năm 1864, Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ bao vây đánh úp. Bản doanh Đám lá tối trời[7] thất thủ, Trương Định bị trọng thương (gãy xương sống)[8]. Để bảo toàn khí tiết, ông đã rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò Công) vào rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864 [9]. Khi ấy, ông 44 tuổi.
Hay tin Trương Định tuẫn tiết, vua Tự Đức sai truy tặng ông phẩm hàm, và năm 1871 lại cho lập đền thờ ông tại Tư Cung (Quảng Ngãi). Con ông là Trương Quyền đã rút lên vùng Châu Đốc tiếp tục chống Pháp thêm 6 năm nữa.
Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã làm 12 bài thơ và một bài văn tế điếu ông. Trích giới thiệu một bài:
Trong Nam, tên họ nổi như cồn
Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn
Đấu đạn hỡi rêm tàu bạch quỷ
Hơi gươm thêm rạng vẻ huỳnh môn
Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ
Quả ấn Bình Tây đất vội chôn
Nỡ khiến anh hùng rơi giọt luỵ
Lâm dâm ba chữ điếu linh hồn.

Tuyên bố

Tuyên bố của Trương Định trong thư trả lời thư dụ hàng của tướng Pháp Bonard vào cuối năm 1862:
Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc chúng ta.
Tuyên bố của Trương Định gửi các quan ở Vĩnh Long, để tỏ ý ly khai với Nam triều (vì sau hòa ước Nhâm Tuất, vua Tự Đức ra lệnh ông phải bãi binh) vào tháng 2 năm 1863:
Muốn trở lại y như xưa, dân chúng ba tỉnh yêu cầu chúng tôi đứng đầu khởi nghĩa, chúng tôi không thể làm gì được khác. Chúng tôi chuẩn bị chiến đấu vào hướng Đông cũng như hướng Tây, chúng tôi chống đối và chiến đấu. Chúng tôi sẽ đánh ngã bọn giặc cướp...
Chúng ta thề sẽ đánh mãi và đánh không ngừng, khi ta thiếu tất cả sẽ bẻ nhánh cây làm cờ, lấy gậy gộc làm võ khí cho quân lính ta...
Hịch của Trương Định (tháng 8 năm 1864):
Lòng dân đã muốn ta lên làm nguyên nhung ba tỉnh, ta trông vào lòng dân yêu thương không phai lạt của mọi người đối với ta. Thế là xong bất dung tha giặc cướp.
Mấy đoạn trích trên, được ghi trang trọng tại đền thờ Trương Định, ở ngay trung tâm thị xã Gò Công.

Nhận xét

Lúc bấy giờ (tháng 6 năm 1861) có một người An Nam rất cương quyết và hào hùng tên là Trương Dinh[10] cho biết sẽ dấy loạn khởi nghĩa trong toàn xứ...Là một trong số những người nhiều nghị lực nhất, anh ta đánh lừa là đã chết trong trận Gò Công, nhưng sau đó lại xuất hiện và chiến đấu trong hết mùa mưa...Mãi về sau này, khi ta đã chiếm Biên Hòa, tên Trương Dinh tung hoành tàn phá hết hai vùng tứ giác của ta...[11]
  • Trong sách Sài Gòn xưa-Ấn tương 300 năm của nhà văn Sơn Nam có đoạn:
Yêu nước đậm đà, khảng khái trước nghĩa lớn, đứng hàng đầu trong phong trào kháng Pháp ở Nam Kỳ vẫn là Trương Định. Mang ơn vua, giữ đất cho vua (Gò Công là nơi phát tích của Phạm Đăng Hưng và con gái là bà Từ Dũ), nhưng chống lệnh khi cắt đất cho Pháp. Trương Định và dân đồn điền lợi dụng địa hình rừng ngập mặn Gò Công để khởi nghĩa, đắp đập, xây lũy. Giặc phải vất vả, tổ chức nội ứng mới giết được ông, qua nhiều cuộc hành quân cấp tướng, bố trí súng lớn trên thuyền nhỏ, để di chuyển nơi nước cạn. Địch phải đem xác ông phơi trước chợ để làm chứng cớ...và chôn ông giữa chợ, nếu chôn nơi hẻo lánh, e nghĩa quân lập đàn tế cờ, phục thù cho chủ tướng. Cụ Đồ Chiểu đã đem tất cả tâm huyết viết bài văn tế ông và 10 bài liên hoàn[12].

Gia quyến

Người vợ chính

Lê Thị Thưởng (?-?) là con gái một hào phú ở huyện Tân Hòa (Gò Công). Bà và Trương Định kết hôn năm nào không rõ, nhưng theo sử sách thì ...vào năm 1854, nhờ sự trợ giúp của gia đình bên vợ, Trương Định xuất tiền của, chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền Gia Thuận (Gò Công)[13].
Sau khi chồng và con mất vì việc nước, chép chuyện của bà như sau:
(Trương Định) sau vì thất lợi mà mất, con ông là (Trương) Tuệ cũng chết vì việc quân, vợ (Trương) Định là Lê Thị Thưởng vì không nơi nương tựa nên về quê quán (Quảng Ngãi, quê chồng) làm ăn. Năm (Tự Đức) thứ 27 (1874), quan tỉnh Quảng Ngãi tâu rằng, (Trương) Định là người có nghĩa khí rất đáng khen mà nay vợ của (Trương) Định lại là người nghèo khổ, rất đáng thương. Vậy, xin cấp dưỡng suốt đời cho (vợ Trương Định) mỗi tháng 20 quan và 2 phương gạo...
Năm (Tự Đức) thứ 34 (tức năm 1881), lại cấp thêm cho người vợ (của Trương Định) mỗi tháng 10 quan, đồng thời, sai xã ấy phải thỉnh thoảng đến thăm. Khi bà mất, (vua ban) cho 100 quan tiền (để mai táng).[14]

Người vợ thứ

Trần Thị Sanh (1820-1882) là em con cô của thái hậu Từ Dụ[15]. Trước khi về làm vợ thứ Trương Định, bà từng có một đời chồng là ông Dương Tấn Bổn và một cô con gái tên Dương Thị Hương[16]. Ông Bổn mất sớm[17], tình nghĩa vợ chồng đứt đoạn, bà Sanh quyết chí lo chuyện làm ăn và trở thành một trong những người giàu có ở xứ Gò Công.
Giàu có, bà Sanh dùng tiền mua lúa gạo, nhờ Trương Định đem cứu tế dân, và còn đưa tiền cho ông Định quy tụ dân đi khai khẩn đất đai. Sau khi chồng chết được 2 năm, bà về làm hầu thiếp cho Trương Định[17], nên dân gian mới gọi là bà Hầu.
Gò Công có bốn tổng giàu,
Mà riêng có một bà Hầu giàu to.[18]
Khi Trương Định phất cờ đánh Pháp, bà Sanh (khi này đã trở thành vợ thứ Trương Định) lo việc rèn vũ khí, tích trữ lương thực cho nghĩa quân. Khi chồng mất, bà đem xác ông về chôn tại Gò Công.

Lăng mộ

Mộ Trương định ban đầu (1864) được làm bằng hồ ô dước và trên bia đá có khắc mấy chữ: Đại Nam - An Hà lãnh binh kiêm Bình Tây Đại tướng quân Trương công húy Định chi mộ. Nhà cầm quyền Pháp bắt đục bỏ hàng chữ Bình Tây Đại tướng quân và phạt bà Sanh 10.000 quan tiền vì tội lập bia trái phép.
Năm 1874, bà Sanh làm đơn xin tu sửa mộ cho chồng. Lần này mộ Trương Định được xây bằng đá hoa cương, có 3 bức hoành phi và 6 trụ đá ghi lại thân thế và sự nghiệp của ông. Một lần nữa, các hoành phi và trụ đá bị Pháp ra lệnh đục bỏ...[19]
Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh cho biết: "Trải nhiều năm Pháp thuộc, mộ Trương Định trở thành hoang phế. Sau có bà Huỳnh Thị Điệu, còn gọi là bà Phủ Hải[20], cho sửa chữa lại. Năm 1956, được sửa sang lần nữa"...[21]
Từ năm 1972 đến năm 1973 xây thêm đền thờ. Lăng mộ và đền thờ Trương Định đã được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia ngày 6 tháng 12 năm 1989.
Lễ hội tưởng niệm ông diễn ra tại đây các ngày 19 và 20 tháng 8 dương lịch hàng năm.

Chú thích

  1. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam do Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên soạn, NXb Khoa học xã hội, 1992, tr. 920.
  2. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 920.
  3. ^ Ở đây chỉ trận Đại đồn Chí Hòa xảy ra vào tháng 2 năm 1861.
  4. ^ Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện "Trương Định" (NXB Văn học, 2004, tr. 877).
  5. ^ Theo Quốc triều chánh biên toát yếu, tr. 401.
  6. ^ Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện "Trương Định", tr. 878.
  7. ^ Đám lá tối trời: Từ Gò Công đi về hướng ao Trường Đua, theo đường ấp Long Hưng đến ngã ba ấp Giá Trên thuộc xã Kiểng Phước; từ đây có bảng hướng dẫn đi thêm 8,5 km nữa để đến đền thờ Trương Định (Gia Thuận). nơi này, khi xưa là khu vực "Đám lá tối tròi"
  8. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr.921.
  9. ^ Theo Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (quyển 5, tập thượng, tr. 195).
  10. ^ Trương Định (ghi chú của Hoang Phong, người dịch sách).
  11. ^ Theo Léopold Pallu, Histoire de L’Expédition de Cochinchine en 1861 (Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ 1861), do nhà xuất bản Hachette in tại Pháp năm 1864. Bản dịch của Hoang Phong. Nxb Phương Đông, 2008, tr. 252.
  12. ^ Sơn Nam, Sài Gòn xưa - Ấn tượng 300 năm, NXB. Trẻ, 2008, tr. 162.
  13. ^ Nhiều người soạn, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam, Nxb. Trẻ, 2007, tr. 88-89.
  14. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện "Trương Định", tr. 878.
  15. ^ Bà Trần Thị Sanh là con thứ 6 của ông Trần Văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng. Bà Phụng là em gái ông Phạm Đăng Hưng, cha của bà Phạm Thị Hằng, tức thái hậu Từ Dụ.
  16. ^ Bà Hương sau này gả cho ông Huỳnh Đình Ngươn, cha của chí sĩ Huỳnh Đình Điển.
  17. ^ a ă Trần Anh Tài, Chút kỉ niệm xưa, báo Khoa học Phổ thông.
  18. ^ Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca.
  19. ^ Theo Cao Văn Sáu, Vợ Trương Định, một liệt nữ bốn lần vươn cao trong số phận, sách Nam Bộ xưa và nay, NXB TP.HCM, 2005, tr.173 - 176.
  20. ^ Bà Điệu là con gái út của bà Dương Thị Hương, con gái riêng của bà Trần Thị Sanh, và ông Huỳnh Đình Ngươn. Bà Điệu lấy chồng là Đốc Phủ sứ là Nguyễn Văn Hải, nên gọi là bà Phủ Hải.
  21. ^ Huỳnh Minh, Gò Công xưa, Nxb Thanh Niên, 2001, tr. 77.

Liên kết ngoài

Cộng hòa Nhân dân Hungary

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Magyar Népköztársaság
Cộng hòa Nhân dân Hungary
Quốc gia vệ tinh của Liên Xô[1]
1949–1989
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc ca
Himnusz[a]
Hymn
Vị trí của Hungary
Thủ đô Budapest
Ngôn ngữ tiếng Hungary
Tôn giáo không chính thức
Chính thể nhà nước độc đảng Marxist–Leninist
Tổng bí thư
 - 1949–1956 (đầu tiên) Mátyás Rákosi
 - 1989 (cuối cùng) Rezső Nyers
Nguyên thủ quốc gia
 - 1949–1950 (đầu tiên) Árpád Szakasits
 - 1988–1989 (cuối cùng) Brunó Ferenc Straub
Nguyên thủ chính phủ
 - 1949–1952 (đầu tiên) István Dobi
 - 1988–1989 (cuối cùng) Miklós Németh
Lập pháp Quốc hội
Thời đại lịch sử Chiến tranh Lạnh
 - Thành lập 18 tháng 8, 1949
 - Cách mạng Hungary 23 tháng 10 năm 1956
 - Cơ chế kinh tế mới 1 tháng 1 năm 1968
 - Kết thúc 23 tháng 10
Diện tích
 - 1989 93.030 km²; (35.919 mi²)
Dân số
 - 1989 ước tính 10.397.959 
     Mật độ 111,8 /km²  (289,5 /mi²)
Tiền tệ Forint
a. ^ "Himnusz" được sử dụng làm quốc ca trước và sau thời kỳ cộng sản ở Hungary. Do trong lời bài hát có từ "Thượng đế", những người cộng sản cố gắng sáng tác một bài hát thay thế song thất bại, họ quyết định sử dụng "Himnusz" song loại bỏ từ "Thượng đế".
Cộng hòa Nhân dân Hungary (tiếng Hungary: Magyar Népköztársaság) là quốc hiệu chính thức của nước Hungary xã hội chủ nghĩa từ năm 1949 đến năm 1989, do Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary lãnh đạo với sự chỉ đạo của Liên Xô.[1] Thể chế này tồn tại cho đến năm 1989, khi các lực lượng đối lập buộc chế độ cầm quyền phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Nhà nước này tự xem mình là chế độ kế thừa của Cộng hòa Xô viết Hungary được thành lập vào năm 1919.

Thành lập

Sau khi giải phóng Hungary khỏi Đức Quốc Xã, Hồng quân Liên Xô tiếp tục chiếm đóng quốc gia này. Sau khi tịch thu hầu hết tài sản của lực lượng Đức, Liên Xô nỗ lực và đạt được mục đích ở một mức độ nhất định trong việc kiểm soát các vấn đề chính trị của Hungary.[2] Thông qua áp chế bằng vũ lực, Liên Xô lập ra các cơ quan công an để ngược đãi phe đối lập, giúp họ có thể kiểm soát cuộc bầu cử sắp tới, tuyên truyền mạnh mẽ về chủ nghĩa cộng sản.[3] Bất chấp các nỗ lực này, Đảng Cộng sản Hungary chỉ nhận được 17% tổng số phiếu, đứng sau liên minh do Đảng Tiểu chủ- lãnh đạo dưới quyền Thủ tướng Zoltán Tildy, do đó làm thất bại kỳ vọng của Liên Xô về việc nắm giữ quyền lực bằng một chính phủ được bầu cử dân chủ.[4]
Tuy nhiên, Liên Xô một lần nữa lại dùng vũ lực để can thiệp, kết quả là một chính phủ không có mặt Tildy, với những người cộng sản nắm giữ các chức vụ bộ trưởng quan trọng, và áp dụng một số biện pháp hạn chế, như cấm đoán chính phủ liên minh chiến thắng và buộc nó phải nhường Bộ Nội vụ cho một người do Đảng Cộng sản Hungary đề cử.
Bộ trưởng Nội vụ László Rajk thành lập công an mật ÁVH, trong một nỗ lực nhằm đàn áp lực lượng chính trị đối lập thông qua đe dọa, vu cáo, tống giam và tra tấn.[5] Đến đầu năm 1947, Liên Xô thúc ép lãnh tụ cộng sản Hungary là Mátyás Rákosi phải tiến hành "phương pháp đấu tranh giai cấp rõ ràng hơn." Rákosi tuân theo bằng cách buộc các đảng khác phải loại bỏ các đảng viên không muốn làm theo mệnh lệnh của Đảng Cộng sản, trên danh nghĩa vì họ là "kẻ phát xít." Sau khi những người Cộng sản giành được đủ quyền lực, ông gọi hành động này là "chiến thuật xúc xích." [6] Thủ tướng Ferenc Nagy bị buộc phải từ nhiệm để thành viên Đảng Tiểu chủ mềm dẻo hơn là Lajos Dinnyés tựu nhiệm. Trong cuộc bầu cử tổ chức trong năm 1947, Đảng Cộng sản trở thành đảng lớn nhất, song không chiếm đa số. Liên minh được duy trì với Dinnyés là thủ tướng. Tuy nhiên, đến thời điểu này thì hầu hết các thành viên can đảm hơn trong các đảng khác đã bị loại bỏ, khiến họ trở thành các đảng đồng cảm với cộng sản.[7]
Đảng Cộng sản tiếp tục củng cố quyền lực, làm suy yếu các đảng khác, điều này lên đến đỉnh điểm vào nửa sau năm 1948. Tháng 6 năm 1948, những người Cộng sản buộc những người Dân chủ Xã hội phải hợp nhất với họ để lập ra Đảng Nhân dân Lao động Hungary. Rákosi sau đó buộc Tildy phải chuyển giao chức chủ tịch cho Árpád Szakasits (người chuyển lập trường sang cộng sản). Vào tháng 12, lãnh tụ đảng Tiểu chủ là Dinnyés bị thủ lĩnh phe tả trong đảng là István Dobi thay thế, đây là người công khai ủng hộ cộng sản. Quá trình này ít nhiều hoàn thành với cuộc bầu cử vào tháng 5 năm 1949. Ngày 18 tháng 8, Quốc hội mới thông qua một bản hiến pháp mới—gần như là một bản sao của hiến pháp Liên Xô. Khi nó được ban hành chính thức vào ngày 20 tháng 8, tên nước được đổi thành Cộng hòa Nhân dân Hungary.
Tình hình chính trị cũ vẫn tiếp diễn, với việc Liên Xô thúc bách và điều khiển nền chính trị Hungary thông qua Đảng Nhân dân Lao động Hungary, tiến hành can thiệp khi cần thiết, thông qua áp chế vũ lực và các hoạt động bí mật. Rajk (người về sau bị hành quyết) gọi đây là "một chế độ độc tài của giai cấp vô sản nằm ngoài mô hình Xô viết" gọi nó là một "nền dân chủ nhân dân."[8] Hungary tiếp tục đi trên con đường cộng sản cho đến cuối thập niên 1980, khi các náo động nổ ra khắp khối phía Đông, với đỉnh điểm là sự sụp đổ của Bức tường BerlinLiên Xô tan rã.

Lịch sử

Thời kỳ Stalin (1949–1956)

Nhà lãnh đạo mới của Hungary là Mátyás Rákosi yêu cầu các đồng chí trong Đảng Nhân dân Lao động Hungary phải hoàn toàn phục tùng ông. Đối thủ cạnh tranh quyền lực chính của Mátyás Rákosi là László Rajk, người này khi đó đang là Ngoại trưởng Hungary. Rajk bị bắt giữ và phái viên NKVD của Stalin phối hợp cùng Tổng Bí thư Hungary Rákosi và công an mật ÁVH để sắp xếp phiên tòa mang tính hình thức giành cho Rajk.[9]
Trong phiên tòa vào tháng 9 năm 1949, Rajk buộc phải nhận tội, nói rằng ông là tay sai của Miklós Horthy, Leon Trotsky, Josip Broz Tito và chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Ông cũng thừa nhận rằng mình tham gia một kế hoạch ám sát nhằm vào Mátyás Rákosi và Ernő Gerő. Rajk bị tuyên bố là có tội và bị hành quyết.[9]
Mặc dù có công giúp đỡ Rákosi thanh toán Rajk, song János Kádár và những người bất đồng quan điểm khác cũng bị thanh trừng khỏi đảng trong giai đoạn này. ÁVH đánh đập Kádár trong lúc thẩm vấn ông, bôi thủy ngân lên người ông để lỗ chân lông không thể trao đổi chất ra bên ngoài, người thẩm vấn còn đi tiểu vào miệng ông khi nó bị cạy ra.[10]
Rákosi sau đó áp đặt quyền thống trị độc đoán tại Hungary. Ở cao điểm trong thời gian nắm quyền của mình, Rákosi cho phát triển sự sùng bái cá nhân mạnh mẽ.[11] Được phong cho danh là "sát nhân hói", Rákosi phỏng theo các chương trình chính trị và kinh tế Stalinist, khiến Hungary nằm dưới quyền cai trị của một trong những chế độ độc tài khắc nghiệt nhất tại châu Âu.[12][13] Ông tự mô tả bản thân là "môn đệ người Hungary tốt nhất của Stalin"[11] và "học trò tốt nhất của Stalin".[14]
Hoạt động trấn áp tại Hungary gay gắt hơn so với các quốc gia vệ tinh khác trong những năm 1940 và 1950 do hoạt động chống đối tại Hungary mãnh liệt hơn.[12] Khoảng chừng 350.000 quan chức và đảng viên tri thức bị thanh trừng khỏi Đảng Nhân dân Lao động Hungary từ năm 1948 đến năm 1956.[12] Bất kỳ thành viên nào bị phát hiện có liên hệ với phương Tây đều bị tấn công ngay lập tức, trong số đó có một lượng lớn những người từng lưu vong nhiều năm ở phương Tây khi Hungary bị Đức Quốc Xã chiếm đóng.[9] Khoảng chừng 150.000 người bị tống giam, với 2.000 người bị hành quyết.[15]
Ngoài ra, trong quá trình "thanh lọc xã hội" các thành phần phi đảng phái, tại Budapest vào 2 giờ rạng sáng thứ 2, thứ 4, và thứ 6 có các chuyến xe chở các mục tiêu thanh trừng, với con số khoảng chừng 700.000.[16] Trong đó có 98.000 người bị quy là làm gián điệp và kẻ phá hoại, 5.000 trong số đó bị hành quyết.[16] Những cuộc thành trừng xã hội này sử dụng một nguồn lực lớn, bao gồm việc sử dụng gần một triệu người Hungary trưởng thành để ghi chép, kiẻm soát, tính toán, tuyên truyền, gián điệp hoặc đôi khi là giết các mục tiêu thanh trừng.[17]
Quốc kỳ Hungary trong giai đoạn 1949-1956
Rákosi nhanh chóng mở rộng hệ thống giáo dục tại Hungary, điều này phần lớn là nhằm có thể thay thế tầng lớp có học trước đây bằng những người được Rákosi gọi là một "giới tri thức lao động" mới. Ngoài một số tác động tích cực như điều kiện giáo dục tốt hơn dành cho người nghèo, cho con cái của giai cấp công nhân thêm nhiều cơ hội và nâng cao tỷ lệ biết chữ nói chung, biện pháp này cũng bao gồm cả việc phổ biến ý thức hệ cộng sản trong trường học. Ngoài ra, nhằm mục đích tách biệt Giáo hội ra khỏi chính quyền, việc giảng dạy tôn giáo bị tuyên bố là truyền giáo và dần bị loại bỏ khỏi trường học.
Chính quyền tiến hành tập thể hóa nông nghiệp và dùng lợi nhuận từ các nông trường quốc gia để cung cấp tài chính cho ngành công nghiệp nặng đang phát triển nhanh chóng, đầu tư cho công nghiệp nặng khi đó chiếm tới 90% tổng vốn đầu tư công nghiệp. Lúc đầu, Hungary tập trung chủ yếu vào các loại hàng mà nước này sản xuất từ trước chiến tranh, bao gồm đầu máy và toa xe lửa.
Rákosi gặp khó khăn trong việc quản lý nền kinh tế và mức sống của người dân Hungary giảm đi nhanh chóng. Chính phủ của ông càng trở nên không được ủng hộ, và khi Joseph Stalin qua đời vào năm 1953, Imre Nagy đã thay thế chức thủ tướng của Mátyás Rákosi. Tuy nhiên, Mátyás Rákosi vẫn là Tổng bí thư của Đảng Nhân dân Lao động Hungary trong ba năm sau đó, hai người tiến hành một cuộc đấu tranh quyền lực gay gắt.
Với vai trò là lãnh đạo mới của Hungary, Imre Nagy loại bỏ sự kiểm soát ngôn luận đối với các phương tiện truyền thông đại chúng và khuyến khích thảo luận công khai về thay đổi hệ thống chính trị và tự do hóa kinh tế. Chính phủ mới hứa hẹn nâng cao sản lượng và phân phối các mặt hàng tiêu dùng. Nagy cũng cho phóng thích những người cánh hữu đối lập khỏi nhà tù và thảo luận về việc tổ chức bầu cử đa dảng và rút Hungary khỏi khối Warszawa.
Ngày 9 tháng 3 năm 1955, Uỷ ban Trung ương của Đảng Nhân dân Lao động Hungary chỉ trích Nagy thiên hữu. Các tờ báo Hungary cũng tham gia công kích Nagy và buộc tội ông phải chịu trách nhiệm cho các vấn đề kinh tế của quốc gia. Ngày 18 tháng 4, Imre Nagy bị loại bỏ khỏi chức vụ trong một cuộc bỏ phiếu của Quốc hội, Rákosi lại trở thành lãnh đạo của Hungary.
Quyền lực của Rákosi bị suy yếu sau bài phát biểu lên án Stalin của nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev vào tháng 2 năm 1956. Ngày 18 tháng 7 năm 1956, Rákosi buộc phải rời khỏi quyền lực theo sau các chỉ thị từ Liên Xô. Tuy nhiên, Rákosi đã thành công trong việc tìm cách để đưa người bạn thân cận của ông là Ernő Gerő trở thành nhà lãnh đạo mới của quốc gia.
Ngày 3 tháng 10 năm 1956, Ủy ban Trung ương của Đảng Nhân dân Lao động Hungary tuyên bố rằng László Rajk, György Pálffy, Tibor SzőnyiAndrás Szalai bị hàm oan trong việc bị kết án mưu phản vào năm 1949. Đồng thời, Đảng Nhân dân Lao động Hungary cũng tuyên bố Imre Nagy được phục hồi đảng tịch.

Các mạng năm 1956

Bài chi tiết: Cách mạng Hungary 1956
Cách mạng Hungary 1956 bắt đầu vào ngày 23 tháng 10 khi các sinh viên tiến hành hoạt động tuần hành hòa bình tại Budapest. Trong cuộc nổi dậy Hungary 1956, ước tính có 20.000 người bị sát hại, gần như toàn bộ là trong quá trình can thiệp của Liên Xô. Một người thân Xô là János Kádár trở thành lãnh đạo mới của Hungary, với chức vụ là lãnh đạo của Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary mới được thành lập.

Các thay đổi dưới thời Kádár

Đầu tiên, Kádár lãnh đạo các hành động trừng phạt chống lại những nhà cách mạng, 21.600 nhân vật bất đồng chính kiến bị tống giam, 13.000 người bị giam cầm, và 400 người bị hành quyết. Tuy nhiên, đến đầu những năm 1960, Kádár tuyên bố đại xá, dần kiềm chế một số hành động thái quá của công an mật, mở đầu đường lối văn hóa và kinh tế tương đối tự do nhằm khắc phục thái độ thù địch chống lại ông và chế độ của ông sau năm 1956.
Năm 1966, Ủy ban Trung ương thông qua "Cơ chế Kinh tế mới", qua đó tìm cách cải tổ nền kinh tế, tăng năng suất, khiến Hungary cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới, tạo ra sự thịnh vượng để thúc đẩy ổn định chính trị. Trong hai thập niên kế tiếp, tình hình trong nước Hungary tương đối yên tĩnh, chính phủ của Kádár lần lượt tiến hành các cải cách nhỏ về kinh tế và chính trị.
Đầu thập niên 1980, Hungary đã có được một số cải cách kinh tế dài hạn và tự do hóa chính trị ở mức hạn chế, theo đuổi một chính sách đối ngoại khuyến khích thương mại với phương Tây. Tuy thế, Cơ chế Kinh tế mới dẫn tới nợ nước ngoài, chính phủ phải trợ cấp cho các ngành công nghiệp không sinh lợi nhuận.

Chuyển đổi sang nền dân chủ phương Tây

Quá trình chuyển đổi Hungary thành một nền dân chủ phương Tây diễn ra êm thấm so với các nước khác trong khối Đông Âu. Đến năm 1988, các nhà hoạt động trong Đảng và bộ máy nhà nước và giới trí thức gia tăng áp lực yêu cầu thay đổi. Các hoạt động công dân được tăng cường ở mức chưa từng có kế từ năm 1956.
Năm 1988, Kádár phải rời khỏi chức vụ Tổng bí thư, nhân vật cộng sản cải cách Imre Pozsgay được bầu vào Bộ Chính trị. Năm 1989, Quốc hội thông qua một "gói dân chủ", bao gồm công đoàn đa nguyên, tự do lập hội, hội họp và báo chí, một luật bầu cử mới. Vào tháng 10 năm 1989, một bản hiến pháp cấp tiến được thông Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary triệu tập Đại hội cuối cùng của mình và tái lập với tên Đảng Xã hội Hungary (MSZP). Trong một phiên họp lịch sử vào ngày 16-20 tháng 10 năm 1989, Quốc hội thông qua luật quy định bầu cử quốc hội đa đảng và một cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp, đổi tên nước từ Cộng hòa Nhân dân Hungary thành Cộng hòa Hungary.

Kinh tế

Là một thành viên của khối Đông Âu, ban đầu Hungary tuân theo các chỉ thị của Joseph Stalin nhằm làm suy yếu thể chế kinh tế thị trường phương Tây, "dân chủ tư sản" phương Tây, ra các điều luật để nhà nước có thể can thiệp tùy ý.[18] Các nền kinh tế theo mô hinh Liên Xô tại Đông Âu, giống như Hungary, tuân theo các phương châm chỉ đạo kinh tế của Liên Xô.[19] Các hoạt động kinh tế được quản lý theo các Kế hoạch 5 năm, chia thành các giai đoạn hàng tháng, các nhà hoạch định của chính phủ tường cố gắng đạt được mục tiêu bất chấp thị trường của hàng hóa được sản xuất ra.[20]
Hoạt động sản xuất không hợp lý dẫn đến việc các mặt hàng tiêu dùng thiếu về số lượng và kém về chất lượng trong một nền kinh tế thiếu hụt.[21] Nhìn chung, các hệ thống yếu kém không có cạnh tranh trở nên tai hại, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới ngày càng phức tạp.[22] Trong khi đó, các quốc gia Tây Âu có được sự tăng trưởng về kinh tế sau Thế chiến thứ hai.
Trong khi hầu hết các nền kinh tế Tây Âu về cơ bản đạt đến GDP trên người gần với mức của Hoa Kỳ, Hungary thì không,[23] với GDP trên người của nước này tụt hậu đáng kể so với các đối tác Tây Âu như trong bảng:[24]
GDP/người (USD năm 1990) 1938 1990
Áo $1.800 $19.200
Tiệp Khắc $1.800 $3.100
Phần Lan $1.800 $26.100
Ý $1.300 $16.800
Hungary $1.100 $2.800
Ba Lan $1.000 $1.700
Tây Ban Nha $900 $10.900
GDP trên người theo sức mua tương đương:[25]
GDP/người (USD năm 1990) 1950 1973 1990
Áo $3.706 $11.235 $16.881
Ý $3.502 $10.643 $16.320
Tiệp Khắc $3.501 $7.041 $8.895(Czech)/
$7.762(Slovakia)
Liên Xô $2.834 $6.058 $6.871
Hungary $2.480 $5.596 $6.471
Tây Ban Nha $2.397 $8.739 $12.210
Tình trạng thiếu nhà ở cũng diễn ra.[26] Các căn hộ trong những khối nhà lớn đúc sẵn có chất lượng thấp, như Panelház, là một biểu tượng phổ biến ở các thành phố Đông Âu thập niên 1970 và 1980.[27] Thậm chí đến cuối những năm 1980, các điều kiện vệ sinh thường là rất không phù hợp.[28] Chỉ có 60% nhà ở tại Hungary có điều kiện vệ sinh đầy đủ vào năm 1984, chỉ 36,1% nhà ở có đường ống nước.[29]

Chú thích

  1. ^ a ă Rao, B. V. (2006), History of Modern Europe Ad 1789-2002: A.D. 1789-2002, Sterling Publishers Pvt. Ltd.
  2. ^ Wettig 2008, tr. 51
  3. ^ Wettig 2008, tr. 85
  4. ^ Norton, Donald H. (2002). Essentials of European History: 1935 to the Present, p. 47. REA: Piscataway, New Jersey. ISBN 0-87891-711-X.
  5. ^ UN General Assembly Special Committee on the Problem of Hungary (1957) Chapter II.N, para 89(xi) (p. 31)PDF (1.47 MiB)
  6. ^ Wettig 2008, tr. 110
  7. ^ Kontler, László. A History of Hungary. Palgrave Macmillan (2002), ISBN 1-4039-0316-6
  8. ^ Crampton 1997, tr. 241
  9. ^ a ă â Crampton 1997, tr. 263
  10. ^ Crampton 1997, tr. 264
  11. ^ a ă Sugar, Peter F., Peter Hanak and Tibor Frank, A History of Hungary, Indiana University Press, 1994, ISBN 0-253-20867-X, page 375-77
  12. ^ a ă â Granville, Johanna, The First Domino: International Decision Making during the Hungarian Crisis of 1956, Texas A&M University Press, 2004. ISBN 1-58544-298-4
  13. ^ Gati, Charles, Failed Illusions: Moscow, Washington, Budapest, and the 1956 Hungarian Revolt, Stanford University Press, 2006 ISBN 0-8047-5606-6, page 9-12
  14. ^ Matthews, John P. C., Explosion: The Hungarian Revolution of 1956, Hippocrene Books, 2007, ISBN 0-7818-1174-0, page 93-4
  15. ^ Bideleux & Jeffries 2007, tr. 477
  16. ^ a ă Crampton 1997, tr. 267
  17. ^ Crampton 1997, tr. 272
  18. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 12
  19. ^ Turnock 1997, tr. 23
  20. ^ Crampton 1997, tr. 250
  21. ^ Dale 2005, tr. 85
  22. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 1
  23. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 16
  24. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 17
  25. ^ Madison 2006, tr. 185
  26. ^ Sillince 1990, tr. 11–12
  27. ^ Turnock 1997, tr. 54
  28. ^ Sillince 1990, tr. 18
  29. ^ Sillince 1990, tr. 19–20

Tham khảo

  • Bideleux, Robert; Jeffries, Ian (2007), A History of Eastern Europe: Crisis and Change, Routledge, ISBN 0-415-36626-7
  • Crampton, R. J. (1997), Eastern Europe in the twentieth century and after, Routledge, ISBN 0-415-16422-2
  • Dale, Gareth (2005), Popular Protest in East Germany, 1945-1989: Judgements on the Street, Routledge, ISBN 071465408 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp)
  • Hardt, John Pearce; Kaufman, Richard F. (1995), East-Central European Economies in Transition, M.E. Sharpe, ISBN 1-56324-612-0
  • Sillince, John (1990), Housing policies in Eastern Europe and the Soviet Union, Routledge, ISBN 0-415-02134-0
  • Turnock, David (1997), The East European economy in context: communism and transition, Routledge, ISBN 0-415-08626-4
  • Wettig, Gerhard (2008), Stalin and the Cold War in Europe, Rowman & Littlefield, ISBN 0-7425-5542-9

Chiến tranh Iran-Iraq

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Iran-Iraq
Một phần của Chiến tranh lạnh
Iran-Iraq War Montage.png
Đầu: lính Iran đeo mặt nạ phòng độc trên chiến trường;
.
Thời gian 22 tháng 9 198020 tháng 8 1988
Địa điểm Vịnh Péc xích, biên giới Iran-Iraq
Nguyên nhân bùng nổ Tham vọng của Iraq muốn kiểm soát dòng nước Shatt al-Arab; tranh chấp biên giới và lãnh thổ; lo sợ chính quyền cách mạng Hồi giáo ở Iran sẽ đe dọa chế độ đảng Ba'ath của Iraq
Kết quả Bế tắc
  • Iraq thất bại về chiến lược
  • Iran thất bại về chiến thuật
  • Hai phe đều tuyên bố chiến thắng
Thay đổi lãnh thổ Liên hợp quốc-yêu cầu ngừng bắn; duy trì trạng thái trước chiến tranh; LHQ quy tội cho Iraq. Iran giành được sông Shatt al-Arab.
Tham chiến
 Iran Cờ của Iraq Iraq
Chỉ huy
Cờ của Iran Ruhollah Khomeini
Cờ của Iran Akbar Hashemi Rafsanjani
Cờ của Iran Ali Shamkhani
Cờ của Iran Mostafa Chamran 
Cờ của Iraq Saddam Hussein
Cờ của Iraq Ali Hassan al-Majid


Lực lượng
305.000 lính
500.000 dân quân PasdaranBasij
900 xe tăng
1.000 xe bọc thép
3.000 pháo
470 máy bay
750 trực thăng[1]
190.000 lính
5.000 xe tăng
4.000 xe bọc thép
7.330 pháo
500+ máy bay,
100+ trực thăng[2]
Tổn thất
Khoảng 500.000+ lính/dân quân/dân thường bị giết hoặc bị thương Khoảng 375.000+ lính/dân quân/dân thường bị giết hoặc bị thương
.
Chiến tranh Iran-Iraq, hay còn được biết đến với cái tên Chiến tranh xâm lược của Iraq (جنگ تحمیلی, Jang-e-tahmīlī), Cuộc phòng thủ thần thánh (دفاع مقدس, Defa-e-moghaddas) và Chiến tranh Cách mạng Iran ở Iran, và Qādisiyyah của Saddām's (قادسيّة صدّام, Qādisiyyat Saddām) ở Iraq, là một cuộc chiến tranh giữa lực lượng vũ trang hai nước IraqIran kéo dài từ tháng 9 năm 1980 đến tháng 8 năm 1988. Nó thường được gọi là Chiến tranh Vùng vịnh cho tới khi xảy ra cuộc xung đột Iraq-Kuwait (1990-1991), và từ đó mang tên Chiến tranh vùng vịnh lần I. Cuộc xung đột Iraq-Kuwait, tuy trước đây thường được biết đến dưới tên Chiến tranh Vùng vịnh lần II, sau này lại được gọi đơn giản là Chiến tranh Vùng Vịnh. Nhiều người còn xem cuộc chiến này là Chiến tranh Quy ước dài nhất thế kỷ 20 do có một cuốn sách do nhà sử học Dilip Hiro viết có cùng tựa như vậy, tuy nhiên điều này vẫn còn là vấn đề tranh cãi giữa các sử gia. Nó cũng thường được các nước phương Tây xem là một trong Những cuộc chiến bị bỏ quên của thế kỷ 20.
Chiến tranh bắt đầu khi Iraq xua quân xâm lược Iran vào ngày 22 tháng 9 năm 1980 sau một giai đoạn dài tranh chấp biên giới và những mong muốn lật đổ chế độ Saddam Hussein. Măc dù Iraq tấn công mà không có lời cảnh cáo chính thức, họ đã không thể giành thắng lợi và sớm bị quân đội Iran đẩy lùi. Bỏ qua những lời kêu gọi ngừng bắn từ Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, sự thù địch vẫn tiếp diễn đến ngày 20 tháng 8 năm 1988; nhóm tù binh chiến tranh cuối cùng đã được trao đổi vào năm 2003. Cuộc chiến đã làm thay đổi tình hình chính trị ở khu vực và thậm chí là toàn cầu.
Cuộc chiến cũng gây được sự chú ý do nó tương tự như Đệ nhất thế chiến. Những chiến thuật như đắp hào, sử dụng tháp súng máy, sử dụng lưỡi lê, tấn công biển người và việc sử dụng rộng rãi vũ khí hóa học của Iraq (như khí mù tạc) để chống lại quân đội và dân thường Iran cũng như lực lượng người Kurd của Iraq.Cùng thời gian này, Liên Hợp Quốc đưa ra tuyên bố (không chỉ đích danh Iraq) rằng: "Các loại vũ khí hóa học đã được sử dụng trong chiến tranh" tuyên bố còn nói thêm: "Cộng đồng quốc tế vẫn còn im lặng trước việc Iraq dùng vũ khí giết người hàng loạt để giết người Iran và người Kurd ở Iraq". Người ta tin rằng Hoa Kỳ đã ngăn không cho Liên Hợp Quốc lên án Iraq.

Bối cảnh

Tên gọi cuộc chiến

Cuộc chiến vẫn thường được biết đến dưới cái tên Chiến tranh vùng vịnh hay Chiến tranh vùng vịnh Péc Xích cho đến khi Xung đột Iraq và Kuwait (Chiến dịch Bão táp sa mạc tháng 1 đến tháng 2 năm 1991), từ đó về sau gọi là Cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất. Cuộc xung đột Iraq-Kuwait, được biết đến với cái tên gốc là Cuộc chiến vùng vịnh Péc Xích lần hai, về sau được gọi đơn giản là "Chiến tranh Vùng Vịnh." Cuộc xâm lược và chiếm đóng Iraq do Mỹ đứng đầu từ năm 2003 vẫn còn tiếp diễn được gọi là Chiến tranh vùng vịnh Péc Xích lần hai.[cần dẫn nguồn]
Tổng thống Iraq Saddam Hussein ban đầu gọi cuộc xung đột này là "Chiến tranh gió lốc ".[3]

Nguồn gốc

Thời kỳ hậu thuộc địa

Một trong các yếu tố dẫn đến sự thù địch giữa hai quốc gia này xuất phát từ sự tranh chấp quyền sở hữu vùng nước Shatt al-Arab (người Iran gọi là Arvand Rud) ở đầu Vịnh Ba Tư, một con sông quan trọng cho công nghiệp xuất khẩu dầu mỏ của cả hai nước. Vào năm 1937, Iran và Iraq đã ký một hiệp ước giải quyết xung đột kéo dài này, trong đó tham chiếu đến thời chiến tranh Ottoman-Ba Tư từ thế kỷ 16 và 17 để xác định quyền quản lý Shatt al-Arab.[4] Cũng trong năm đó Iran và Iraq tham gia vào Hiệp ước Saadabad, mối quan hệ giữa hai nước luôn tốt đẹp trong vài thập niên tiếp theo.[4] Đến năm 1955, hai quốc gia lại tham gia vào Hiệp ước Bagdad.[4] Hiệp ước năm 1937 công nhận biên giới giữa Iran-Iraq là dọc theo mức nước ròng phía bờ đông của Shatt al-Arab ngoại trừ tại Abadan và Khorramshahr, nơi đường biên chạy dọc theo thalweg (đường nước lớn) dẫn đến việc Iraq quản lý hầu hết con sông này; miễn là tất cả tàu sử dụng Shatt al-Arab treo cờ Iraq và có hoa tiêu người Iraq và bắt buộc Iran phải trả phí cho Iraq khi tàu của họ sử dụng Shatt al-Arab.[5]
Cuộc lật đổ Dòng họ Hashemite ở Iraq năm 1958 chuyển quyền lực sang một chính quyền mới với tinh thần dân tộc cực đoan hơn, đã lập tức rút khỏi Hiệp ước Bagdad. Ngày 18 tháng 12 năm 1959, nhà lãnh đạo mới của Iraq Abdul Karim Qassim, tuyên bố: "Chúng tôi không muốn nhắc đến lịch sử các bộ lạc Ả Rập sinh sống ở Al-Ahwaz và Mohammareh [tức Khorramshahr]. Những người Ottoman đã trao Mohammareh, là lãnh thổ của Iraq, cho Iran." Sự bất mãn của chính quyền Iraq với việc Iran sở hữu tỉnh giàu dầu mỏ Khūzestān (mà người Iraq gọi là Arabistan), nơi có đông người dân nói tiếng Ả Rập, không chỉ dừng lại ở các tuyên bố; Iraq bắt đầu ủng hộ các phong trào ly khai ở Khuzestan, và thậm chí đẩy vấn đề tranh chấp lãnh thổ lên hội nghị của Liên đoàn Ả Rập, nhưng không thành công. Iraq miễn cưỡng hoàn thành các hiệp định đã có với Iran — đặc biệt sau cái chết của tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser năm 1970 và sự lớn mạnh của đảng Ba'ath dẫn tới cuộc lật đổ quân sự năm 1968, Iraq đã tự cho mình là "lãnh đạo thế giới Ả Rập". Cùng thời gian đó, cuối thập niên 1960, sức mạnh quân sự của Iran, với mức chi tiêu quốc phòng khổng lồ của Quốc vương Mohammad Reza Pahlavi, cũng bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn hơn trong khu vực Cận Đông.[4] Tháng 4 năm 1969, Iran hủy bỏ hiệp ước 1937 về Shatt al-Arab, và như vậy không trả thuế cho Iraq khi tàu bè của họ sử dụng Shatt al-Arab nữa.[6] Iraq đe dọa chiến tranh vì hành động này của Iran, nhưng vào ngày 24 tháng 4 năm 1969, một chiếc tàu chở dầu Iran được tàu chiến hộ tống đi xuôi dòng Shatt al-Arab, Iraq khi đó đang yếu thế hơn về quân sự đã không có bất cứ hành động nào.[5] Việc Iran phá bỏ hiệp ước 1937 đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ gia tăng căng thẳng giữa Iraq và Iran kéo dài cho tới tận Hiệp định Algiers năm 1975.[5] Năm 1969, phó thủ tướng Iraq tuyên bố: "Tranh chấp của Iraq với Iran có liên quan đến vấn đề Arabistan (Khuzestan) là một phần lãnh thổ của Iraq bị sáp nhập vào Iran dưới thời ngoại bang còn thống trị." Không lâu sau các đài phát thanh Iraq phát riêng dành cho[cần dẫn nguồn] "Arabistan", khuyến khích dân A-rập ở Iran, thậm chí cả người Balūchīs nổi dậy chống lại chính phủ của Vua Iran. Những đài truyền hình ở Basra thậm chí còn mô tả tỉnh Khuzestan của Iran như là một phần tỉnh mới của Iraq gọi là Nasiriyyah, đổi tên tất cả các thành phố của Iran bằng tên A-rập.
Năm 1971, Iraq cắt đứt quan hệ ngoại giao với Iran sau khi tuyên bố chủ quyền trên các đảo Abu Musa, Tunb Lớn và Nhỏ thuộc Vịnh Ba Tư, sau khi người Anh rút đi.[7] Iraq khi đó then tịch thu toàn bộ tài sản của 70.000 người Iraq gốc Iran và trục xuất họ đi khỏi nơi sinh sống, sau khi đã phàn nàn vấn đề này lên Liên đoàn Ả Rập và Liên Hiệp Quốc nhưng không thành công. Nhiều người, nếu không muốn nói là phần lớn những người bị trục xuất thực ra là người Iraq gốc Shia, và không hề có ràng buộc gì về mặt huyết thống với Iran, và đại đa số họ nói tiếng Ả Rập, chứ không phải tiếng Ba Tư.[8] Để trả đũa cho tuyên bố chủ quyền của Iraq đối với Khuzestan, Iran bảo trợ cho quân phiến loạn người Kurd vào đầu thập niên 1970, cung cấp căn cứ cho người Kurd Iraq và cung cấp vũ khí cho các nhóm này.[5] Bên cạnh việc Iraq liên tục xúi giục chủ nghĩa ly khai ở Khuzestan và tỉnh Blochistan thuộc Iran, cả hai nước đều khuyến khích các phong trào ly khai của những người Kurd theo chủ nghĩa dân tộc ở mỗi nước. Mùa đông năm 1974-75, Iran và Iraq suýt chiến tranh do Iran hỗ trợ người Kurd.[5] Tuy vậy, do Iran mạnh hơn về quân sự và đông hơn về dân số, nên người Iraq không gây chiến và lựa chọn thỏa hiệp với Tehran để kết thúc sự phản loạn của người Kurd.[5] Trong Thỏa thuận Algiers 1975 Iraq đã nhượng lãnh thổ của mình — gồm cả vùng nước — để được bình thường hóa quan hệ.[5] Để trả lại việc Iraq công nhận biên giới trên Shatt al-Arab chạy dọc theo toàn bộ thalweg, Iran ngưng hỗ trợ cho du kích người Kurd.[5] Thỏa thuận Algiers được nhiều người Iraq xem là nỗi nhục quốc thể.[5]
Mối quan hệ giữa chính phủ Iran và Iraq có tiến triển vào năm 1978, khi các điệp viên người Iran tại Iraq khám phá ra một vụ đảo chính của phe thân Liên Xô. Khi được thông báo về kế hoạch này, Saddam Hussein, khi đó đang là Phó tổng thống, đã ra lệnh hành hình hàng tá sĩ quan quân đội, và để trả ơn, ông ra lệnh trục xuất Ruhollah Khomeini, nhà lãnh đạo thần quyền lưu vong chống lại Quốc vương, khỏi Iraq.

Sau cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran

Tư tưởng đoàn kết hồi giáo dưới một nhà nước thống nhất, cuộc cách mạng Hồi giáo theo dòng Shia do Ayatollah Khomeini lãnh đạo với sự ra đời của Cộng hòa Hồi giáo Iran; cùng với tư tưởng quốc gia A-rập của chính quyền Saddam Hussein là trung tâm của xung đột.
Saddam Hussein rất muốn đưa Iraq lên tầm một cường quốc khu vực. Do đó xâm lược được Iran sẽ tăng tiềm năng dự trữ dầu của Iraq giúp nước này thống trị khu vực vịnh Péc-xích.
Nhiều lần Saddam đã ám chỉ đến cuộc chinh phạt Hồi giáo vào Iran (sự chinh phạt của người Hồi giáo vào Ba Tư năm 644). Ví dụ, ngày 2 tháng 4 năm 1980, nửa năm trước khi phát động chiến tranh, khi đến thăm đại học al-Mustansiriyyah ở Baghdad, Saddam đã nói đến thất bại của Ba Tư ở thế kỷ thứ 7 trong Trận al-Qādisiyyah, ông nói:
Nhân danh các bạn, những người anh em, và thay mặt cho người Iraq và A-rập ở khắp nơi. Chúng ta gửi tới bọn Ba Tư hèn nhát và thấp bé,những kẻ muốn trả thù Al-Qadisiyah rằng tinh thần Al-Qadisiyah cũng như máu và niềm tự hào của người dân Al-Qadisiyah mang theo trên ngọn giáo lớn hơn tham vọng của chúng."[9]
Về phần mình Ayatollah Ruhollah Khomeini tin rằng những người hồi giáo, đặc biệt là người theo dòng Shia ở Iraq, Ả Rập SaudiKuwait, những người mà ông cho là đang bị đàn áp, có thể và nên noi gương người Iran nổi dậy lật đổ chính phủ và cùng lập ra một quốc gia Hồi giáo thống nhất.[10] Khomeini và những nhà cách mạng Hồi giáo Iran khác coi chủ nghĩa thế tục của Saddam, chế độ dân tộc chủ nghĩa A-rập của đảng Ba'ath như là "phi Hồi giáo" và là "con rối của quỷ Satan,"[11], ông kêu gọi người Iraq hãy lật đổ chế độ Saddam Hussein. Cùng thời gian này diễn ra quá trình thanh trừng các sĩ quan quân đội gay gắt(một số án tử hình được quyết định bởi Sadegh Khalkhali, người nắm chức vụ thi hành luật Hồi giáo sharia thời hậu cách mạng). Việc thiếu phụ tùng thay thế cho số vũ khí do Mỹ sản xuất đã làm yếu quân đội một thời hùng mạnh của Iran. Quân đội Iran được trang bị kém dù cho có lực lượng dân binh trung thành và tận tụy. Iran cũng phòng thủ rất mỏng ở khu vực sông Shatt al-Arab.
Iraq phát động cuộc chiến mà cứ tin tưởng người Sunni ở Iran sẽ ủng hộ và gia nhập phe mình. Iraq đã đánh giá sai lầm sức mạnh của tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở Iran dù cho có khác biệt về mặt lịch sử giữa các bộ lạc và họ cũng đánh giá sai khả năng kiểm soát báo chí của chính quyền Iran. Do đó chỉ có một số ít người A-rập ở Khuzestan và người Sunni ở Iran hợp tác với quân Iraq.[cần dẫn nguồn]
Năm 1980, vài tháng trước khi chiến tranh bắt đầu, đại sứ quán Iran ở London bị một nhóm khủng bố do Iraq hậu thuẫn tấn công. Sự kiện này được biết đến với cái tên Iranian Embassy Siege (cuộc bao vây đại sứ quán Iran).[12]
Báo cáo của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc ngày 9 tháng 12 năm 1991 (S/23273) thẳng thắn nhận xét: "Hành động gây hấn của Iraq với Iran trong việc phát động chiến tranh và phá vỡ hòa bình và an ninh quốc tế".[13]

Biên niên kỷ cuộc chiến

Lý do Iraq gây chiến và mục tiêu của cuộc chiến

Cái cớ gây chiến của Iraq là vụ ám sát hụt ngoại trưởng nước này Tariq Aziz ở miền Nam Iraq. Saddam Hussein cáo buộc "các điệp viên Iran" là thủ phạm.
Sông Shatt al-Arab nằm trên biên giới Iran–Iraq
Từ tháng 3 năm 1980, quan hệ giữa hai nước đi xuống nghiêm trọng, Iran đơn phương giáng cấp quan hệ ngoại giao xuống mức đại biện, rút đại sứ về nước và yêu cầu phía Iraq có hành động tương ứng. Căng thẳng dâng cao vào tháng 4 khi xảy ra vụ ám sát phó thủ tướng Iraq Tariq Aziz và 3 ngày sau là vụ đánh bom nhằm vào đoàn tang lễ trên đường đến nghĩa trang mai táng những sinh viên thiệt mạng trong vụ tấn công trước đó. Iraq đổ lỗi cho Iran đứng sau các vụ việc trên và tháng 9 thì nước này bắt đầu tấn công.[14]
Một phụ nữ Iran có vũ trang trước một đền thờ Hồi giáo khi Iraq đánh vào thành phố cảng Khorramshahr tháng 9-tháng 10 năm 1981
Ngày 17 tháng 9, trong một bài phát biểu trước quốc hội, Saddam Hussein nói "Những hành động thường xuyên và rõ ràng của Iran vi phạm chủ quyền của Iraq...đã khiến cho Hiệp định Algiers 1975 không còn giá trị... Dòng sông này (sông Shatt al-Arab)...phải được trả lại cái tên A-rập mà nó đã mang suốt chiều dài lịch sử và (Iraq)phải được trả lại toàn bộ các quyền chủ quyền đối với dòng sông.",[15]
Các mục tiêu của Iraq khi xâm lược Iran:
  1. Kiểm soát hoàn toàn sông Shatt al-Arab
  2. Chiếm các đảo gồm: Abu Musa và 2 đảo mang tên Greater and Lesser Tunbs thay cho UAE.
  3. Sáp nhập vùng Khuzestan vào Iraq.
  4. Lật đổ chính quyền cách mạng Hồi giáo ở Iran[cần dẫn nguồn]
  5. Ngăn chặn sự lan tràn của Cách mạng Hồi giáo trong khu vực.

Tháng 9 năm 1980: Iraq tấn công

Ngày 22 tháng 9 năm 1980 Iraq mở cuộc tấn công toàn diện vào Iran. Vào ngày này, không quân Iraq oanh kích vào 10 sân bay trong nội địa Iran nhưng không đạt được mục tiêu vô hiệu hóa không quân Iran ngay trên mặt đất.[16] Ngày hôm sau, Iraq bắt đầu mở cuộc tấn công trên bộ, với ba mũi tiến công cùng lúc trên một mặt trận dài 644 km.[16] Theo Saddam Hussein mục đích của cuộc chiến là nhằm làm suy yếu phong trào của Khomeini và ngăn cản việc "xuất khẩu cách mạng Hồi giáo sang Iraq và các quốc gia vùng vịnh Péc-xích khác"[14] Trong số 6 sư đoàn Iraq tham chiến, có 4 sư đoàn tấn công tỉnh Khuzestan, nằm ở rìa phía nam của biên giới 2 nước, chia cắt vùng sông Shatt al-Arab khỏi phần còn lại của Iran và thiết lập một vùng an toàn trên bộ.[16] Hai sư đoàn còn lại tấn công vào khu vực bắc và trung phần của biên giới nhằm ngăn chặn quân Iran phản công vào lãnh thổ Iraq.[17] Hai trong số 4 sư đoàn Iraq hoạt động ở gần vùng biên giới phía Nam (1 sư đoàn cơ giới, 1 sư đoàn thiết giáp) bắt đầu bao vây chiến lược hai thị trấn quan trọng là AbadanKhorramshahr.[16] Hai sư đoàn thiết giáp còn lại bảo vệ khu vực tứ giác Khorramshahr-Ahvaz-Susangerd-Musian nhằm tiếp tục bao vây.[16] Ở mặt trận trung tâm, quân Iraq chiếm Mehran, thọc sâu vào vùng đồi núi thuộc rặng núi Zagros. Và để ngăn chặn khả năng quân Iran dùng con đường đánh Iraq truyền thống trước đây là Tehran–Baghdad, quân Iraq đóng ở một số vị trí nằm trước vùng Qasr-e-Shirin.[17] Ở mặt trận phía Bắc, quân Iraq cố gắng thiết lập phòng tuyến Suleimaniya để bảo vệ tổ hợp lọc dầu Kirkuk.[17]
Do quân chính quy Iran và lực lượng vệ binh cách mạng Iran (Pasdaran) hoạt động độc lập nên quân Iraq không hề phải chạm trán với sự kháng cự có phối hợp nào.[17] Ngày 24 tháng 9, Hải quân Iran tấn công Basra phá hủy hai kho dầu gần thành phố cảng Fao của Iraq. Điều này đã là giảm khả năng xuất khẩu dầu của Iraq.[18] Tháng 9, không quân Iran bắt đầu không kích các mục tiêu quan trọng chiến lược của Iraq bao gồm: các cơ sở lọc dầu, đập nước, các nhà máy hóa dầu và lò phản ứng hạt nhân gần Baghdad.[18] Tính đến ngày 1 tháng 10 thành phố Baghdad đã phải gánh chịu 8 trận không kích.[18] Để trả đũa, máy bay Iraq oanh tạc các mục tiêu của phía Iran.[18] Lực lượng vệ binh cách mạng Iran chiến đấu "hăng hái và ngoan cường"[19] và là lực lượng chủ lực trong chiến đấu.[20] Ngày 24 tháng 10, Khorramshahr bị chiếm[19] đến tháng 11 Saddam ra lệnh tấn công DezfulAhvaz,[18] nhưng quân Iraq không chiếm được hai thành phố này.[18]
Iraq huy động 21 sư đoàn cho cuộc tấn công này trong khi phía Iran kháng cự với 13 sư đoàn quân chính quy và 1 lữ đoàn. Trong số các sư đoàn nói trên chỉ có 7 sư đoàn triển khai tới biên giới.
Cuộc "tiến công chớp nhoáng" này diễn ra khi quân đội Iran vẫn còn thiếu tổ chức, diễn ra trên một mặt trận rộng lớn kéo từ trục MehranKhorramabad miền trung Iran đến tận Ahvaz, vùng đất giàu tài nguyên dầu mỏ thuộc tỉnh Khuzestan.

Cuộc tấn công của Iraq lâm vào bế tắc

Đến khoảng tháng 3 năm 1981 Iraq bế tắc trong tiến công. Những lần không kích của Iraq hồi đầu cuộc chiến chỉ thành công trong việc phá hủy một phần cơ sở hạ tầng sân bay của Iran chứ không vô hiệu hóa được lực lượng không quân nước này. Không quân Iraq chỉ có thể oanh kích vào nội địa Iran với một số ít máy bay MiG-23BN, Tu-22Su-20, điều này hầu như không hiệu quả với một đất nước rộng lớn như Iran. Không quân Iran phản kích với hàng loạt máy bay chiến đấu F-4 tấn công vào các mục tiêu của Iraq, ít ngày sau không quân Iran đã áp đảo Iraq. Điều này cho phép họ tiến hành không kích các mục tiêu trên bộ bằng máy bay ném bom và trực thăng vũ trang.
Nhân dân Iran thay vì nghe lời phe cựu hoàng lưu vong chống lại chính quyền Hồi giáo, nay họ tập hợp dưới lá cờ dân tộc để kháng chiến. Đến tháng 11, ước tính có đến 200.000 quân được bổ sung cho chiến trường, đa phần là lính tình nguyện.[21] Quân Iraq nhanh chóng nhận ra rằng tiềm lực quân sự Iran không phải là "gần như trống không" như họ nghĩ.
Gần 1 năm kể từ khi Iraq lâm vào bế tắc tháng 3 năm 1981, không có nhiều thay đổi trên chiến trường. Nhưng đến giữa tháng 3 năm 1982 quân Iran phản công đẩy quân Iraq phải rút lui. Đến tháng 6 năm 1982, Iran tái chiếm các vùng đất đã bị mất lúc đầu cuộc chiến. Trận có ý nghĩa đặc biệt trong chiến dịch phản công ở tỉnh Khuzestan là trận giải phóng thành phố Khorramshahr vào ngày 24 tháng 5 năm 1982.

Iraq rút quân nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn

Binh lính Iraq bị bắt làm tù binh tại Khorramshahr
Saddam quyết định rút quân hoàn toàn khỏi Iran để đóng dọc biên giới hai nước.[17] Theo giáo sư về Trung Đông và Địa Trung Hải học Efraim Karsh, Saddam quyết định như vậy vì binh lính Iraq lúc này đã quá mất nhuệ khí để có thể tiếp tục chiếm đóng Iran. Hơn nữa, Iran có thể dùng phòng tuyến bên trong lãnh thổ Iraq gần biên giới để tiếp tục kháng cự.[17] Lấy cái cớ là việc Israel xâm lược Liban (ngày 6 tháng 6 năm 1982) Iraq tuyên bố rút quân và đề nghị Iran ngừng bắn, hai nước sẽ cử quân sang giúp người Palestine chiến đấu ở Liban. Tuy nhiên đề nghị này đã bị phía Iran khước từ.[17] Cuộc rút quân bắt đầu vào ngày 20 tháng 6 và kết thúc hoàn toàn vào ngày 30 tháng 6.[17] Giáo sư Karsh miêu tả quyết định rút quân của Saddam là "một trong những hành động mang tính chiến lược sáng suốt nhất của ông ta trong suốt cuộc chiến".[17]
Một kế hoạch được A-rập Xê-út bảo trợ nhằm kết thúc chiến tranh được phía Iraq đồng ý. Kế hoạch bao gồm: $70 tỉ USD bồi thường chiến phí do các quốc gia A-rập ở vịnh Péc-Xích trả thay cho Iraq và việc triệt thoái hoàn toàn quân Iraq khỏi Iran - những người chỉ trích chính sách của chính phủ Iran gọi đây là một "món hời khổng lồ cho Iran."[22] Iran khước từ kế hoạch này, đưa ra yêu sách phải thay thế chính quyền Saddam Hussein, hồi hương 100.000 người Hồi giáo dòng Shi'ites bị trục xuất khỏi Iraq trước chiến tranh và $150 tỉ USD tiền bồi thường chiến phí. [cần dẫn nguồn]
Ngày 21 tháng 6, Khomeini nêu ra quan điểm Iran nên xâm lược Iraq trong thời gian ngắn. Ngày 22 tháng 6, tổng tư lệnh quân đội Iran Shirazi tuyên bố "tiếp tục đánh cho đến khi lật đổ chế độ Saddam Hussein để chúng ta có thể cầu nguyện ở KarbalaJerusalem".[17] Tuyên bố này mang ý nghĩa tương tự như nhận xét của nhà lãnh đạo Iran Khomeini về vấn đề đình chiến với Iraq: "Không có điều kiện nào ngoài việc chế độ ở Baghdad phải sụp đổ và được thay thế bằng một nền Cộng hòa Hồi giáo."[23]

Cuộc tấn công của Iran, cuộc phòng thủ kịch liệt của Iraq

Dưới khẩu hiệu "Chiến tranh, Chiến tranh tới khi Chiến thắng," và "Con đường tới Jerusalem đi qua Karbala," [24] Iran tiến quân. Một chiến thuật được sử dụng trong cuộc tấn công này đã được biết đến trên toàn thế giới là sự khuyến khích hành động dũng cảm của các chiến binh tình nguyện basij trẻ của Iran những người tìm cách trở thành người tử vì đạo bằng những cuộc tấn công biển người vào các vị trí của Iraq. Những người tình nguyện được khích lệ trước các trận đánh bằng những câu chuyện về Ashura, Trận Karbala, và vinh quang cực đỉnh của kẻ tử vì đạo, và thỉnh thoảng bởi một diễn viên (thường là một binh sĩ lớn tuổi hơn), đóng vai Imam Hossein trên mình một con ngựa trắng, phi dọc theo các chiến tuyến, tạo cho các chiến binh chưa có kinh nghiệm viễn cảnh của "người anh hùng sẽ lao mình vào trận chiến định mệnh trước khi gặp vị Thánh của mình." [25]
Ngày 13 tháng y, các đơn vị Iran vượt biên giới tiến về Basra, thành phố quan trọng thứ hai của Iraq. Tuy nhiên, kẻ thù mà họ phải đối mặt đã giăng ra một lực lượng phòng thủ lớn. Không giống như những lực lượng phòng thủ chuẩn bị vội vàng mà người Iraq từng đưa ra trước Iran trong cuộc chiếm đóng các lãnh thổ bị chinh phục năm 1980–1981, các lực lượng phòng vệ biên giới đã được phát triển rất tốt ngay trước cuộc chiến, và người Iraq đã có thể sử dụng một mạng lưới lô cốt và trận địa pháo dày đặc. Saddam cũng đã tăng gấp đôi quân số Iraq từ 500.000 binh sĩ năm 1981 (26 sư đoàn và 3 lữ đoàn độc lập) lên tới 1.050.000 người (55 sư đoàn và 9 lữ đoàn) năm 1985.[cần dẫn nguồn]
Những nỗ lực của Saddam đã mang lại kết quả. Iran đã sử dụng các chiến dịch phối hợp với kết quả tốt khi tấn công quân đội Iraq trong lãnh thổ của họ, và đã tung ra các cuộc tấn công biển người mang tính biểu tượng với sự hỗ trợ mạnh của pháo binh, máy bay và xe tăng. Tuy nhiên, thiếu hụt đạn dược đồng nghĩa với việc người Iran tung ra các cuộc tấn công biển người mà không có sự hỗ trợ của các nhánh quân đội khác. Ưu thế vượt trội của lực lượng phòng thủ Iraq khiến hàng chục nghìn binh sĩ Iran thiệt mạng trong hầu hết các chiến dịch sau năm 1982, và lực lượng phòng thủ Iraq vẫn giữ được hầu hết các vị trí.
Trong cuộc tấn công Basra, hay Chiến dịch Ramadan, năm cuộc tấn công biển người đã bị chặn lại bởi hoả lực của Iraq. Các binh sĩ trẻ của Iran thiệt hại rất nhiều, đặc biệt khi họ tình nguyện lao ra chiến trường mà không hề có kinh nghiệm, chỉ để dọn đường cho các chiến binh Iran phía sau. Người Iran cũng bị thiệt hại lớn bởi các vũ khí hoá học và hơi cay do phía Iraq sử dụng.

1983–1985: Các cuộc tấn công khác của Iran không thể phá vỡ thế bế tắc chiến lược

Lãnh thổ xa nhất giành được
Ali Khamenei, với các binh sĩ Iran trên trận địa. Khamenei phản đối quyết định của Khomeini mở rộng cuộc chiến vào Iraq.[26]
Sau thất bại của những cuộc tấn công mùa hè năm 1982, Iran tin rằng một cố gắng lớn dọc theo toàn bộ chiều dài mặt trận sẽ mang lại thắng lợi họ đang mong đợi. Ưu thế quân số của Iran sẽ tạo ra một bước đột phá nếu họ tấn công trên mọi khu vực của mặt trận và cùng thời điểm, nhưng họ vẫn thiếu sự tổ chức cho cuộc tấn công kiểu đó. Iran nhận được sự hỗ trợ từ các quốc gia như Bắc Triều Tiên, Libya, và Trung Quốc. Người Iraq có nhà viện trợ hơn như Liên xô, các quốc gia NATO, Pháp, Anh Quốc, Brasil, Nam Tư, Tây Ban Nha, Italia, Ai Cập, Ả Rập Saudi, và Hoa Kỳ.
Trong năm 1983, Iran tung ra năm cuộc tấn công lớn dọc theo mặt trận. Không cuộc tấn công nào mang lại kết quả lớn. Lập trường của Khomeini về một cuộc ngừng bắn vẫn không thay đổi.
Tháng 2 năm 1984, Saddam ra lệnh tiến hành các cuộc tấn công không quân và tên lửa vào mười một thành phố ông đã lựa chọn. Cuộc ném bom ngừng lại ngày 22 tháng 2 năm 1984. Iran nhanh chóng trả đũa vào các trung tâm đô thị của đối phương, và những cuộc tấn công qua lại đã được gọi là "cuộc chiến tranh giữa các thành phố" lần thứ nhất. Trong suốt thời gian cuộc chiến, có năm cuộc chiến tranh như vậy.
Các cuộc tấn công vào các thành phố Iran không tiêu diệt được quyết tâm chiến đấu của chính phủ Iran. Ngày 15 tháng 2, người Iran tung ra một cuộc tấn công lớn nhằm vào khu vực trung tâm chiến trường nơi Quân đoàn số 2 của Iraq đã được triển khai. 250.000 lính Iran đối mặt với 250.000 quân Iraq.
Từ ngày 15 đến ngày 22 tháng 2, trong Chiến dịch Bình minh 5, và từ 22 tới 24 tháng 2, trong Chiến dịch Bình minh 6, Iran nỗ lực chiếm thị trấn chiến lược Kut al-Amara và cắt đường cao tốc nối Baghdad với Basra. Việc chiếm đóng con đường này khiến quân đội Iraq gặp khó khăn lớn trong việc cung cấp hậu cần và phối hợp sự phòng vệ, nhưng các lực lượng Iran chỉ vào được cách con đường cao tốc 15 dặm (24 km).
Tuy nhiên, Chiến dịch Khaibar mang lại thắng lợi lớn hơn nhiều. Với một số cuộc tấn công hướng về thành phố Basra quan trọng của Iraq, chiến dịch bắt đầu ngày 24 tháng 2 và kéo dài tới ngày 19 tháng 3. Lực lượng phòng vệ Iraq, luôn ở trong tình trạng chiến đấu từ ngày 15 tháng 2, dường như gần tan vỡ hoàn toàn. Người Iraq đã thành công trong việc ổn định mặt trận nhưg chỉ sau khi quân Iran đã chiếm được một phần đảo Majnun. Dù có sự phản công mạnh mẽ của Iraq cộng với việc sử dụng hơi caykhí độc thần kinh sarin, quân Iran vẫn giữ được vùng đã chiếm đóng và tiếp tục giữ hầu hết chúng cho tới cuối cuộc chiến.[21]

Tháng 1 năm 1985 – Tháng 2 năm 1986: Những cuộc tấn công sớm thất bại của Iran và Iraq

Với các lực lượng vũ trang của mình được cung cấp tài chính từ Ả Rập Saudi, Kuwait và các quốc gia vùng Vịnh khác, và những nguồn cung vũ khí dồi dào từ Liên xô, Trung Quốc và Pháp (cùng với các nước khác), Saddam bắt đầu tiến công ngày 28 tháng 1 năm 1985, lần đầu tiên kể từ đầu năm 1980. Tuy nhiên, cuộc tấn công này không mang lại thắng lợi nào, và quân Iran trả đũa với cuộc tấn công của họ về phía Basra, mã hiệu Chiến dịch Badr, ngày 11 tháng 3 năm 1985. Imam Khomeini hối thúc người Iran khi phát biểu, "Chúng ta tin rằng Saddam muốn biến đạo Hồi thành một sự báng bổ và thuyết đa thần.... nếu Hoa Kỳ giành chiến thắng... và trao chiến thắng cho Saddam, Hồi giáo sẽ nhận một cú đấm như vậy khiến nó không thể ngẩng đầu lên trong một thời gian dài... Vấn đề là sự báng bổ tới Hồi giáo, và không phải là giữa Iran và Iraq." [27]
Tới thời điểm này, sự thất bại của những cuộc tấn công biển người không có hỗ trợ trong năm 1984 có nghĩa là Iran đang tìm cách phát triển một mối quan hệ làm việc tốt hơn giữa quân đội và Pasdaran. Chính phủ Iran cũng tìm cách biến các đơn vị Pasdaran thành các lực lượng chiến đấu quy ước hơn. Cuộc tấn công đã thành công trong việc chiếm một phần của con đường cao tốc Baghdad-Basra từng không đạt được trong Chiến dịch Bình minh 5Chiến dịch Bình minh 6. Saddam trả đũa trước tình hình khẩn cấp chiến lược này bằng những cuộc tấn công khí độc vào các vị trí của Iran dọc theo đường cao tốc và tung ra cuộc 'chiến tranh giữa các thành phố' lần hai với những chiến dịch không kích và bắn tên lửa hàng loạt vào hai mươi thị trấn của Iran, gồm cả Tehran.

Cuộc chiến tàu chở dầu và Hoa Kỳ hỗ trợ Iraq

Cuộc chiến tàu chở dầu bắt đầu khi Iraq tấn công các tàu chở dầu của Iran và các kho chứa dầu tại đảo Kharg năm 1984. Iran trả đũa bằng cách tấn công các con tàu chở theo dầu của Iraq từ Kuwait và sau đó là bất kỳ tàu chở dầu nào của các quốc gia Ả Rập ủng hộ Iraq. Các cuộc tấn công bằng đường không và tàu nhỏ không gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế các quốc gia vùng vịnh và Iran chuyển cảng của mình tới Đảo Larak tại Eo Hormuz.[28]
Năm 1982 với những thắng lợi trên chiến trường của Iran, Hoa Kỳ mở rộng ủng hộ Iraq, cung cấp thông tin tình báo, viện trợ kinh tế, bình thường hoá quan hệ với chính phủ (đã ngừng lại trong cuộc Chiến tranh sáu ngày năm 1967), và cung cấp các thiết bị và phương tiện "lưỡng dụng". Các thiết bị lưỡng dụng là các thiết bị như xe tải nặng, xe cứu thương bọc thép và thiết bị viễn thông cũng như công nghệ công nghiệp có thể áp dụng vào quân sự.[29] Tổng thống Ronald Reagan quyết định rằng Hoa Kỳ "không thể để Iraq thua trận trước Iran", và rằng Hoa Kỳ "sẽ làm bất kỳ điều gì cần thiết để Iraq không bị thua trận trước Iran."[30] Tổng thống Reagan đã chính thức hoá chính sách này bằng cách đưa ra Chỉ thị Quyết định An ninh Quốc gia ("NSDD") về hiệu ứng này tháng 6 năm 1982.

Những cuộc tấn công vào tàu bè

Lloyd's of London, một thị trường bảo hiểm của Anh, ước tính rằng cuộc Chiến tranh tàu chở dầu đã làm hư hại 546 tàu chở hàng thương mại và làm thiệt mạng khoảng 430 thuỷ thủ. Chiếm tỷ lệ lớn nhất là các cuộc tấn công của Iran vào các tàu hàng của Kuwait, và vào ngày 1 tháng 11 năm 1986, Kuwait chính thức kêu gọi các cường quốc nước ngoài bảo vệ các con tàu của mình. Liên xô đồng ý bảo vệ các tàu chở dầu từ năm 1987, và Hoa Kỳ đề xuất bảo vệ cho các tàu chở dầu treo cờ Mỹ ngày 7 tháng 3 năm 1987 (Chiến dịch Earnest WillChiến dịch Prime Chance).[31] Theo luật pháp quốc tế, một cuộc tấn công vào những con tàu như vậy sẽ bị coi là một cuộc tấn công vào Hoa Kỳ, cho phép Hải quân Hoa Kỳ phản ứng. Sự hỗ trợ này sẽ bảo vệ các tàu trung lập đi về phía các cảng Iraq, đảm bảo một cách hiệu quả tiềm lực của Iraq cho cuộc chiến lâu dài.[cần dẫn nguồn]

Cuộc tấn công của Iraq vào tàu chiến Mỹ

Ngày 17 tháng 5 năm 1987, một chiếc máy bay tấn công Mirage F1 của Iraq đã bắn hai quả tên lửa Exocet vào chiếc USS Stark (FFG 31), một tàu khu trục lớp Perry. Quả tên lửa đầu tiên lao vào mạn trái tàu và không nổ, dù nó gây nên đám cháy từ vật liệu đẩy của nó; quả thứ hai lao tới ngay sau đó và hầu như đúng vào vị trí quả thứ nhất và xuyên vào phòng thuỷ thủ, nổ tung. Sức nổ đã làm thiệt mạng 37 thuỷ thủ và làm 21 người bị thương. Đây vẫn là cuộc tấn công thành công duy nhất của tên lửa chống tàu vào tàu chiến Mỹ.[32][33]

Hoạt động quân sự của Hoa Kỳ với Iran

Tuy nhiên, sự chú ý của Mỹ tập trung trên việc cô lập Iran cũng như tự do hàng hải, chỉ trích việc Iran khai thác các vùng biển quốc tế, và tài trợ cho Nghị quyết 598 Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, được thông qua ngày 20 tháng 7, theo đó họ đã chạm trán nhỏ vài lần với các lực lượng Iran. Trong Chiến dịch Nimble Archer tháng 10 năm 1987, Hoa Kỳ tấn công các giàn khoan dầu của Iran để trả đũa vụ tấn công của Iran vào tàu chở dầu Kuwait treo cờ Mỹ Sea Isle City.[31]
Ngày 14 tháng 4 năm 1988, tàu khu trục USS Samuel B. Roberts bị thuỷ lôi Iran gây thiệt hại nặng nề, với 10 người bị thương nhưng không có thiệt mạng. Các lực lượng Hoa Kỳ trả đũa với Chiến dịch Praying Mantis ngày 18 tháng 4, lần tham chiến lớn nhất của các tàu nổi thuộc Hải quân Hoa Kỳ từ sau Thế chiến II. Hai giàn khoan dầu của Iran, hai tàu và sáu tàu chiến Iran bị phá huỷ. Một máy bay trực thăng của Mỹ cũng lao xuống đất.[31]

Hoa Kỳ bắn rơi máy bay chở khách

Bài chi tiết: Chuyến bay 655 của Iran
Trong quá trình những cuộc hộ tống đó của Hải quân Hoa Kỳ, tàu tuần tiễu USS Vincennes đã bắn hạ Chuyến bay 655 của Iran làm thiệt mạng toàn bộ 290 hành khách và phi hành đoàn ngày 3 tháng 7 năm 1988. Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố chiếc máy bay chở khách đã bị nhầm với một chiếc F-14 Tomcat của Iran, và chiếc Vincennes đang hoạt động ở vùng biển quốc tế ở thời điểm đó và lo ngại rằng nó đang bị tấn công, điều sau này có vẻ không chính xác.[32][34] Tuy nhiên, phía Iran cho rằng chiếc Vincennes thực tế đang trong vùng lãnh hải Iran, và rằng chiếc máy bay phản lực chở khách của Iran đang lượn vòng và tăng độ cao sau khi cất cánh. Đô đốc Hoa Kỳ William J. Crowe cũng thừa nhận trên Nightline rằng chiếc Vincennes đang ở trong vùng lãnh hải Iran khi nó phóng tên lửa. Ở thời điểm đó, thuyền trưởng Vincennes tuyên bố rằng chiếc máy bay của Iran không thông báo danh tính và không trả lời các tín hiệu cảnh báo từ Vincennes. Ngoài Iran, các nguồn tin độc lập khác, ví dụ, sân bay Dubai, đã xác nhận rằng chiếc máy bay có thông báo danh tính cho tàu chiến Mỹ và cũng xác định rằng "chiếc máy bay chở khách đang lấy độ cao và vì thế không thể là một mối đe doạ," thích ứng với tuyên bố của các quan chức Iran.[35]
Theo một cuộc điều tra do chương trình Nightline của ABC News tiến hành, những vật nguỵ trang đã được Hải quân Hoa Kỳ triển khai trong cuộc chiến trong Vịnh Ba Tư để nhử các tàu chiến Iran và tiêu diệt chúng, và thời điểm chiếc USS Vincennes bắn hạ máy bay chở khách Iran, nó đang thực hiện một chiến dịch như vậy.
Năm 1996 Hoa Kỳ bày tỏ sự hối tiếc chỉ với những người vô tội thiệt mạng, và không đưa ra lời xin lỗi chính thức với chính phủ Iran.[32][36]
Việc bắn hạ máy bay chở khách của Iran Chuyến bay 655 của Iran của tàu tuần dương Mỹ USS Vincennes, đã được một học giả Iran nêu ra [[]][ai nói?] như một lý do rõ ràng để Ruhollah Khomeini rút khỏi cuộc xung đột:[37]
Một học giả Iran có mặt tại hội nghị nói một thời điểm thay đổi quan trọng trong cách suy nghĩ của Iran diễn ra với việc bắn hạ chiếc máy bay chở khách của Iran tháng 7 năm 1988 của tàu tuần dương USS Vincennes. Vụ việc này rõ ràng khiến Ayatollah Khomeini kết luận rằng Iran không thể đương đầu với nguy cơ một cuộc xung đột vũ trang mở với Hoa Kỳ và ông quyết định đó là thời điểm để chấm dứt cuộc xung đột.

"Chiến tranh giữa các thành phố"

Tới cuối cuộc chiến, cuộc xung đột trên bộ đã thoái lui trở thành một thế bế tắc chủ yếu bởi không bên nào có đủ lực lượng không quân hay pháo tự hành để hỗ trợ các lực lượng mặt đất tiến công.
Các lực lượng vũ trang khá chuyên nghiệp của Iraq không thể đạt được các tiến bộ trước lực lượng bộ binh đông đảo hơn nhiều của Iran. Người Iran bị áp đảo về pháo kéo và pháo tự hành, khiến xe tăng và binh lính của họ dễ bị thương vong. Và vì thế Iran đã phải đưa bộ binh thay thế cho pháo binh.
Không quân Iraq nhanh chóng bắt đầu các cuộc ném bom chiến lược vào các thành phố của Iran, chủ yếu là Tehran, năm 1985. Để giảm bớt những thiệt hại do ưu thế không quân của Iran, Iraq nhanh chóng quay sang sử dụng các tên lửa Scud và loại tên lửa Al-Hussein kiểu Scud đã được cải tiến. Để trả đũa, Iran bắn các tên lửa Scud có được từ Libya và Syria vào Baghdad. Tổng cộng, Iraq đã bắn 520 tên lửa Scud và Al-Hussein vào Iran và nhận lại 177 quả. Tháng 10 năm 1986, máy bay Iraq tấn công các đoàn tàu và máy bay chở khách dân sự, gồm cả một chiếc Boeing 737 của Iran Air đang đậu tại Sân bay Quốc tế Shiraz.
Để trả đũa Chiến dịch Karbala-5 của Iran, một nỗ lực đầu năm 1987 nhằm chiếm Basra, Iraq tấn công 65 thành phố trong 226 lần xuất kích trong 42 ngày, ném bom các khu dân cư lân cận. Tám thành phố của Iran bị các tên lửa của Iraq tấn công. Các cuộc ném bom làm thiệt mạng 65 trẻ em riêng tại một trường phổ thông ở Borujerd. Người Iran cũng trả đũa lại với những cuộc tấn công bằng tên lửa Scud vào Baghdad và tấn công một trường cấp một tại đó. Những sự kiện này được gọi là "chiến tranh giữa các thành phố".[36]

Hướng tới một sự ngừng bắn

Mujahedin Nhân dân Iran được hỗ trợ Saddam bắt đầu chiến dịch kéo dài mười ngày của họ sau khi chính phủ Iran chấp nhận Nghị quyết 598 của Liên hiệp quốc. Thương vong trong khoảng 2,000 tới 10.000.
Năm 1987 chứng kiến một làn sóng tấn công mới của Iran vào các mục tiêu ở cả miền bắc và miền nam Iraq. Quân đội Iran bị lực lượng phòng vệ được chuẩn bị tốt của Iraq chặn lại ở phía nam trong một trận chiến kéo dài nửa tháng tranh giành Basra (Chiến dịch Bình minh 5), nhưng sau đó đã gặt hài nhiều thành công hơn ở phía bắc khi các Chiến dịch Nasr 4Karbala-10 đe doạ chiếm giữ thành phố Kirkuk giàu dầu mỏ của Iraq và các giếng dầu khác ở phía bắc. Tuy nhiên, các lực lượng Iran không thể củng cố các vị trí đã chiếm được và tiếp tục tiến quân, và vì thế trong năm 1987 ít diễn ra những sự thay đổi chủ. Ngày 20 tháng 7, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 598 được Mỹ hậu thuẫn, kêu gọi chấm dứt xung đột và quay trở lại các biên giới trước cuộc chiến. Iraq, vốn đã mất nhiều vùng lãnh thổ quan trọng trong cuộc chiến, chấp nhận nghị quyết. Tuy nhiên, Iran không muốn phải trả lại những gì đã giành được khi một cuộc thắng lợi hoàn toàn đã trong tầm tay, và vì thế cuộc chiến lại tiếp tục.[38]
Tuy nhiên tới tháng 4 năm 1988 các lực lượng Iraq đã tái hợp đủ để bắt đầu một loạt các cuộc tấn công gây tàn phá vào Iran và nhanh chóng chiếm giữ được bán đảo al-Faw chiến lược (đã mất năm 1986 trong Chiến dịch Bình minh 8) nhờ sử dụng mạnh các loại vũ khí hoá học, và lãnh thổ bao quanh Basra và cũng tấn công sâu vào lãnh thổ phía bắc của Iran, chiếm được nhiều chiến lợi phẩm.[21] Tháng 7 năm 1988 máy bay Iraq đã thả các quả bom hoá chất cyanide xuống làng Kurdish Iran tại Zardan (như họ đã làm bốn tháng trước đó tại làng Kurdish Halabja của mình). Hàng trăm người chết ngay lập tức, và những người sống sót vẫn bị ảnh hưởng bởi nhiều tác động thể chất và tâm thần. Người Iran trong tâm trạng tức tối đã xem xét tới việc vũ trang các loại vũ khí hạt nhân trên diện rộng, nhưng đã quyết định rằng việc đó vượt quá các khả năng của họ. Sau những thất bại lớn đó, Iran đã chấp nhận các điều khoản của Nghị quyết 598 của Liên hiệp quốc và vào ngày 20 tháng 8 năm 1988 hoà bình được tái lập.
Mujahedin Nhân dân Iran bắt đầu chiến dịch mười ngày của họ sau khi chính phủ Iran đã chấp nhận Nghị quyết 598 của Liên hiệp quốc. Trong khi các lực lượng Iraq tấn công Khuzestan, quân Mujahedin tấn công tây Iran và chiến đấu với Pasdaran để giành Kermanshah. Mọi thắng lợi mà quân Mujahedin giành được đều nhờ sự hỗ trợ trên không của Iraq. Tuy nhiên, dưới áp lực to lớn của cộng đồng quốc tế đòi chấm dứt cuộc chiến, Saddam Hussein rút các máy bay chiến đấu của mình và để mở bầu trời cho các lực lượng không quân Iran triển khai phía sau các trận tuyến của Mojahedin. Chiến dịch chấm dứt với một thất bại cho Mojahedin. Con số thương vong trong khoảng từ 2,000 lên tới 10.000 người.

So sánh sức mạnh quân sự Iran và Iraq

Khởi đầu tình trạng thù địch, Iraq có ưu thế rõ ràng về vũ khí, trong khi cả hai nước gần như ngang bằng về pháo binh. Sự khác biệt chỉ nới rộng thêm ra khi cuộc chiến tiếp diễn. Iran khởi động với một lực lượng không quân mạnh hơn, nhưng cùng với thời gian ưu thế dần chuyển sang phía Iraq. Tới cuối cuộc chiến, Iraq có ưu thế lớn về mọi loại trang bị vũ khí so với các lực lượng Iran. The Economist ước tính cho năm 1980 và 1987 là:[39]
Cân bằng sức mạnh (1980–1987) Iraq Iran
Xe tăng năm 1980 2700 1740
Xe tăng năm 1987 4500 1000
Máy bay chiến đấu năm 1980 332 445
Máy bay chiến đấu năm 1987 500+ 65*
Trực thăng năm 1980 40 500
Trực thăng năm 1987 150 60
Pháo năm 1980 1000 1000+
Pháo năm 1987 4000+ 1000+

Hỗ trợ nước ngoài cho Iraq và Iran

Donald Rumsfeld với tư cách phái viên đặc biệt tại Trung Đông, gặp gỡ Saddam tháng 12 năm 1983. Trớ trêu thay, Rumsfeld sau này sẽ trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh Iraq năm 2003 loại bỏ Saddam khỏi chiếc ghế quyền lực và cuối cùng khiến ông bị hành quyết.
Trong cuộc chiến, Iraq được phương Tây (và đặc biệt là Hoa Kỳ) coi như một đối trọng với nhà nước Iran hậu cách mạng. Sự hỗ trợ cho Iraq diễn ra dưới hình thức viện trợ kỹ thuật, tình báo, việc bán các thiết bị quân sự lưỡng dụng và vệ tinh tình báo cho Iraq. Tuy có một cuộc chiến tranh trực tiếp giữa Iran và Hoa Kỳ, nói chung mọi người không cho rằng cuộc chiến tranh Hoa Kỳ-Iran phục vụ cho lợi ích của Iraq, hay một cách riêng biệt, dù diễn ra cùng thời điểm, là các vấn đề giữa Mỹ và Iran. Tình trạng mập mờ trong việc ủng hộ phía nào của Mỹ đã được Henry Kissinger tổng kết khi vị chính khách Hoa Kỳ này lưu ý rằng "Đó là một điều đáng tiếc cả hai phía họ [Iran and Iraq] đều không thể thua trận."[40] Hơn 30 quốc gia cung cấp viện trợ cho Iraq, Iran, hay cả hai phía. Iraq, đặc biệt, có một mạng lưới thu hút viện trợ phức tạp và bí mật giúp họ có được những thiết bị tối quan trọng, mà, trong một số phi vụ chuyển giao, liên quan tới 6-10 quốc gia.
Quốc gia Chính sách đối ngoại Hỗ trợ Iraq Hỗ trợ Iran
Tất cả các quốc gia Trợ giúp quốc tế cho các chiến binh cuộc Chiến tranh Iran–Iraq

Cờ của Liên Xô Liên xô Liên xô và Chiến tranh Iran–Iraq Liên xô hỗ trợ Iraq trong Chiến tranh Iran–Iraq Liên xô hỗ trợ Iran trong Chiến tranh Iran–Iraq
Trung Quốc

Trung Quốc hỗ trợ Iran trong Chiến tranh Iran–Iraq
Cờ của Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Hoa Kỳ hỗ trợ Iraq trong Chiến tranh Iran–Iraq Hoa Kỳ hỗ trợ Iran trong Chiến tranh Iran–Iraq
Cờ của Singapore Singapore
Singapore hỗ trợ Iraq trong Chiến tranh Iran–Iraq
Cờ của Ý Italia
Italia hỗ trợ Iraq trong Chiến tranh Iran–Iraq
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Quốc
Anh Quốc hỗ trợ Iraq trong Chiến tranh Iran–Iraq
Cờ của Pháp Pháp
Pháp hỗ trợ Iraq trong Chiến tranh Iran–Iraq
Cờ của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Bắc Triều Tiên

Bắc Triều Tiên hỗ trợ Iran trong Chiến tranh Iran–Iraq

Iraq

Trong số các cường quốc lớn, chính sách của Hoa Kỳ là "nghiêng" về phía Iraq bằng cách tái lập các kênh ngoại giao, bãi bỏ các hạn chế xuất khẩu kỹ thuật lưỡng dụng, giám sát việc chuyển phương tiện chiến tranh từ bên thứ ba, và cung cấp thông tin tình báo chiến lược trên chiến trường.
Như thấy trong các trang phụ trong bài này về các quốc gia riêng biệt, Iraq sử dụng ở quy mô lớn các công ty vỏ bọc, những người trung gian, việc sở hữu bí mật toàn bộ hay một phần của các công ty trên khắp thế giới, chứng nhận bên sử dụng cuối cùng giả mạo và các biện pháp khác để che giấu những thứ họ đang mua. Ở thời điểm này, các trang phụ về các quốc gia liên quan nhấn mạnh trên những quốc gia nơi việc mua vũ khí bắt đầu, nhưng cũng thể hiện việc làm sao cơ cấu mua bán đó được thành lập ở nhiều quốc gia. Một số cuộc mua bán có thể có liên quan tới nhân lực, tàu vận chuyển và chế tạo ở tới 10 quốc gia.[41]
Trong phim tài liệu Saddam Hussein-The Trial You Will Never See, thực hiện cho khán giả châu Âu, Barry LandoMichel Despratx đã tiết lộ rằng Ngoại trưởng Hoa Kỳ Alexander Meigs Haig Jr. đã viết một bản ghi nhớ bí mật với Tổng thống Ronald Reagan, về việc Tổng thống tiền nhiệm Jimmy Carter đã bật đèn xanh cho Saddam Hussein tung ra một cuộc chiến chống lại Iran với Ả Rập Saudi là bên trung gian đại diện cho họ.[42][43] Hơn nữa, đã có thông báo rằng việc Hoa Kỳ hỗ trợ cho Saddam Hussein trong cuộc chiến của ông với Iran, là để giành quyền tiếp cận tới các giếng dầu trong vùng.[44] Anh Quốc hỗ trợ Iraq trong Chiến tranh Iran–Iraq là minh chứng rõ nhất về những cách thức theo đó Iraq có thể trốn tránh các kiểm soát xuất khẩu. Iraq đã mua ít nhất một công ty Anh có các hoạt động tại Anh Quốc và Hoa Kỳ.
Iraq có một mối quan hệ phức tạp với Pháp và Liên xô, các nước cung cấp vũ khí chính của họ, ở một số mức độ đã khiến hai nước này phải cạnh tranh với nhau trong việc bán vũ khí.
Singapore hỗ trợ Iraq trong Chiến tranh Iran–Iraq là về các loại mìn trên bộ được lắp ráp tại đó, cũng như các loại tiền chất vũ khí hoá học được chuyên chở từ Singapore, có thể bởi một công ty vỏ bọc của Iraq.
Một quốc gia khác có vai trò quan trọng trong việc trang bị vũ khí cho Iraq là Italia, dấu ấn lớn nhất của họ là tài chính, thông qua chi nhánh Hoa Kỳ của ngân hàng thuộc sở hữu quốc gia lớn nhất Italia. Bài viết về Italia là một ví dụ về cách Iraq tránh khỏi một lệnh cấm vận quốc gia, bằng cách chuyển việc chế tạo mìn và thuỷ lôi sang Singapore.
Các chi tiết khác về các quốc gia ủng hộ có trong các bài viết riêng biệt, trong một số trường hợp chỉ mới là bài sơ khai về cá nhân nhưng có vai trò quan trọng, như cung cấp khối lượng tiền chất hoá chất lớn nhất để sản xuất các loại vũ khí hoá học.
Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã kêu gọi một sự ngừng bắn sau một tuần giao tranh và tái kêu gọi trong nhiều lần sau đó, lời kêu gọi đầu tiên được đưa ra khi Iraq chiếm đóng lãnh thổ Iran. Hơn nữa, Liên hiệp quốc từ chối giúp đỡ Iran đẩy lui cuộc xâm lược của Iraq. Vì thế Iran coi Liên hiệp quốc là tổ chức ủng hộ Iraq.

Iran

Trung Quốc đã bán rất nhiều các loại vũ khí sản xuất trong nướccho Iran trong cuộc chiến tranh, Trung Quốc là một nhà cung cấp vũ khí lớn cho Iran.
Tuy Hoa Kỳ trực tiếp chiến đấu vớ i Iran, viện dẫn quyền tự do hàng hải như một lý lẽ gây chiến, như một phần của một chiến dịch phức tạp và có phần bất hợp pháp (xem Vụ việc Iran-Contra), họ cũng cung cấp vũ khí một cách gián tiếp cho Iran.
Bắc Triều Tiên là một nhà cung cấp vũ khí chính cho Iran[cần dẫn nguồn]. Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cung cấp cả vũ khí sản xuất trong nước và các loại vũ khí của Khối Đông Âu mà các cường quốc lớn muốn khước từ[cần dẫn nguồn].

Cả hai nước

Bên cạnh Hoa Kỳ và Liên xô, Nam Tư cũng bán vũ khí cho cả hai nước trong suốt cuộc xung đột. Tương tự Bồ Đào Nha giúp cả hai phía; cũng không hiếm lần các tàu mang cờ Iran và Iraq bỏ neo cạnh nhau tại thị trấn cảng Sines. [cần dẫn nguồn]
Từ năm 1980 tới năm 1987 Tây Ban Nha đã bán €458 triệu vũ khí cho Iran và €172 triệu vũ khí cho Iraq. Tây Ban Nha đã bán cho Iraq các xe 4x4, trực thăng BO-105, thuốc nổ và đạn dược. Một cuộc nghiên cứu đã cho thấy một đầu đạn hoá học không nổ tại của Iraq tại Iran được sản xuất tại Tây Ban Nha.[45]

Hỗ trợ tài chính

Các nhà hỗ trợ tài chính lớn cho Iraq là các quốc gia giàu dầu mỏ ở Vịnh Péc xích, đáng chú ý nhất là Ả Rập Saudi ($30.9 tỷ), Kuwait ($8.2 tỷ) và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất ($8 tỷ).[46]
Vụ scandal Iraqgate cho thấy một chi nhánh tại Atlanta của ngân hàng lớn nhất Italia, Banca Nazionale del Lavoro, một phần dựa vào các khoản cho vay được đảm bảo của Hoa Kỳ, cung cấp $5 tỷ cho Iraq từ năm 1985 tới năm 1989. Tháng 8 năm 1989, khi các nhân viên FBI lục soát chi nhánh Atlanta của BNL, giám đốc chi nhánh, Christopher Drogoul, bị kết tội thực hiện các khoản cho vay bất hợp pháp, không được phép và bí mật cho Iraq - một số trong số đó, theo bản cáo trạng của ông, đã được sử dụng để mua vũ khí và công nghệ vũ khí.
Tờ New York Times, Los Angeles Times, và Ted Koppel của ABC, đã đưa tin về vụ Iraq, và cuộc điều tra của Quốc hội Mỹ.[47] Vụ scandal đã được tường thuật trong cuốn sách của Alan Friedman The Spider's Web: The Secret History of How the White House Illegally Armed Iraq.[cần giải thích]
Bắt đầu từ tháng 9 năm 1989, tờ Financial Times đã phơi bày những cáo giác đầu tiên rằng BNL, dựa trên những khoản vay được chính phủ Mỹ bảo lãnh, đã cung cấp tài chính cho các chương trình vũ khí hoá học và hạt nhân của Iraq. Trong hai năm rưỡi sau, tờ Financial Times cung cấp bản thông báo báo chí liên tục duy nhất (hơn 300 bài viết) về chủ đề này. Trong số các công ty chuyển công nghệ quân sự cho Iraq dưới sự giám sát của chính phủ Mỹ, theo Financial Times, có Hewlett-Packard, Tektronix, và Matrix Churchill, qua chi nhánh tại Ohio của nó.[cần giải thích]
Tổng cộng, Iraq nhận được $35 tỷ các khoản vay từ phương Tây và từ $30 tới $40 tỷ từ các quốc gia Vùng Vịnh trong thập niên 1980.[48]

Sử dụng vũ khí hoá học

Các loại vũ khí hoá học do Saddam Hussein sử dụng đã giết hại và làm bị thương nhiều người Iran và người Kurd
Với hơn 100.000 nạn nhân Iran của các loại vũ khí hoá học của Iraq trong tám năm chiến tranh, Iran là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của "vũ khí huỷ diệt hàng loạt".[49]
Theo Tổ chức Cựu chiến binh Iran, ước tính chính thức không bao gồm dân thường bị nhiễm độc tại các thị trấn biên giới hay các con cái hoặc họ hàng của các cựu chiến binh, nhiều người trong số họ đã mắc phải các chứng bệnh về máu, phổi và da. Theo một bài viết năm 2002 trên tờ Star-Ledger:
"Khí độc thần kinh đã giết hại lập tức khoảng 20.000 binh sĩ Iran, theo các báo cáo chính thức. Trong số 90.000 người sống sót, khoảng 5,000 người cần được điều trị y tế thường xuyên và khoảng 1,000 người vẫn đang ở trong bệnh viện với các chứng bệnh kinh niên và nghiêm trọng."[50]
Iraq cũng đã sử dụng vũ khí hoá học tấn công các thường dân Iran, giết hại nhiều người tại các làng mạc và bệnh viện. Nhiều thường dân bị bỏng nặng hay gặp phải các vấn đề sức khoẻ và vẫn đang bị ảnh hưởng bởi chúng.[49] Hơn nữa, 308 tên lửa Iraq đã được phóng vào các khu dân cư bên trong các thành phố Iran từ năm 1980 tới năm 1988 gây ra 12.931 thương vong.[cần dẫn nguồn]
Ngày 21 tháng 3 năm 1986, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã ra một tuyên bố nói rằng "các thành viên đặc biệt lo ngại về quyết định thống nhất của các chuyên gia rằng nhiều lần các loại vũ khí hoá học đã được các lực lượng của Iraq sử dụng chống lại binh lính Iran và các thành viên của Hội đồng mạnh mẽ lên án việc tiếp tục sử dụng vũ khí hoá học này, là sự vi phạm rõ ràng vào Hiệp ước Geneva năm 1925 về cấm sử dụng vũ khí hoá học trong chiến tranh." Hoa Kỳ là thành viên duy nhất bỏ phiếu phản đối việc ra bản thông cáo này.[51]
Theo thiếu tá về hưu Walter Lang, sĩ quan tình báo cao cấp của Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ thời điểm đó, "việc sử dụng khí độc trên chiến trường của người Iraq không phải là một vấn đề quan tâm chiến lược" với Reagan và các trợ lý của ông, bởi họ "kiên quyết muốn được đảm bảo rằng Iraq sẽ không thua cuộc." Ông tuyên bố rằng Cơ quan Tình báo Quốc phòng "sẽ không bao giờ chấp nhận việc sử dụng các loại vũ khí hoá học chống lại dân thường, nhưng việc sử dụng nó để chống lại các mục tiêu quân sự được xem là không thể tránh khỏi trong cuộc đấu tranh để sinh tồn của Iraq",[52] Chính quyền Reagan không ngừng giúp đỡ Iraq sau khi nhận được các báo cáo về việc sử dụng khí độc với thường dân người Kurd.[53][54] Đây là một sự oán hận lớn tại Iran [cần dẫn nguồn] bởi cộng đồng quốc tế đã giúp Iraq phát triển kho vũ khí hoá học và các lực lượng vũ trang của họ, và thế giới đã không làm gì để trừng phạt chế độ đảng Ba'ath của Saddam vì đã sử dụng vũ khí hoá học chống lại Iran trong suốt cuộc chiến - đặc biệt bởi Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây khác nhanh chóng cảm thấy phải phản đối cuộc xâm lược của Iraq vào Kuwait và cuối cùng tiến hành xâm lược chính Iraq để lật đổ Saddam Hussein.
Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ cũng buộc tội Iran sử dụng vũ khí hoá học.[cần dẫn nguồn] Tuy nhiên, những cáo buộc này đã bị tranh cãi. Joost Hiltermann, nhà nghiên cứu chính của Human Rights Watch giai đoạn 1992–1994, đã kết luận trong một cuộc nghiên cứu kéo dài hai năm, gồm cả một cuộc điều tra hiện trường tại Iraq, có thu thập các tài liệu của chính phủ Iraq trong quá trình đó. Theo Hiltermann, các tài liệu trong Chiến tranh Iran–Iraq phản ánh một số cáo buộc về việc Iran sử dụng vũ khí hoá học, nhưng chúng "không có cơ sở bởi thiếu một minh chứng rõ ràng về thời gian và địa điểm, và không thể cung cấp bất kỳ một loại bằng chứng nào".[55]
Trong một cuốn sách xuất bản của Gary Sick và Laurence Potter, Hiltermann gọi những cáo buộc rằng cả Iran, chứ không phải chỉ riêng Iraq, sử dụng vũ khí hoá học là "những cáo buộc mơ hồ" và nói rằng: "không có bằng chứng thuyết phục về tuyên bố rằng Iran là thủ phạm chính [của việc sử dụng vũ khí hoá học] từng được đưa ra".[56] Cố vấn chính sách và tác gia Joseph Tragert cũng nói rằng: "Iran đã không trả đũa bằng các loại vũ khí hoá học, có lẽ bởi họ không sở hữu chúng ở thời điểm đó".[57]
Trong phiên toà tháng 12 năm 2006, Saddam Hussein nói ông chịu trách nhiệm "với danh dự" cho bất kỳ vụ tấn công nào vào Iran bằng vũ khí quy ước hay vũ khí hoá học trong cuộc chiến năm 1980–1988 nhưng không đồng ý với những cáo buộc ông đã ra lệnh các vụ tấn công vào người Iraq.[58] Một cuộc phân tích y tế về những hiệu ứng của mustard gas của Iraq đã được miêu tả trong một cuốn sách của quân đội Mỹ, và trái ngược, có những hiệu ứng hơi khác biệt trong Thế chiến I.[59]

Những sự khác biệt

Iran đã tấn công và làm thiệt hại một phần lò phản ứng hạt nhân Osirak ngày 30 tháng 9 năm 1980 bằng hai chiếc F-4 Phantoms, chỉ một thời gian ngắn sau khi chiến tranh bùng phát. Đây là vụ tấn công đầu tiên vào một lò phản ứng hạt nhân và là vụ tấn công thứ ba vào một cơ sở hạt nhân trong lịch sử thế giới. Đây cũng là ví dụ đầu tiên về một vụ tấn công ra đòn trước vào một lò phản ứng hạt nhân để chặn trước sự phát triển của một vũ khí hạt nhân, dù họ không đạt được mục tiêu bởi Pháp đã sửa chữa lại nó sau cuộc tấn công của Iran. Phải thêm một cuộc tấn công ngăn chặn trước nữa của Không quân Israel mới phá huỷ được lò phản ứng này, vụ việc khiến một kỹ sư Pháp thiệt mạng và buộc nước Pháp phải rút khỏi Osirak. Việc giải nhiệm cho Osirak đã được chỉ ra như một nguyên nhân dẫn tới sự chậm trễ trong việc cố gắng sở hữu vũ khí hạt nhân của Iran, mà Saddam đã thông báo ý định phát triển như một câu trả lời cho cuộc cách mạng Iran.[60][61][62][63][64][64][65][66]
Cuộc chiến tranh Iran-Iraq cũng là cuộc xung đột đầu tiên và duy nhất trong lịch sử chiến tranh theo đó cả hai bên đều sử dụng các tên lửa đạn đạo để tấn công lẫn nhau.[61]
Cuộc chiến này cũng ghi nhận những trận đánh không đối không được ghi nhận duy nhất giữa các máy bay trong lịch sử chiến tranh với những chiếc Mi-25 của Iraq chống lại chiếc AH-1 SuperCobra của Iran trong nhiều dịp. Ví dụ đầu tiên về những trận đánh "hỗn loạn" của các máy bay đó diễn ra vào ngày khởi động cuộc chiến (22 tháng 9 năm 1980), hai chiếc SuperCobras của Iran đã tấn công hai chiếc Mi-25 và tấn công chúng bằng các tên lửa chống tăng điều khiển bằng dây TOW. Một chiếc Mi-25 rơi lập tức, chiếc kia bị hư hại nặng nề và đâm xuống đất trước khi về tới căn cứ. Người Iran tiếp tục giành một chiến thắng nữa ngày 24 tháng 4 năm 1981, phá huỷ hai chiếc Mi-25 mà không có thiệt hại gì. Theo một số tài liệu đã được giải mật, các phi công Iran đã đạt tỷ lệ tiêu diệt 10:1 trước các phi công trực thăng Iraq trong những trận đánh đó và thậm chí giao chiến với cả những máy bay cánh cứng của Iraq.[67][68]

Hậu quả

Một thánh đường bị hư hại tại Khoramshahr
Nghĩa trang liệt sĩ Iran tại Yazd
Cuộc chiến tranh Iran–Iraq gây tổn thất cực lớn về người và vật chất, một trong những cuộc chiến đẫm máu nhất kể từ Thế chiến II. Cả hai nước đều bị cuộc chiến tranh tàn phá. Iran ước tính chịu 1 triệu thương vong, chết hay bị thương, và người dân Iran tiếp tục bị ảnh hưởng hay thiệt mạng bởi những hậu quả của các loại vũ khí hoá học do Iraq sử dụng. Thương vong của Iraq ước tính trong khoảng 250.000-500.000 người chết hay bị thương. Hàng nghìn dân thường ở cả hai phía chết sau những vụ tấn công không quân hay tên lửa.[36]
Thiệt hại tài chính cũng rất to lớn. ở thời điểm đó vượt quá US$600 tỷ cho mỗi nước (tổng cộng US$1.2 nghỉn tỷ). Nhưng ngay sau chiến tranh mọi người phát hiện ra rằng chi phí kinh tế cho cuộc chiến là sâu sắc và kéo dài hơn những ước tính ngay sau cuộc chiến. Phát triển kinh tế đình trệ và xuất khẩu dầu mỏ tàn lụi. Những tai hoạ kinh tế đó ở mức độ nghiêm trọng hơn với Iraq vì họ phải gánh chịu những khoản vay to lớn cho chiến tranh so với một khoản nợ nhỏ phía Iran, bởi người Iran sử dụng các chiến thuật biển máu nhưng ít tốt kém về kinh tế trong cuộc chiến, đổi mạng sống của binh lính cho việc thiếu hụt tài chính trong việc phòng vệ. Điều này khiến Saddam vẫn ở thế đối đầu với Iran, trong một tình huống vô cùng khó khăn với các đồng minh của ông trong cuộc chiến, bởi khi đó, Iraq đang gánh món nợ quốc tế lên tới $130 tỷ, gây khó khăn cho sự quan tâm tới một nền kinh tế sau chiến tranh với tăng trưởng GDP chậm chạp. Một tỷ lệ lớn khoản vay này thuộc Câu lạc bộ Paris chiếm tới $21 tỷ, 85% trong số đó xuất phát từ bảy quốc gia Nhật Bản, Nga, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, ItaliaAnh Quốc. Nhưng tỷ lệ lớn nhất trong khoản nợ $130 tỷ thuộc các nước Ả Rập hỗ trợ cho Iraq trong cuộc chiến gồm US$67 tỷ của Kuwait, Ả Rập Saudi, Qatar, UAEJordan, một quyết định góp phần vào quyết định xâm lược Kuwait của Saddam và đe doạ Ả Rập Saudi năm 1990.[69][70][71][72][73][74] Nhưng cuộc xâm lược Kuwait không giúp được tình hình tài chính của Iraq mà còn làm nó tồi tệ thêm khi Uỷ ban Bồi thường Liên hiệp quốc công bố khoản bồi thường hơn $200 tỷ dollar cho các nạn nhân của cuộc xâm lược gồm Kuwait, Hoa Kỳ, các cá nhân và các công ty cùng nhiều bên khác, buộc Iraq chi trả bằng sản phẩm dầu mỏ cũng như áp đặt một lệnh cấm vận hoàn toàn với Iraq. Việc này càng khiến nền kinh tế Iraq kiệt quệ đẩy các khoản nợ nước ngoài và liên quan quốc tế lên các khu vực tư nhân và công cộng gồm cả những lợi ích của họ nhờ sự chấm dứt quyền cai trị của Saddam, lên tới hơn $500 tỷ công với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế âm của Iraq sau những lệnh trừng phạt quốc tế kéo dài tạo ra một tỷ lệ nợ trên GDP hơn 1,000% (10 Năm), khiến Iraq trở thành nước nợ nần nhiều nhất thế giới. Tình hình kinh tế bất ổn này khiến chính phủ mới ở Iraq được thành lập sau khi Saddam bị lật đổ yêu cầu các bên miễn một tỷ lệ lớn các khoản nợ phát sinh trong thời kỳ chiến tranh Iran Iraq.[69][72][74][75][76][77][78][79][80][81][82]
Đa phần ngành công nghiệp dầu mỏ của cả hai nước đã bị phá huỷ trong các cuộc không kích. Năng lực sản xuất của Iran hầu như đã hồi phục hoàn toàn sau những hư hại từ cuộc chiến. 10 triệu quả đạn đã rơi xuống các giếng dầu của Iraq tại Basra, gây thiệt hại nghiêm trọng tới sản lượng dầu mỏ của Iraq. Những tù binh chiến tranh bị cả hai bên bắt giữ mãi 10 năm sau cuộc chiến mới được thả. Các thành phố ở cả hai phía cũng bị phá huỷ nặng nề. Tuy nhiên không phải tất cả mọi người đều nhìn cuộc chiến theo cách bi quan. Cuộc Cách mạng Hồi giáo ở Iran đã được tăng cường sức mạnh và trở nên cực đoan hơn.[83] The Iranian government-owned Etelaat newspaper wrote:
"Không có một trường học hay thị trấn duy nhất nằm ngoài sự hạnh phúc của cuộc "thánh chiến" của quốc gia, từ việc uống thuốc tiên của kẻ tử vì đạo, hay từ cái chết ngọt ngào của người liệt sĩ, những người chết để sống mãi trên thiên đàng."[84]
Chính phủ Iraq đã kỷ niệm cuộc chiến bằng nhiều tượng đài, gồm cả Những bàn tay chiến thắngĐài kỷ niệm Al-Shaheed, cả hai đều nằm tại Baghdad.
Cuộc chiến không làm thay đổi các biên giới. Hai năm sau đó, khi cuộc chiến với các cường quốc phương Tây hiện ra, Saddam đã công nhận các quyền của Iran với nửa phía đông của Shatt al-Arab, một sự trở lại với status quo ante bellum mà ông đã bác bỏ một thập kỷ trước đó.
Những tài liệu được giải mật của tình báo Hoa Kỳ đã cho thấy cả những hàm ý trong nước và nước ngoài về thắng lợi rõ ràng của Iran (năm 1982) trước Iraq trong cuộc chiến mới kéo dài hai năm ở thời điểm đó.[85]
Ngày 9 tháng 12 năm 1991, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông báo như sau tới Hội đồng Bảo an:
"Rằng những lời giải thích của Iraq không có vẻ đầy đủ hay chấp nhận được với cộng đồng quốc tế là một thực tế. Theo đó, sự kiện nổi bật là những sự vi phạm được đề cập là vụ tấn công ngày 22 tháng 9 năm 1980, chống lại Iran, không thể được giải thích theo hiến chương Liên hiệp quốc, bất kỳ một quy định nào được công nhận và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế hay bất kỳ một nguyên tắc đạo được quốc tế nào và dẫn tới trách nhiệm cho cuộc xung đột."
"Thậm chí trước khi cuộc xung đột bùng phát đã có một số sự sâm phạm của Iran vào lãnh thổ Iraq, sự xâm phạm đó không giải thích được cho thái độ gây hấn của Iraq với Iran - tiếp đó là việc Iraq chiếm đóng liên tục lãnh thổ Iran trong cuộc xung đột - vi phạm vào việc ngăn cấm sử dụng vũ lực, vốn bị coi là một trong những quy tắc jus cogens."
"Trong một cơ hội Tôi đã lưu ý với sự hối tiếc sâu sắc kết luận của các chuyên gia rằng "các vũ khí hoá học đã được sử dụng chống lại thường dân Iran trong một khu vực lân cận với trung tâm đô thị mà không có bất kỳ sự bảo vệ nào chống lại kiểu tấn công đó" (s/20134, phụ lục). Hội đồng bày bỏ sự bất bình về vấn đề và sự lên án của họ trong nghị quyết 620 (1988), được thông qua ngày 26 tháng 8 năm 1988."[86]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ http://lcweb2.loc.gov/frd/cs/cshome.html
  2. ^ http://www.globalsecurity.org/military/world/war/iran-iraq.htm
  3. ^ The Great War for Civilisation by Robert Fisk, ISBN 1-84115-007-X pages 219
  4. ^ a ă â b Karsh, Efraim The Iran-Iraq War 1980-1988, London: Osprey, 2002 page 7
  5. ^ a ă â b c d đ e ê Karsh, Efraim The Iran-Iraq War 1980-1988, London: Osprey, 2002 page 8
  6. ^ Karsh, Efraim The Iran-Iraq War 1980-1988, London: Osprey, 2002 pages 7-8
  7. ^ Fendereski, Guive (2005). “2005: Tonb (Greater and Lesser)”. www.iranica.com Eisenbrauns Inc.
  8. ^ Westcott, Kathryn (27 tháng 2 năm 2003). “Iraq's rich mosaic of people”. BBC News.
  9. ^ Speech made by Saddam Hussein. Baghdad, Voice of the Masses in Arabic, 1200 GMT 2 tháng 4 năm 1980. FBIS-MEA-80-066. 3 tháng 4 năm 1980, E2-3. E3
  10. ^ Khomeini,Ruhollah and Algar, Hamid (translator) (1981). Islam and Revolution: Writing and Declarations of Imam Khomeini. Mizan Press. tr. 122.
  11. ^ Mackey, Sandra (1996). The Iranians: Persia, Islam and the Soul of a Nation. Dutton. tr. 317.
  12. ^ BBC News Online: Iranian Embassy Siege
  13. ^ “Who started the Iran–Iraq War?”, Virginia Journal of International Law 33, Fall 1992: 69–89
  14. ^ a ă Cruze, Gregory S. (Spring 1988), Iran and Iraq: Perspectives in Conflict, research report, U.S. Marine Corps Command and Staff College
  15. ^ Karsh, Efraim (2002). The Iran–Iraq War, 1980–1988. Osprey Publishing. tr. 22.
  16. ^ a ă â b c The Iran–Iraq War: 1980–1988. tr. 22.
  17. ^ a ă â b c d đ e ê g The Iran–Iraq War: 1980–1988. tr. 23.
  18. ^ a ă â b c d The Iran–Iraq War: 1980–1988. tr. 29.
  19. ^ a ă The Iran–Iraq War: 1980–1988. tr. 27.
  20. ^ The Iran–Iraq War: 1980–1988. tr. 25.
  21. ^ a ă â “Iran–Iraq War (1980–1988)”. Globalsecurity.org (John Pike).
  22. ^ Molavi, Afsin (2005). The Soul of Iran. Norton. tr. 270.
  23. ^ Wright, Robin (1989). In the Name of God: The Khomeini Decade. Simon and Schuster. tr. 126.
  24. ^ Abrahamian, History of Modern Iran, (2008) pages 171, 175
  25. ^ Majd, Hooman, The Ayatollah Begs to Differ: The Paradox of Modern Iran, by Hooman Majd, Doubleday, 2008, pages 146
  26. ^ The Iran–Iraq War: 1980–1988. tr. 41.
  27. ^ `Further on Khomenyni 4 April Speech on War,` broadcast 4 tháng 4 năm 1985, quoted in Reinventing Khomeini: The Struggle for Reform in Iran by Daniel Brumberg University of Chicago Press, 2001, pages 132-34
  28. ^ Dugdale-Pointon, TDP (27 tháng 10 năm 2002), Tanker War 1984–1988,
  29. ^ King, John (tháng 3 năm 2003), Arming Iraq: A Chronology of U.S. Involvement, Iran Chamber Society
  30. ^ Statement by former NSC official Howard Teicher to the U.S. District Court, Southern District of Florida. Plain text version
  31. ^ a ă â Kelley, Stephen Andrew (tháng 6 năm 2007), Better Lucky than Good: Operation Earnest Will as Gunboat Diplomacy, Master's Thesis, U.S. Naval Postgraduate School
  32. ^ a ă â Martins, Mark S. (Winter 1994), “Rules of Engagement for Land Forces: A Matter of Training, Not Lawyering” (PDF), Military Law Review 143: 43–46
  33. ^ Peniston, Bradley (2006), No higher honor: saving the USS Samuel B. Roberts in the Persian Gulf, Naval Institute Press, tr. 61–63, ISBN 1591146615. Đã bỏ qua văn bản “Persian Gulf ” (trợ giúp)
  34. ^ Fisk, Robert (2007). The Great War for Civilization - The Conquest of the Middle East. Vintage. ISBN 1400075173.
  35. ^ S. M. Gieling, Iran-Iraq War, in Encyclopaedia Iranica, 2006.
  36. ^ a ă â Rajaee, Farhang. The Iran–Iraq War: The Politics of Aggression. University Press of Florida.
  37. ^ "The 1980–1988 Iran–Iraq War: A CWIHP Critical Oral History Conference", Woodrow Wilson International Center for Scholars, 11 tháng 8 năm 2004
  38. ^ MSN Encarta Encyclopedia, Iran–Iraq War: Diplomacy and International Involvement, Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2009
  39. ^ "The Arming, and Disarming, of Iran's Revolution," The Economist, International Edition, 19 tháng 9 năm 1987, 56-57.
  40. ^ “Like the Iran-Iraq war. | Goliath Business News”. Goliath.ecnext.com. 30 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2009.
  41. ^ United Nations Special Commission, “Annex D: Actions by Iraq to Obstruct Disarmament”, UNSCOM's Comprehensive Review, James Martin Center for Nonproliferation Studies
  42. ^ http://www.informationclearinghouse.info/article17053.htm
  43. ^ http://www.youtube.com/watch?v=UeY05iS5iv0&feature=related
  44. ^ http://74.125.95.132/search?q=cache:R0fbbqLrGmcJ:thankaboutit.org/downloads/Part_2_The_War_On_Terrorism.doc+Alexander+Meigs+Haig+iran+iraq+war&cd=8&hl=en&ct=clnk&gl=ca&client=firefox-a
  45. ^ El Mundo (Tây Ban Nha) book. El Camino de la Libertad. La democracia año a año. 1986 ISBN 978-84-92540-09-9. Page 27-32.
  46. ^ Iraq debt: non-Paris Club creditors
  47. ^ Lantos, Tom (19 tháng 5 năm 1992), The Administration's Iraq Gate Scandal, by William Safire, Congressional Record
  48. ^ “Annex D, Iraq Economic Data (1989–2003)”, Comprehensive Report of the Special Advisor to the DCI [Director of Central Intelligence] on Iraq's WMD, 1 of 3, 30 tháng 9 năm 2004
  49. ^ a ă Center for Documents of The Imposed War, Tehran. (مرکز مطالعات و تحقیقات جنگ)
  50. ^ Fassihi, Farnaz (27 tháng 10 năm 2002), “In Iran, grim reminders of Saddam's arsenal”, New Jersey Star-Ledger
  51. ^ [51] S/17911 and Add. 1, 21 tháng 3 năm 1986. Lưu ý rằng đây không phải là một "quyết định" chứ không phải là một nghị quyết.
  52. ^ OFFICERS SAY U.S. AIDED IRAQ IN WAR DESPITE USE OF GAS, New York Times, 18 tháng 8 năm 2002.
  53. ^ Galbraith, Peter W.; Van Hollen, Christopher Jr. (21 tháng 9 năm 1988), Chemical Weapons Use in Kurdistan: Iraq's Final Offensive, staff report to the U.S. Senate Committee on Foreign Relations, tr. 30
  54. ^ Pear, Robert (15 tháng 9 năm 1988), “U.S. Says It Monitored Iraqi Messages on Gas”, New York Times
  55. ^ Potter, Gary; Sick (2004), Iran, Iraq, and the legacies of war, MacMillan, tr. 153, ISBN 1-4039-6450-5 Đã định rõ hơn một tham số trong |first1=|first= (trợ giúp)
  56. ^ Potter, Gary; Sick (2004), Iran, Iraq, and the legacies of war, MacMillan, tr. 156, ISBN 1-4039-6450-5 Đã định rõ hơn một tham số trong |first1=|first= (trợ giúp)
  57. ^ Tragert, Joseph (2003). Understanding Iran. Indianapolis., Indiana: Alpha. tr. 190. ISBN 1-59257-141-7.
  58. ^ Rasheed, Ahmed (19 tháng 12 năm 2006), “Saddam admits Iran gas attacks]”, The Australian
  59. ^ Sidell, Frederick R.; Urbanetti, John S.; Smith, William J.; Hurst, Charles G., “Chapter 7: Vesicants”, Medical Aspects of Chemical and Biological Warfare, Office of The Surgeon General, Department of the Army, United States of America
  60. ^ http://www.au.af.mil/au/awc/awcgate/mcnair41/41irq.htm
  61. ^ a ă http://www.au.af.mil/au/awc/awcgate/mcnair41/41not.htm#39
  62. ^ McNair Paper 41, Radical Responses to Radical Regimes: Evaluating Preemptive Counter-Proliferation, tháng 5 năm 1995
  63. ^ http://www.fas.org/nuke/guide/iraq/facility/osiraq.htm
  64. ^ a ă http://google.com/search?q=cache:ZlBdwCEy9yAJ:www.diplomatie.gouv.fr/fr/IMG/pdf/Osirak.pdf+osirak+repair+after+iranian+attack&cd=3&hl=en&ct=clnk&gl=ca&client=firefox-a
  65. ^ http://docs.google.com/gview?a=v&q=cache%3AOYG-qrRsMxkJ%3Abelfercenter.ksg.harvard.edu%2Ffiles%2Fis3104_pp007-033_raas_long.pdf+osirak+iran&hl=en&gl=ca
  66. ^ http://airtoair.blogfa.com/post-18.aspx
  67. ^ http://www.acig.org/artman/publish/article_214.shtml
  68. ^ http://www.vectorsite.net/avhind_2.html
  69. ^ a ă http://docs.google.com/gview?a=v&q=cache:5u7kx8xIbOQJ:fas.org/sgp/crs/mideast/RL33376.pdf+iraq+debt+including+interest&hl=en&gl=ca
  70. ^ http://www.guardian.co.uk/world/2004/oct/16/iraq.comment
  71. ^ http://www.odiousdebts.org/odiousdebts/index.cfm?DSP=content&ContentID=9243
  72. ^ a ă http://www.iie.com/publications/opeds/oped.cfm?ResearchID=249
  73. ^ http://www.acig.org/artman/publish/article_213.shtml
  74. ^ a ă http://www.mees.com/postedarticles/finance/iraq/a46n10b01.htm
  75. ^ Insert footnote text here
  76. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/middle_east/7492115.stm
  77. ^ http://www.reuters.com/article/worldNews/idUSTRE5736M320090804?pageNumber=1&virtualBrandChannel=0
  78. ^ http://www.jubileeiraq.org/reperations.htm
  79. ^ http://www.probeinternational.org/odious-debts/western-countries-cancel-iraqi-debt-gulf-countries-dont
  80. ^ http://www.memri.org/bin/articles.cgi?Area=ia&ID=IA43808&Page=archives
  81. ^ http://www.investorsiraq.com/showthread.php?p=679658
  82. ^ http://www.jubileeiraq.org/translations/farsi.htm
  83. ^ Nasr, Vali, The Shia Revival, Norton, (2006), pages 140
  84. ^ Column in Etelaat, 4 tháng 4 năm 1983, quoted in Molavi, Afshin, The Soul of Iran (Norton), (2006)
  85. ^ SNIE 34/36.2-82 link: Intelligence Reports on Saddam Hussein's Reign
  86. ^ Xem các khoản 6, 7, và 8 của báo cáo của Đại hội đồng Liên hiệp quốc với Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ngày 9 tháng 12 năm 1991:[1]

Liên kết ngoài

Photo Galleries

Bản mẫu:Chủ đề Iraq



Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính
 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con