Monday, June 9, 2014

Chào ngày mới 7 tháng 6

Louis XIV by Juste d'Egmont.jpg
CNM365 Chào ngày mới 7 tháng 6 Wikipedia Ngày này năm xưa Ngày Quốc kỳ tại Peru, ngày Nhà báo tại Argentina. Năm 1654Louis XIV (hình) cử hành nghi lễ đăng quang quốc vương của Pháp.Năm 1942Chiến tranh thế giới thứ hai: Hải quân Hoa Kỳ đánh bại cuộc tấn công của Hải quân Đế quốc Nhật Bản tại đảo san hô MidwayNăm 1981 – Không quân Israel phá hủy Lò phản ứng hạt nhân Osiraq của Iraq trong Chiến dịch OperaNăm 2006 – Thủ lĩnh của Al-Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqawi bị giết chết khi Không lực Hoa Kỳ đánh bom một cứ điểm gần Baqubah

Louis XIV của Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Louis XIV
Vua của Pháp và Navarre (chi tiết...)
Louis XIV of France.jpg
Louis XIV, họa phẩm của Hyacinthe Rigaud năm 1701
Tại vị 14 tháng 5 năm 1643 – 1 tháng 9 năm 1715
Đăng quang 7 tháng 6 năm 1654
Tiền nhiệm Louis XIII của Pháp Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Louis XV của Pháp Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Phối ngẫu Maria Theresa của Tây Ban Nha
Françoise d'Aubigné, Nữ hầu tước Maintenon
Hậu duệ
Tên đầy đủ Louis-Dieudonné de France
Thân phụ Louis XIII của Pháp Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Anne của Áo
Sinh 5 tháng 9, 1638
Saint-Germain-en-Laye, Pháp
Mất 1 tháng 9, 1715 (76 tuổi)
Versailles, Pháp
An táng Nhà thờ Saint-Denis, Saint-Denis, Pháp
Chữ ký của Louis XIV
Louis XIV (tiếng Pháp: Louis-Dieudonné; 16381715) là vua của Pháp và của Navarre. Louis XIV cũng được biết như Louis Đại đế (Louis le Grand hay Le Grand Monarque). Ông được xem là một trong những nhà chinh phạt lớn trong lịch sử.[1] Triều đại của ông kéo dài 72 năm, dài nhất trong lịch sử nước Pháp. Ông sinh năm 1638 và lên ngôi khi được 4 tuổi. Lúc ấy, mẹ ông, Anne của Áo làm phụ chính. Khi lên 9, sau những cuộc nổi loạn, ông được dẫn đi ẩn náu khỏi kinh đô Paris. Ông cảm thấy bị sỉ nhục và nhất quyết muốn tự chủ, không để ai chi phối như Hồng y Richelieu đã chi phối cha ông và Hồng y Mazarin đã chi phối mẹ ông. Cũng từ đây trở về sau, ông có ác cảm với kinh đô Paris và không bao giờ muốn trở lại thành phố này.
Louis XIV được biết như Vua Mặt Trời (Le Roi Soleil). Ông luôn là con người của dã ngoại[2]. Trong những năm đầu, ông cùng với quần thần di chuyển qua lại giữa những cung điện hoàng gia bên ngoài Paris. Năm 1666, ông chọn địa điểm của cung điện cho riêng ông, cách Paris 20 kílômét về hướng tây, rồi ra lệnh thi công. Ông huy động 36.000 công nhân, thêm 6.000 ngựa để chuyên chở vật liệu xây dựng. Thương vong của công nhân khá cao. Mỗi đêm, xe goòng đi nhặt xác chết do tai nạn nghề nghiệp. Hàng chục người chết mỗi tuần vì sốt rét. Năm 1682, Điện Versailles hoàn thành, trở thành một cung điện hoàng gia vĩ đại nhất thế giới. Điện Versailles không có thành lũy: vị vua đã xây hoàng cung trị vì không được che chắn, giữa đồng trống, để chứng tỏ một đấng quân vương đủ quyền lực không cần đến hào và tường thành để bảo vệ.
Versailles trở nên biểu tượng của vị thế giàu có và quyền lực của đế chế hùng mạnh nhất châu Âu. Trên toàn lục địa, những quân vương khác – kể cả người đang có chiến tranh với Pháp – thể hiện tình thân hữu, lòng ganh tỵ và thách đố họ bằng cách xây cung điện theo mẫu Versailles. Mỗi quân vương đều muốn xây một Versailles cho riêng mình. Ngay cả những đại lộ dài và hoành tráng ở thủ đô Washington, D.C. của Mỹ, được quy hoạch 100 năm sau, cũng do một kiến trúc sư người Pháp thiết kế tổng thể theo mẫu Versailles.
Quân đội Pháp bao gồm 15 vạn binh sĩ vào thời bình và 40 vạn quân tinh nhuệ trong thời chiến. Bản thân vua Louis XIV không có kinh nghiệm chiến trường, nhưng ông là nhà chiến lược và quản lý quân sự tài ba. Kiêm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Chiến tranh, nhà vua bàn luận về vĩ mô chiến lược với các tướng lĩnh dày dạn trận mạc của ông, rồi chỉ đạo các hoạt động cung ứng quân nhu, tuyển quân, huấn luyện, tình báo quân đội... Theo thời gian, uy tín của Louis XIV và của nước Pháp dâng cao mỗi năm. Quân đội Pháp trở nên đáng sợ nhất châu Âu. Turenne - vị thống soái được Hoàng đế Napoléon Bonaparte ngợi ca là "vị tướng Pháp vĩ đại nhất..." - đã phò tá dưới triều vua Louis XIV.[3] Vào năm 1672, nhà vua sai tướng Turenne mang quân đi đánh Hà Lan nhưng không thành, phải rút lui.[4] Vẻ lộng lẫy của cung điện Versailles dấy lên lòng ngưỡng mộ và ganh tỵ của thế giới. Tiếng Pháp trở nên ngôn ngữ phổ cập trong ngoại giao, xã hội và văn học. Dường như bất kỳ việc gì – mọi việc – đều khả thi, nếu dưới văn bản chỉ thị có mang chữ ký cao to, nguệch ngoạc "Louis".
Những năm cuối của triều đại Louis XIV xảy ra nhiều thảm họa. Trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, liên quân Anh - Áo - Phổ do Công tước thứ nhất của Marlborough, Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau và Vương công Eugène xứ Savoie chỉ huy đập tan tác Quân đội vua Louis XIV trong trận đánh lớn tại Blenheim (1704)[5] - một đòn đánh cực kỳ đau vào quân Pháp.[6] Sau chiến bại thê thảm tại Blenheim, Quân đội vua Louis XIV lại bị Quận công Marlborough đại phá trong trận đánh tại Ramilies (1706).[7] Cùng năm đó, liên quân Áo - Phổ của Vương công Leopold và Vương công Eugène đè bẹp trong trận đánh tại Turin.[8] Mãi đến năm 1712, Quân đội Pháp do Thống chế Claude-Louis-Hector de Villars thống lĩnh mới đánh tan tác liên quân Áo - Hà Lan của Eugène trong trận đánh nhỏ tại Denain.[9][10] Song, người con chính thức độc nhất, người kế vị ngai vàng của nhà vua, qua đời năm 1711. Con trai của ông, Quận công của Bourgogne, hiện thân cho niềm hy vọng của nước Pháp trong tương lai, qua đời năm 1711 vì bệnh sởi ở tuổi 30. Đứa con trai trưởng của Quận công, cháu nội của Louis XIV, cũng chết vì bệnh sởi ít ngày sau.
Chỉ còn có một đứa trẻ thuộc dòng dõi kế vị ngai vàng trực tiếp, mới lên 2, là cháu kêu Louis XIV bằng ông cố. Đứa trẻ này cũng mắc bệnh sởi, nhưng thoát chết nhờ người bảo mẫu nhốt kín cậu bé và không cho phép các bác sĩ sờ đến cậu với hai bàn tay mang những bọc mọng nước. Cậu hoàng con này được sống sót để trị vì nước Pháp trong 59 năm dưới tên Louis XV. Trên giường bệnh, Louis XIV triệu đứa chắt lên 5 tuổi đến và nói: "Cháu ạ, một ngày cháu sẽ là vị vua vĩ đại. Đừng bắt chước tính hiếu chiến của ta. Hãy luôn hành xử dựa theo Thượng đế và khiến cho thần dân phải trọng vọng Người. Ta đau lòng mà thấy đã để cho thần dân trong tình trạng như thế."[cần dẫn nguồn]
Vua Louis XIV qua đời năm 1715 sau khi trị vì 72 năm, thọ 76 tuổi. Có lẽ ông là vị vua vĩ đại nhất của Pháp[2]. Những vị vua kế tục ông không tham vọng như ông, và huyền thoại về một lực lượng Quân đội Pháp bất khả chiến bại đã bị phá vỡ tan tành với việc họ bị Quân đội tinh nhuệ Phổ của vua Friedrich II Đại Đế đè bẹp trong trận đánh lớn tại Rossbach (1757), và sau này là đại bại trong Chiến tranh Bảy năm trước người Anh, và mất hết lãnh thổ Bắc Mỹ vào tay Anh.[11][12]

Thời thơ ấu

Louis XIV sinh vào ngày 05 tháng 9 năm 1638 tại Lâu đài Château de Saint-Germain-en-Laye,là con trai của vua Louis XIII và Anne của Áo. Cha mẹ của ông đã kết hôn được 23 năm trước khi sinh ra ông. Mẹ ông đã từng mang thai bốn lần, nhưng cả bốn lần đều bị hỏng. Do đó, mọi người coi ông như là một món quà mà Thiên Chúa ban tặng, và ngày sinh của ông là một phép lạ của Chúa Trời. Ông thường được gọi là "Louis-Dieudonné" (Louis Chúa ban)[13] và ông cũng mang danh hiệu Hoàng thái tử (Dauphin).[14]
Biết rằng mình sắp chết, nên vào năm 1643, Louis XIII đã chuẩn bị tất cả mọi thứ để giúp đỡ con trai mình trong những năm đầu trên ngai vàng. Ông lập một hội đồng nhiếp chính, đại diện cho Louis trong thời gian còn thơ ấu. Trái ngược với phong tục, ông không cho Anne độc chiếm chức nhiếp chính ngay cả Louis là con đẻ của bà và em trai của ông là Phillipe vì ông không chắc chắn về tài năng chính trị của bà. Nhưng rốt cuộc bà cũng trở thành người đứng đầu Hội đồng. Khi Louis XIII qua đời, hoàng hậu đã đưa Louis (lúc này ông chưa đầy năm tuổi) đến để viếng cha. Cậu bé Louis đã có thể nắm được tình hình thực tế bởi khi người cha hỏi con trai của mình rằng có biết mình là ai, thì cậu trả lời rằng, "Louis thứ mười bốn, thưa phụ hoàng!" Cha ông trả lời rằng: "Con không phải Louis thứ mười bốn vào lúc này."

Ghi chú

  1. ^ Christopher Duffy, Siege Warfare: The fortress in the early modern world, 1494-1660, trang 247
  2. ^ a ă Theo cuốn Lịch sử thế giới
  3. ^ Jay Luvaas, Napoleon on the Art of War, trang 35
  4. ^ Jay Luvaas, Napoleon on the Art of War, trang 36
  5. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang XVI
  6. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 65
  7. ^ Christopher Duffy, The fortress in the age of Vauban and Frederick the Great, 1660-1789, trang 37
  8. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 32
  9. ^ Christopher Duffy, The fortress in the age of Vauban and Frederick the Great, 1660-1789, trang 44
  10. ^ Jay Luvaas, Napoleon on the Art of War, trang 100
  11. ^ Christopher Duffy, Borodino and the War of 1812, trang 15
  12. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 230
  13. ^ (tiếng Pháp)Brémond, Henri La Provence mystique au XVIIe siècle. Paris: Plon-Nourrit, 1908. các trang. 381, 382.
  14. ^ François Bluche (translated by Mark Greengrass (1990). Louis XIV. New York: Franklin Watts. tr. 11. ISBN 0-531-15112-3.

Đọc thêm

  • Ashley, Maurice P. Louis XIV And The Greatness Of France (1965) excerpt and text search
  • Beik, William. Louis XIV and Absolutism: A Brief Study with Documents (2000) excerpt and text search
  • Beik, William. "The Absolutism of Louis XIV as Social Collaboration." Past & Present 2005 (188): 195–224. online at Project MUSE
  • Bluche, François, Louis XIV, (Franklin Watts, 1990)
  • Buckley, Veronica. Madame de Maintenon: The Secret Wife of Louis XIV. London: Bloomsbury, 2008
  • Burke, Peter. The Fabrication of Louis XIV (1994) excerpt and text search
  • Cambridge Modern History: Vol. 5 The Age Of Louis XIV (1908), old, solid articles by scholars; complete text online
  • Campbell, Peter Robert. Louis XIV, 1661–1715 (London, 1993)
  • Church, William F., ed. The Greatness of Louis XIV. (1972).
  • Cowart, Georgia J. The Triumph of Pleasure: Louis XIV and the Politics of Spectacle (U of Chicago Press, 2008) 299 pp; focus on opera and ballet
  • Cronin, Vincent. Louis XIV. London: HarperCollins, 1996 (ISBN 0002720728)
  • Dunlop, Ian. Louis XIV (2000), 512pp excerpt and text search
  • Erlanger, Philippe, Louis XIV (Praeger 1970)
  • Fraser, Antonia. Love and Louis XIV: The Women in the Life of the Sun King. London: Weidenfeld & Nicolson, 2006 (hardcover, ISBN 0-297-82997-1); New York: Nan A. Talese, 2006 (hardcover, ISBN 0385509847)
  • Goubert, Pierre. Louis XIV and Twenty Million Frenchmen (1972), social history from Annales School
  • Jones, Colin. The Great Nation: France from Louis XIV to Napoleon (1715–1799) (2002)
  • Lewis, W. H. The Splendid Century: Life in the France of Louis XIV (1953) excerpt and text search; also online complete edition
  • Le Roy Ladurie, Emmanuel. The Ancien Regime: A History of France 1610–1774 (1999), survey by leader of the Annales School excerpt and text search
  • Lynn, John A. The Wars of Louis XIV, 1667–1714 (1999) excerpt and text search
  • Mitford, Nancy. The Sun King (1995), popular excerpt and text search
  • Nolan, Cathal J. Wars of the Age of Louis XIV, 1650–1715: An Encyclopedia of Global Warfare and Civilization. (2008) 607pp; over 1000 entries; ISBN 978-0-313-33046-9
  • Rowlands, Guy. The Dynastic State and the Army under Louis XIV: Royal Service and Private Interest, 1661–1701 (2002) online edition
  • Rubin, David Lee, ed. Sun King: The Ascendancy of French Culture during the Reign of Louis XIV. Washington: Folger Books and Cranbury: Associated University Presses, 1992.
  • Shennan, J. H. Louis XIV (1993) online edition
  • Thompson, Ian. The Sun King's Garden: Louis XIV, André Le Nôtre And the Creation of the Gardens of Versailles. London: Bloomsbury Publishing, 2006 ISBN 1582346313
  • Treasure, Geoffrey. Louis XIV (London, 2001).
  • Wilkinson, Rich. Louis XIV (2007)
  • Wolf, John B. Louis XIV (1968), the standard scholarly biography online edition

Liên kết ngoài


Meuble héraldique Fleur de lys.svg Các vị vua và hoàng đế đã trị vì nước Pháp từ 843 tới 1870 Meuble héraldique Fleur de lys.svg
84 3 87 7 87 9 88 4 88 8 89 8 92 2 92 3 93 6 95 4 98 6 98 7
   Charles II Louis II Louis III & Carloman II Charles Béo Eudes I Charles III Robert I Raoul I Louis IV Lothaire Louis V   
98 7 99 6 10 31 10 60 11 08 11 37 11 80 12 23 12 26 12 70 12 85 13 14
   Hugues Capet Robert II Henri I Philippe I Louis VI Louis VII Philippe II Louis VIII Louis IX Philippe III Philippe IV   
13 14 13 16 13 16 13 22 13 28 13 50 13 64 13 80 14 22 14 61 14 83 14 98
   Louis X Jean I Philippe V Charles IV Philippe VI Jean II Charles V Charles VI Charles VII Louis XI Charles VIII   
14 98 15 15 15 57 15 59 15 60 15 74 15 89 16 10 16 43 17 15 17 74
   Louis XII François I Henri II François II Charles IX Henri III Henri IV Louis XIII Louis XIV Louis XV   
17 74 17 92 18 04 18 14 18 15 18 15 18 15 18 24 18 30 18 48 18 52 18 70
   Louis XVI   -   Napoléon I Louis XVIII Napoléon I Napoléon II Louis XVIII Charles X Louis-Philippe I   -   Napoléon III   
Lịch sửCapetienValoisBourbonBonaparteVua và hoàng đếTổng thống


Trận Midway

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trận chiến Midway
Một phần của Chiến tranh Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Các máy bay Hoa Kỳ đang bay tới "Mikuma" đang bốc cháy (Giữa).
Các máy bay ném bom bổ nhào Douglas SBD Dauntless của Hoa Kỳ tại Midway
.
Thời gian 4 tháng 67 tháng 6 1942
Địa điểm Khu vực Đảo Midway
Kết quả Thắng lợi quyết định của Hoa Kỳ [1]
Tham chiến
Cờ của Hoa Kỳ Hoa Kỳ Flag of the Empire of Japan Đế quốc Nhật Bản
Chỉ huy
Cờ của Hoa Kỳ Chester W. Nimitz
Cờ của Hoa Kỳ Frank J. Fletcher
Cờ của Hoa Kỳ Raymond A. Spruance
Cờ của Nhật Bản Isoroku Yamamoto
Cờ của Nhật Bản Nobutake Kondō
Cờ của Nhật Bản Chūichi Nagumo
Cờ của Nhật Bản Tamon Yamaguchi 
Cờ của Nhật Bản Ryusaku Yanagimoto 


Lực lượng
3 tàu sân bay
8 tàu tuần dương
15 tàu khu trục
16 tàu ngầm
233 máy bay
127 máy bay từ căn cứ mặt đất
4 tàu sân bay
2 thiết giáp hạm
~15 tàu hỗ trợ
248 máy bay[2]
16 thủy phi cơ

Không tham gia trong trận đánh:
2 tàu sân bay hạng nhẹ
5 thiết giáp hạm
~41 tàu hỗ trợ
Tổn thất
1 tàu sân bay
1 tàu khu trục đắm
150 máy bay
307 thiệt mạng[3]
4 tàu sân bay
1 tuần dương hạm đắm
248 máy bay bị phá hủy[4]
3.057 thiệt mạng[5]
.
Trận Midway là một trận hải chiến quan trọng trong thế chiến thứ hai tại chiến trường Thái Bình Dương, diễn ra ngày từ ngày 4 tháng 67 tháng 6 năm 1942. Hai bên tham chiến là hạm đội Nhật Bản và hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ. Chỉ một tháng sau trận chiến biển Coral quyết định, hải quân Hoa Kỳ đã đánh bại một cuộc tấn công nữa của Hải quân Nhật Bản tại đảo san hô Midway, đánh dấu bước ngoặt trong chiến tranh Thái Bình Dương (1937–1945). Về những hậu quả ngắn hạn và dài hạn mà nó đem lại, nó là một trong những trận chiến hải quân quan trọng nhất ở vùng Thái Bình Dương, và có lẽ trong cả Chiến tranh thế giới thứ hai.
Cuộc tấn công của người Nhật vào Midway, cũng gồm một cuộc tấn công thứ hai nữa vào các cứ điểm tại quần đảo AleutAlaska bởi một hạm đội nhỏ hơn, là một âm mưu của Hải quân Nhật Bản để nhử hạm đội tàu sân bay Mỹ vào một cái bẫy để tiêu diệt. Nhờ vậy tiêu diệt một cách có hiệu quả hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, và đảm bảo ưu thế hải quân của Nhật trên Thái Bình Dương ít nhất cho tới cuối năm 1943. Như vậy, việc chiếm Midway sẽ đẩy xa thêm vành đai bảo vệ ra khỏi hòn đảo Nhật Bản. Thành công của chiến dịch này được coi là bước chuẩn bị cho những chiến dịch kế tiếp ở FijiSamoa, cũng thúc đẩy chiến dịch đánh chiếm Hawaii. Nếu người Nhật thành công trong mục tiêu Midway, vùng phía đông bắc vành đai Thái Bình Dương sẽ là vùng không có nguy cơ đối với Hải quân Nhật Bản. Nhờ vậy, chiến dịch Midway, cũng như cuộc tấn công Trân Châu Cảng đã mở ra chiến tranh, không phải là một phần của chiến dịch chinh phục nước Mỹ mà là để chiếm lấy sức mạnh chiến lược ở Thái Bình Dương, để người Nhật có thể rảnh tay thành lập vùng bá chủ của họ, được gọi là khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á. Trong những hoàn cảnh tốt nhất, họ hy vọng rằng người Mỹ sẽ bắt buộc phải tìm giải pháp đàm phán để chấm dứt Chiến tranh Thái Bình Dương. Tuy nhiên, như những gì đã xảy ra, trận chiến là một thất bại nặng nề cho người Nhật.
Với việc bẻ gãy cuộc tiến công của quân Nhật, Hoa Kỳ đã đạt được thắng lợi quyết định cho cả cuộc chiến.[1]

Hoàn cảnh chiến lược

Nhật Bản đã rất thành công trong việc nhanh chóng hoàn thành các mục tiêu chiến tranh ban đầu của họ, gồm cả việc chinh phục Philippines, chiếm MalaysiaSingapore, chiếm giữ các vùng tài nguyên sống còn ở Java, Borneo, và Indonesia. Hiểu theo nghĩa thông thường, mở đầu cho một giai đoạn các chiến dịch thứ hai được bắt đầu sớm vào tháng 1 năm 1942. Tuy nhiên, vì có những khác biệt về chiến lược giữa hải quân và quân đội của họ, cũng như cuộc đấu tranh nội bộ giữa Tổng hành dinh của Hải quân và Hạm đội Liên hợp của Đô đốc Yamamoto, việc thành lập một chiến lược hiệu quả đã bị cản trở, và chiến lược tiếp theo không được cung cấp tài chính cho tới tận tháng 4 năm 1942..[6] Lúc đó, Đô đốc Yamamoto đã thành công trong cuộc đấu tranh trong giới quan trường để đưa khái niệm tác chiến của ông vào thực thi – đó là những chiến dịch tiếp theo ở vùng Trung Thái Bình Dương – trước khi các đối thủ khác có hành động tác chiến. Chúng gồm cả các chiến dịch khác cả trực tiếp hay gián tiếp nhằm vào Australia, cũng như các chiến dịch nhằm vào Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, cuối cùng, Yamamoto đã công khai đe dọa từ chức trừ khi ông được tiếp tục kế hoạch của mình.[7]
Lo ngại chiến lược ban đầu của Yamamoto là sự loại trừ các lực lượng tàu sân bay của Mỹ hiện đang còn ở đó.[nb 1] Sự lo ngại này càng tăng thêm khi quân đội Hoa Kỳ tiến hành chiến dịch "không kích Doolittle" ném bom vào Tokyo (18 tháng 4 năm 1942) bằng các máy bay B-25 xuất phát tàu sân bay USS Hornet nhằm gây ra một cú sốc tâm lý lớn cho người dân Nhật và cho thấy rằng quân đội Nhật Bản không thể ngăn chặn các cuộc tấn công thẳng vào hòn đảo Nhật Bản.[8][nb 2] Yamamoto cho rằng một chiến dịch nhắm vào căn cứ tàu sân bay chính ở Trân Châu Cảng sẽ khiến họ phải chiến đấu.[9] Tuy nhiên, vì sức mạnh không quân trên bộ của Hoa Kỳ hiện đang ở Hawaii, Yamamoto kết luận rằng không thể đánh trực tiếp vào cứ điểm quân sự mạnh mẽ của Hoa Kỳ. Thay vào đó, ông lựa chọn đảo san hô Midway, nằm ở phía cực tây bắc của dãy quần đảo Hawaii, khoảng 1.300 hải lý từ Oahu. Bản thân Midway không có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong kế hoạch lớn hơn của Nhật Bản, tuy nhiên, người Nhật cảm thấy rằng người Mỹ sẽ coi Midway là một tiền đồn có tính sống còn đối với Trân Châu Cảng, và vì thế sẽ mạnh mẽ bảo vệ nó.[10]

Kế hoạch

Hình đảo san hô Midway, vài tháng trước trận đánh.
Tương tự như nhiều kế hoạch hải quân của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai, kế hoạch trận đánh của Đô đốc Yamamoto Isoroku rất phức tạp và khó hiểu. Tin rằng người Mỹ đã mất tinh thần vì phải chịu nhiều thất bại trước người Nhật trong vòng sáu tháng trước đó, Yamamoto cảm thấy rằng mánh khóe cần thiết phải nhử được những phần chính của của hạm đội Hoa Kỳ vào trong một tình huống đặc biệt nguy hiểm. Hiểu theo nghĩa thường, ông chia các lực lượng của mình theo kiểu ở quy mô rộng nhất khiến cho chúng không bị người Mỹ phát hiện trước trận đánh có tính chất quyết định. Vì vậy, Yamamoto dàn các lực lượng tàu chiến và tuần dương hạm của mình và lực lượng tàu sân bay tấn công của Phó đô đốc Chuichi Nagumo thành một vệt dài hàng trăm dặm; kiểu này nhằm để đối đầu với các lực lượng bất kỳ nào của hạm đội Mỹ có ý định tới cứu trợ cho Midway, một khi các tàu sân bay của Nagumo đã tấn công làm cho chúng bị yếu đi. Không may cho người Nhật, vì nhấn mạnh tới yếu tố bí mật và việc phân chia lực lượng của họ đồng nghĩa với việc không một lực lượng nào trong hạm đội của họ có thể giúp đỡ được nhau, và nó đã dẫn tới sự chôn vùi lực lượng tàu sân bay của Nagumo trong cuộc chiến.
Kế hoạch của Yamamoto cũng xác nhận thông tin tình báo cho rằng chiếc USS EnterpriseUSS Hornet, thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 16 là những chiếc tàu duy nhất đang hoạt động thuộc các lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ ở thời điểm đó. USS Lexington đã bị đánh chìm và USS Yorktown bị hư hỏng nặng (và họ tin rằng nó đã chìm) tại trận biển Coral chỉ một tháng trước, và người Nhật tin rằng chiếc USS Saratoga đang được sửa chữa ở bờ biển phía tây nước Mỹ sau khi bị dính ngư lôi làm hư hại.

Tình báo Hoa Kỳ

Tình báo hải quân Hoa Kỳ (hợp tác với tình báo Anh và Hà Lan) đã biết được một số phần trong hệ thống bộ giải mã liên lạc gốc của Hải quân Đế quốc Nhật Bản (JN-25), và đã rất gắng sức nhằm có được những phiên bản về sau này, nó chỉ được tung ra ngay trước cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Việc thu thập được nhiều thông tin tình báo qua radio của hải quân Nhật từ cuộc không kích Doolittle càng làm JN-25 mất giá trị.
Vì vậy, tới tháng 5 năm 1942 người Mỹ đã biết rằng người Nhật đang chuẩn bị tung ra một cuộc tấn công lớn nhằm vào một mục tiêu (được gọi là "AF" từ đầu tháng 6), và có thể hy vọng phục kích trước cuộc tấn công này. Mặc dù những phân tích về các dữ kiện đó, "Hypo," đơn vị mật mã của Nimiz tại Trân Châu Cảng, đã tin rằng "AF" chính là Midway. Mặt khác, cấp trên của Nimiz tại Washington, Đô đốc Ernest King, và đơn vị mật mã của riêng ông – OP-20-G – tin rằng AF thuộc quần đảo Aleut.
Một sỹ quan hải quân trẻ, Jasper Holmes, đã đưa ra một mưu kế tài tình ở Ban giải mã Hypo để có thể xác định chính xác vị trí của AF. Bằng cách sử dụng dây cáp ngầm dưới biển, ông yêu cầu chỉ huy căn cứ Midway gửi qua radio một tin nhắn về Trân Châu Cảng nói rằng nước uống đang cạn kiệt ở Midway vì nhà máy nước hỏng — và tin này được gửi bằng một kiểu mật mã mà họ cho rằng người Nhật đã biết cách giải mã. Ngay sau đó, một bức mật mã của người Nhật hóa mã bằng JN-25 đã nói rằng "AF" gặp phải những vấn đề về nước ngọt, và rằng lực lượng tấn công phải sắp sẵn kế hoạch về vấn đề này. Từ đó "AF" được khẳng định là Midway.
Các thông tin có được thông qua bộ giải mã JN-25 đến rất chậm, một phần vì nó là kết quả của những sự chuẩn bị vội vã của người Nhật, và không phải đến phút cuối cùng Đô đốc Chester Nimitz của CINCPAC mới có đủ thông tin để tổng hợp và xếp đặt phục kích cho lực lượng tấn công ở Midway. Ông có trong tay hai tàu sân bay thuộc lực lượng tấn công của Phó đô đốc William Halsey—nhưng chính Halsey lúc ấy đang bị bệnh vảy nến, và đã được thay thế bằng Đô đốc Raymond A. Spruance (chỉ huy lực lượng hộ tống Halsey) từ tuyến sau.

Mở đầu trận đánh

Hàng không mẫu hạm USS YorktownTrân Châu Cảng trước trận đánh.
Để có thể tập hợp đầy đủ lực lượng cho cuộc chiến đấu sắp tới, Nimitz gọi trở lại các lực lượng của vị tướng hậu phương là Đô Đốc Frank Jack Fletcher từ vùng tây nam Thái Bình Dương. Chiếc Yorktown vốn đã bị hư hại nặng trong trận biển Coral, nhưng xưởng hải quân Trân Châu Cảng đã gắng sửa chữa nó để đưa vào phục vụ. Trong vòng 72 giờ, chiếc Yorktown được biến từ tình trạng hỏng hoàn toàn thành một chiếc tàu sân bay (nếu có thể nói như vậy) hoạt động được. Đường băng trên boong của nó được chữa tạm, các bộ phận rầm trong bị bỏ đi và được thay thế, và nhiều phi đội mới (được chuyển từ chiếc tàu sân bay Saratoga sang) được đưa lên boong. Đô đốc Nimitz hoàn toàn không cần tới chiếc tàu sân bay thứ ba đang hoàn thành để đưa vào lực lượng của mình, những việc sửa chữa thậm chí còn tiếp tục khi chiếc Yorktown đã xuất kích. Chỉ ba ngày sau khi được đưa vào ụ tàu ở Trân Châu Cảng, chiếc tàu này đã lại có thể hoạt động, và đoàn thủy thủ của nó tấu lên bài "California, Here I Come".
Trong lúc ấy, vì đã tham gia vào trận biển Coral, chiếc tàu sân bay Nhật Zuikaku đang đậu ở cảng Kure (gần Hiroshima), chờ đợi một phi đội máy bay mới để thay thế những chiếc đã bị phá huỷ, trong khi chiếc tàu Shokaku bị hư hại nặng còn đang phải đợi trong ụ khô để được sửa chữa thêm những hư hỏng trong trận chiến. Dù có thể lấy máy bay từ hai chiếc tàu đó để tái trang bị cho chiếc Zuikaku với một tập hợp máy bay mới, người Nhật không hề cố gắng đưa nó vào trận chiến sắp tới.
Những sắp xếp trinh sát chiến lược của người Nhật trước trận chiến cũng rất lộn xộn. Một nhóm cảnh giới gồm các tàu ngầm Nhật đến vị trí muộn, giúp cho những chiếc tàu sân bay Mỹ đến được địa điểm tập kết ở phía đông bắc Midway (được gọi là "Point Luck") mà không bị phát hiện. Một nỗ lực nhằm sử dụng các thủy phi cơ trinh sát bốn động cơ để do thám Trân Châu Cảng trước trận đánh (và nhờ thế phát hiện được sự vắng mặt của những chiếc tàu sân bay Mỹ), được gọi là "Chiến dịch K", cũng bị bỏ ngang khi những tàu ngầm Nhật vốn được giao trách nhiệm tái cung cấp xăng dầu cho những chiếc máy bay trinh sát phát hiện ra rằng điểm cấp xăng – cho đến lúc ấy là vùng vịnh trống trải French Frigate Shoals – đã bị các tàu chiến Mỹ chiếm đóng. Vì vậy, Nhật Bản mất đi mọi tin tình báo liên quan tới các hoạt động của các tàu sân bay Mỹ ngay trước trận đánh. Tình báo radio của Nhật cũng nhận thấy một sự gia tăng hoạt động của cả tàu ngầm và trao đổi thông tin của Mỹ. Thông tin này đã được báo tới cả Nagumo và Yamamoto trước trận đánh. Tuy nhiên, các kế hoạch tác chiến của Nhật không được thay đổi trước những dấu hiệu đó. Trái lại, Nimitz biết rất rõ vị trí của Nagumo nhờ vào ưu thế tình báo của mình.

Trận chiến

Những cuộc tấn công không quân đầu tiên

Nhật Bản tấn công Midway lúc 06:20 ngày 4 tháng 6.
Phó Đô đốc Chuichi Nagumo tung ra những cuộc tấn công không quân đầu tiên vào 04:30 ngày 4 tháng 6. Cùng lúc đó người Nhật cho xuất kích 7 chiếc máy bay tìm kiếm (1 chiếc chậm 30 phút), và các máy bay tuần tra chiến đấu (CAP). Những sắp xếp trinh sát của Nhật không tốt với quá ít máy bay để bao quát những một khu vực rộng lớn, và hoạt động trong điều kiện thời tiết xấu ở phía đông bắc và phía đông lực lượng tấn công.
Lúc 06:20, các máy bay Nhật ném bom và phá hoại nặng nề căn cứ quân sự của Mỹ ở Midway. Các phi công chiến đấu ở căn cứ Midway đa phần sử dụng những chiếc máy bay đã lỗi thời Brewster F2A (tên của người Anh là Buffalo), để bảo vệ Midway. Lực lượng phòng không Mỹ rất chính xác và dày đặc, làm thiệt hại nhiều máy bay Nhật. Chỉ huy tấn công người Nhật nhận thấy rằng những máy bay chiến đấu trên đảo đã xuất kích, ra hiệu cho Nagumo cần tung ra thêm một đợt tấn công nữa nhằm vô hiệu hóa khả năng phòng vệ của hòn đảo và những khả năng tấn công của nó trước khi lực lượng đổ bộ (tiến hành độc lập từ phía tây nam) có thể đổ quân vào ngày 7 tháng 6.
Vì đã cất cánh trước lúc người Nhật tấn công, những máy bay ném bom tầm xa của Mỹ ở Midway đã thực hiện nhiều cuộc tấn công vào hạm đội tàu sân bay Nhật. Chúng gồm 6 chiếc TBF Avenger trong lần tấn công đầu tiên, và B-26 Marauder được trang bị ngư lôi. Người Nhật coi thường những cuộc tấn công đó và chúng hầu như không thiệt hại gì đến tàu Nhật, trong khi nhiều máy bay ném bom Mỹ bị bắn hạ.
Hiryu đang bị tấn công bằng máy bay ném bom B-17 Flying Fortress
Nagumo, theo đúng chiến thuật thường lệ của tàu sân bay Nhật lúc ấy, vẫn giữ một nửa lực lượng của mình để dự phòng. Chúng gồm hai phi đội, một bao gồm những máy bay chống tàu ngầm và máy bay thả ngư lôi. Một đội được trang bị các ngư lôi để tấn công tàu nếu như phát hiện được vị trí của các tàu chiến Mỹ. Như một kết quả của những cuộc tấn công vào Midway, cũng như sự đề nghị quan tâm tới nhu cầu tung ra một cuộc tấn công mới của những chỉ huy, Đô đốc Nagumo ra lệnh các máy bay dự trữ của ông lắp đặt bom thông thường để tấn công các mục tiêu mặt đất lúc 07:15. Việc tái trang bị vũ khí mất 30 phút, lúc 07:40 một máy bay trinh sát từ tuần dương hạm Tone ra tín hiệu thấy một lực lượng hải quân khá lớn của Mỹ ở phía đông. Nagumo nhanh chóng thu hồi lệnh tái trang bị vũ khí, và yêu cầu máy bay trinh sát xác định rõ vị trí lực lượng tấn công Mỹ.
Lúc ấy Nagumo đang ở tình thế lúng túng. Đô đốc hậu quân Tamon Yamaguchi, chỉ huy Sư đoàn tàu sân bay số 2 (HiryuSoryu), đánh tín hiệu cho Nagumo rằng ông lưu ý nên tấn công ngay với các lực lượng sẵn có trong tay. Nagumo có lẽ có một cơ hội để tung ra một cuộc tấn công ngay lập tức từ một số hay toàn bộ lực lượng dự trữ của ông để tấn công các tàu Mỹ. Nhưng ông phải hành động nhanh chóng, vì lực lượng tấn công Midway của ông sẽ quay lại ngay lập tức. Chúng đã cạn nhiên liệu, và mang theo những người thương binh, và cần phải hạ cánh nhanh chóng. Việc bố trí xuất kích cho các máy bay của ông mất ít nhất 30-45 phút. Hơn nữa vì phải xuất kích ngay ông sẽ khiến một số máy bay dự trữ phải lâm trận mà không được lắp vũ khí thích hợp. Học thuyết tàu sân bay của Nhật thường thích lập thành một đội tấn công đầy đủ, và vì thiếu một sự xác định chắc chắn lực lượng Mỹ có các tàu sân bay hay không, phản ứng của Nagumo rất cẩn trọng. Hơn nữa, việc phát hiện nhiều máy bay tấn công của Mỹ đang tiến tới lúc 07:53 càng buộc Nagumo phải đưa ra quyết định nhanh chóng. Cuối cùng, Nagumo đã đưa ra một quyết định tai họa là chờ lực lượng tấn công ban đầu của ông hạ cánh, sau đó mới tung ra lực lượng dự bị tấn công (lúc ấy sẽ được trang bị vũ khí thích hợp).

Những cuộc tấn công vào hạm đội Nhật Bản

Các máy bay VT-6 TBD trên mẫu hạm "USS Enterprise" trong trận Midway.
Cùng lúc, người Mỹ đã phóng không lực hải quân của họ tấn công hải quân Nhật Bản. Đô Đốc Fletcher, chỉ huy toàn cục từ tàu sân bay Yorktown với các báo cáo do thám từ sáng sớm hôm đó, ra lệnh cho Spruance tấn công Nhật vào lúc thích hợp nhất. Spruance bắt đầu cuộc tấn công lúc 07:00. Fletcher sau khi kết thúc các cuộc do thám cẩn thận cũng cho lực lượng của mình tấn công vào 08:00. Tuy vậy có một số điểm, kế hoạch tác chiến của Mỹ không hợp lý bằng đối thủ của họ. Các phi đội của Mỹ tấn công không đồng nhất. Điều này giảm bớt hiệu quả của các đợt tấn công và đẩy thương vong của Mỹ lên cao.
Không lực hải quân Mỹ giáp chiến hạm đội Nhật lúc 09:20 với Phi đội ngư lôi số 8 (VT-8), theo sau là VT-6 (lúc 09:40) tấn công mà không có máy bay tiêm kích yểm trợ. VT-8 đã bị tiêu diệt hoàn toàn và VT-6 cũng gần như vậy mà hầu như không gây được thiệt hại gì cho đối phương. Không lực hải quân Nhật, với máy bay Mitsubishi Zero bay nhanh hơn, đã chiếm ưu thế. Tuy vậy, với sự hy sinh của hai phi đội, một cách gián tiếp người Mỹ đạt được hai hệ quả quan trọng. Thứ nhất, họ giữ Nhật bên ngoài thế cân bằng, ngăn cản họ do thám phát hiện được mục tiêu của mình để tấn công. Thứ hai, VT-8 và VT-6 đã kéo các lực lượng không lực phòng thủ của Nhật ra khỏi vị trí bảo vệ. Sự xuất hiện của VT-3 lúc 10:00 đã nhanh chóng kéo các lực lượng chính của Nhật về phía Đông Nam.
Lợi dụng lúc VT-3 đang thu hút sự chú ý của Hạm đội Nhật, hai đơn vị riêng rẽ máy bay ném bom bổ nhào của Mỹ tiếp cận Hạm đội Nhật từ hướng Đông Bắc và Tây Nam. Hai đơn vị này với may mắn quyết đoán đã tiếp cận được vị trí thuận lợi bên trên để tấn công Hạm đội Nhật. Các máy bay tấn công của Nhật chất đầy vũ khí và xăng trên boong các tàu sân bay trở thành mục tiêu của các phi đội Mỹ. Lúc ấy trên các hàng không mẫu hạm Nhật đang là lúc tiếp nhiên liệu. Đây chính là thời điểm các tàu sân bay dễ bị nguy hiểm nhất.
Vào lúc 10:22, các máy bay từ tàu sân bay Enterprise tấn công tàu sân bay KagaAkagi, ở phía Nam máy bay từ tàu Yorktown tấn công chiếc Soryu. Cùng lúc đó, VT-3 tấn công tàu sân bay Hiryu. Các máy bay phóng lôi của Mỹ đã không đánh trúng mục tiêu. Tuy vậy, phi đội ném bom bổ nhào lại may mắn hơn. Trong khoảng 6 phút, hai phi đội bổ nhào đã làm cho ba tàu sân bay Nhật bốc cháy. Akagi trúng một qủa bom, Soryu trúng ba quả, Kaga trúng bốn hay nhiều hơn. Cả ba tàu bị loại khỏi vòng chiến và sau đó thì chìm hẳn.

Những cuộc phản công của Nhật Bản

USS Yorktown bị đánh trúng bởi một ngư lôi phóng từ trên không
Hiryu, lúc bấy giờ là hàng không mẫu hạm còn sống sót duy nhất của Nhật, không để phí thời gian trong việc phản công. Đợt tấn công đầu tiên của các máy bay ném bom bổ nhào gây thiệt hại nặng cho Yorktown, tuy nhiên nó được sửa chữa lại rất nhanh đến nổi đợt tấn công thứ hai gồm các máy bay ném ngư lôi cứ lầm tưởng nó là một mẫu hạm còn nguyên vẹn. Mặc dù Nhật Bản hy vọng cân bằng trận chiến bằng cách loại trừ hai hàng không mẫu hạm bằng hai đợt tấn công, Yorktown của Hoa Kỳ chịu đựng được cả hai đợt tấn công. Tuy nó không thể tham dự vào trận chiến được nữa nhưng Lực lượng Đặc nhiệm 16 thoát được mà không bị sứt mẻ. Yorktown sau cùng bị chìm vì trúng ngư lôi từ tàu ngầm Nhật trong lúc được cứu hộ vào ngày 7 tháng 6. Loạt ngư lôi đó cũng đánh chìm USS Hammann, là khu trục hạm được lệnh ở lại trợ giúp cho Yorktown. Khi các máy bay thám thính của Hoa Kỳ tìm thấy Hiryu của Nhật sau đó thì đến chiều cùng ngày, EnterpriseHornet của Hoa Kỳ tung ra một đòn tấn công cuối cùng vào xế tối chống mẫu hạm cuối cùng của Nhật và để nó lại trong tình trạng từ từ chìm xuống.
Khi màn đêm rơi xuống, cả hai cùng kiểm tra thiệt hại và hoạch định hành động kế tiếp. Đô đốc Spruance lúc này làm tư lệnh chiến thuật các lực lượng Hoa Kỳ khi Đô đốc Fletcher bắt buộc phải bỏ lại chiếc Yorktown. Spruance biết rằng ông phải đạt được một chiến thắng oanh liệt nhất nhưng ông vẫn không biết chắc được thực lực của Nhật còn trong tay, và quyết định phòng vệ đảo và cả các mẫu hạm của ông. Cuối cùng, ông quyết định bỏ phía đông chiều tối hôm đó vì sợ đâm đầu vào một trận đánh ban đêm với lực lượng nổi hùng hậu hơn của Nhật có thể vẩn còn trong vùng. Trong những giờ đầu tiên của buổi sáng, ông quay về phía tây để sẵn sàng bảo vệ Midway nếu một cuộc tấn công khởi sự vào buổi sáng.
Về phần mình, Yamamoto lúc đầu quyết định tiếp tục nỗ lực và đưa các lực lượng nổi còn lại của mình tìm kiếm các mẫu hạm của Hoa Kỳ về hướng đông. Ngay lập tức, một lực lượng tuần duơng hạm tấn công được đưa đến pháo kích vào đảo đêm đó. Dần dần khi đêm xuống nhưng không thấy bóng dáng người Mỹ đâu, lúc 02:30 Yamamoto ra lệnh cho các lượng của ông rút về hướng tây.
Trong khi rút lui với một hàng các phương tiện quá gần nhau vào ban đêm, lực lượng pháo hạm Nhật chịu đựng một cuộc thử lửa. Sự xuất hiện của tàu ngầm Hoa Kỳ Tambor bắt buộc các tuần dương hạm trong đội hình phải nhanh chóng tách ra. Tuần dương hạm Nhật Mogami đã không đổi hướng kịp thời và đâm vào chiếc Mikuma[11]. Hai ngày sau, đầu tiên là máy bay từ Midway, rồi từ các mẫu hạm của Đô đốc Spruance tung ra đòn tấn công nhắm vào lực lượng đang rút lui của Nhật. Mikuma cuối cùng bị đắm trong lúc Mogami chống cự các máy bay ném bom thành công và tiếp tục trận đánh thêm một ngày nữa.

Kết cục

Một hình ảnh hiếm về một hàng không mẫu hạm Nhật đang chìm, trong ảnh này là Hiryu.
Sau khi ghi được chiến thắng rõ ràng, lực lượng Hoa Kỳ rút lui. Việc Nhật Bản mất 4 hàng không mẫu hạm (Kaga, Akagi, Soryu, và Hiryu) cùng một số lớn các tổ lái được huấn luyện kỹ lưỡng đã chặn đứng sự bành trướng của họ trên vùng Thái Bình Dương. Chỉ còn 2 hàng không mẫu hạm là ZuikakuShokaku có thể huy động cho các hoạt động tấn công. Các mẫu hạm còn lại là Ryūjō, JunyoHiyo đều là mẫu hạm nhẹ với đường băng nhỏ, chúng khó có khả năng sống sót như các hàng không mẫu hạm. Thất bại nặng nề của người Nhật xảy ra sau nửa năm khai chiến với Hoa Kỳ. Khoảng thời gian này là gần như chính xác với dự đoán của Đô đốc Yamamoto Isoroku về quãng thời gian nước Nhật có ưu thế trước khi người Mỹ giành quyền chủ động.
Với Hải quân Hoa Kỳ bây giờ đủ lực lượng áp đảo đối phương trong phương diện về hàng không mẫu hạm và đang vươn móng vuốt của nó về phía trước, Hoa Kỳ bắt đầu có thể vào thế công kích lần đầu tiên trong cuộc chiến. Sau đó không lâu Hoa Kỳ xâm chiếm Guadalcanal, mở đầu cuộc chiến quần thảo hao mòn tại Quần đảo Solomon và cuối cùng đánh tan hải quân và các đơn vị không quân thiện chiến của Nhật.

Ảnh hưởng của cuộc chiến

Đánh giá ảnh hưởng của cuộc chiến đòi hỏi phân tích thật cẩn trọng. Mặc dù trận Midway thường được gọi là một thắng lợi quyết định của Hoa Kỳ,[1] "bước ngoặt của chiến trường Thái Bình Dương"', rõ ràng là Hoa Kỳ chưa thể thắng cuộc chiến Thái Bình Dương trong vòng một đêm. Hải quân Nhật Bản tiếp tục chiến đấu gan lì, và phải mất nhiều tháng trước khi Hoa Kỳ xoay trở từ trạng thái cân bằng hải lực sang trạng thái chiếm ưu thế. Cho dù không có sự khác biệt to lớn về lực lượng giữa hai bên tham chiến, đặt giả thiết là Hoa Kỳ đã thua trận chiến này, Nhật Bản cuối cùng vẫn sẽ thua Hoa Kỳ trên mặt trận Thái Bình Dương. Như thế, Midway không phải là trận chiến "quyết định" trong cùng ý nghĩa như trận Salamis hay trận Trafalgar. Tuy nhiên, chiến thắng ở Midway đưa Hoa Kỳ vào thế chủ động, gây thiệt hại nặng cho lực lượng Nhật khiến nó không thể hồi phục lại được và rút ngắn chiến cuộc tại Thái Bình Dương.
Chỉ hai tháng sau trận Midway, nhận ra sự bất ổn của phía Nhật, người Mỹ tấn công Guadalcanal; nếu không có thắng lợi ở Midway, người Mỹ không thể sớm tấn công như thế hoặc có thì cũng không thành công như đã đạt được ở Guadalcanal. Bảo đảm được tuyến hậu cần đi tới Úc và Ấn Độ Dương trong thời gian đó, cùng với việc tiêu hao lực lượng Nhật trong chiến dịch Guadalcanal, đã có những ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình chiến tranh. Tác động của việc này đến rút ngắn thời gian cuộc chiến thì vẫn còn bàn cãi, mặc dù lực lượng tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương đã khiến nền kinh tế Nhật Bản đi đến chỗ đình trệ vào tháng 1 năm 1945.
Trong khi trận Midway chưa chứng tỏ là không quân của Hải quân Nhật hoàn toàn bị tiêu diệt, nó lại là một đòn chí tử. Chương trình huấn luyện phi công của Nhật trước chiến tranh đào tạo ra các phi công với phẩm chất rất cao nhưng với số lượng ít. Nhóm nhỏ các phi công tài giỏi này là những chiến binh dày dạn trong chiến đấu. Tại Midway, Nhật Bản mất rất nhiều các phi công thiện chiến chỉ trong một ngày mà chương trình huấn luyện đào tạo trong một năm. Trong các trận chiến sau này quanh Guadalcanal vào cuối năm 1942 như trận Đông Solomonstrận Santa Cruz không quân của Hải quân Nhật không gượng dậy được bởi bị tiêu hao cho dù tổn thất của hai bên là khá tương đương. Các nhà hoạch định chiến lược của Nhật đã sai lầm trong dự đoán một cuộc chiến tranh lâu dài và không ngừng nghỉ. Kết quả là nước Nhật đã không bổ sung, bù đắp đủ cho những thiệt hại về tàu bè, phi công và thủy thủ. Mặc dù chương trình huấn luyện của Nhật trong chiến tranh có đào tạo phi công nhưng họ không được huấn luyện thích đáng khi chiến tranh tiếp diễn, và sự mất cân đối này trở nên tồi tệ hơn khi các máy bay chiến đấu thế hệ sau của Hoa Kỳ tỏ rõ ưu việt trước máy bay của Nhật Bản. Khoảng giữa năm 1943, những thiệt hại ở Midway và quần đảo Solomons đã làm kiệt quệ lực lượng không quân của hạm đội Nhật. Tệ hơn nữa, thói quen của quân đội Nhật là vẫn giữ các phi công điêu luyện ở lại chiến đấu đã làm suy yếu năng lực huấn luyện đội ngũ phi công mới. Trái lại, Hải quân Mỹ điều các phi công xuất sắc của họ trở về các căn cứ huấn luyện để truyền thụ, nhân rộng các kỹ năng đánh bại người Nhật
Sự hủy hoại 4 hàng không mẫu hạm của hạm đội Nhật Bản là một tổn thất không thể thay thế được. Nước Nhật đã không thể bổ sung đủ 4 chiếc khác mãi cho đến đầu năm 1945[12]. Trong khoảng thời gian đó, Hải quân Hoa Kỳ đã cho vào phục vụ hàng chục mẫu hạm hạng nặng và hạng nhẹ cùng vô số mẫu hạm hộ tống. Như vậy, Midway đã gây thiệt hại lâu dài cho lực lượng tấn công của Hải quân Nhật Bản, và rút ngắn khoảng thời gian mà lực lượng hải quân Nhật có thể chiến đấu trong những điều kiện có lợi. Việc mất năng lực chiến đấu ở giai đoạn sống còn này là một tai họa cho Đế quốc Nhật Bản. Họ đã có thể tiến hành những chiến dịch quy mô hơn và có lẽ là thành công hơn, để chống lại những chiến dịch phản công của Hoa Kỳ.
Tàu tuần dương Mikuma ngay trước khi chìm.
Tầm quan trọng của trận Midway cũng có thể được đánh giá bằng cách nghiên cứu ngược lại thực tế rằng các mẫu hạm của Hoa Kỳ bị tiêu diệt, dù đây chỉ là chuyện giả thiết. Bằng phân tích thì thấy rõ là sự bại trận của Hoa Kỳ tại Midway đã có thể kéo dài cuộc chiến tại Thái Bình Dương. Nó làm chậm sự khởi đầu của chiến cuộc hao mòn toàn diện mà cần thiết như cách duy nhất để đem cường quốc công nghiệp hóa hiện đại như Nhật Bản phải chịu quỳ dưới chân mình[cần dẫn nguồn]. Với chỉ 2 hàng không mẫu hạm còn khả năng chiến đấu (chiếc SaratogaWasp), nước Mỹ buộc phải ở thế phòng ngự chiến lược cho đến cuối năm 1942. Người Nhật có thể tiếp tục tiến đến New Hebrides (sát Úc) và cắt đứt liên hệ của Hoa Kỳ với Úc, đồng thời hoàn tất việc xâm chiếm New Guinea. Hơn thế nữa, một thất bại nặng nề ở Midway có thể dẫn đến việc cách chức những tướng lĩnh quan trọng như Nimitz và Spruance. Các chiến dịch tấn công trên Thái Bình Dương sẽ bị trì hoãn đến cuối năm 1943, khi các mẫu hạm thế hệ EssexIndependence có mặt với số lượng thích đáng.
Cũng giả thiết như thế, nếu Hoa Kỳ thua trận, việc phân phối lại những nguồn nhân lực và vật chất cho hải và không quân Hoa Kỳ có thể bị trì hoãn trong các cuộc hành quân đổ bộ tại Bắc Phi, Địa Trung Hải, và có thể là Normandy. Một cuộc chiến lâu hơn ở Thái Bình Dương cũng nêu lên câu hỏi về vai trò của Liên Xô trong việc buộc Nhật đầu hàng, và không biết là sau đó Liên Xô có hiện diện trên một nửa nước Nhật, giống như nước Đức sau chiến tranh.

Khám phá

Vào ngày 19/5/1998, Robert Ballard và một nhóm các nhà khoa học và cựu binh Midway (có cả sự tham gia của một số người Nhật) đã thành công trong việc định vị và chụp ảnh Yorktown. Chiếc tàu trông còn khá nguyên vẹn; còn nhiều thiết bị ban đầu, và thậm chí lớp sơn nguyên thủy của tàu vẫn còn nhìn rõ.

Các bộ phim

Trận Midway đã được dựng thành nhiều bộ phim. Bộ phim đầu tiên nói về cuộc chiến được đạo diễn lừng danh là John Ford quay. Ông đã ghi lại được thước phim màu sống động của trận chiến thật, mà được giải thưởng phim tư liệu có tên là Battle of Midway năm 1942. Nổi tiếng nhất có thể là bộ phim "Midway" (Mỹ, 1976), do Jack Smight đạo diển, mô tả các sự kiện xảy ra khá trung thực (ngoại trừ các cảnh lãng mạn vớ vẩn, sự hiện diện của các máy bay F4U Corsair mà lúc đó chưa từng hoạt động trong trận chiến đó và việc thăng chức Rochefort lên sĩ quan Tình báo Hạm đội).

Tham khảo

Ghi chú

  1. ^ Trên thực tế, tàu ngầm của Mỹ có thể gây nguy hiểm cho những nỗ lực của Nhật Bản. Blair, Silent Victory passim; Parillo, Japanese Merchant Marine.
  2. ^ Apparently, because of poor IJN ASW training and doctrine, the Japanese ignored the presence of American submarines off their coast, beginning with Joe Grenfell's Gudgeon which arrived some three weeks after Pearl Harbor. Blair, Silent Victory, p.110; Parillo, Japanese Merchant Marine; Peattie & Evans, Kaigun.

Trích dẫn

  1. ^ a ă â Theodore Ropp, War in the Modern World, trang 369
  2. ^ Parshall & Tully, trang. 90-91
  3. ^ “The Battle of Midway”. Office of Naval Intelligence.
  4. ^ Parshall and Tully, Shattered Sword, trang.524.
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ParTulcas
  6. ^ Prange, Miracle at Midway, các trang.13–15, 21–23; Willmott, The Barrier and the Javelin, các trang. 39–49; Parshall and Tully, Shattered Sword, các trang. 22–38.
  7. ^ Parshall and Tully, Shattered Sword, trang. 33; Prange, Miracle at Midway, trang. 23
  8. ^ Prange, Miracle at Midway, các trang. 22–26.
  9. ^ Parshall & Tully, Shattered Sword, các trang. 31–32.
  10. ^ Willmott, Barrier and the Javelin, các trang. 66–67; Parshall and Tully, Shattered Sword, các trang. 33–34.
  11. ^ "Mikuma" (Tuần dương hạm, 1934-1942).
  12. ^ Mẫu hạm Shinano hạ thủy ngày 19 tháng 11 năm 1944 là chiếc thứ tư của Nhật hoàn thành trong Thế chiến sau các mẫu hạm Taihō, UnryūAmagi.

Thư mục

  • Barde, Robert E. "Midway: Tarnished Victory", Military Affairs, v. 47, no. 4 (December 1983)
  • Bergerud, Eric M. (2000). Fire in the Sky: The Air War in the South Pacific. Boulder, Colorado: Westview Press. tr. 752. ISBN 978-0-8133-2985-7.
  • Bicheno, Hugh. Midway. London: Orion Publishing Group, 2001 (reprints Cassell 2001 edition)
  • Blair Jr., Clay (1975). Silent Victory: The U.S. Submarine War Against Japan. Philadelphia: J.B. Lippincott. tr. 1072.
  • Buell, Thomas B. (1987). The Quiet Warrior: a Biography of Admiral Raymond A. Spruance. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. tr. 518. ISBN 0-87021-562-0.
  • Cressman, Robert J.; et.al. (1990). "A Glorious page in our history", Adm. Chester Nimitz, 1942: the Battle of Midway, 4–6 June 1942. Missoula, Mont.: Pictorial Histories Pub. Co. ISBN 0-929521-40-4.
  • Dull, Paul S. (1978). A Battle History of the Imperial Japanese Navy (1941–1945). US Naval Institute Press.
  • Evans, David; Peattie, Mark R. (1997). Kaigun: Strategy, Tactics, and Technology in the Imperial Japanese Navy, 1887–1941. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-192-7.
  • Fuchida, Mitsuo; Masatake Okumiya (1955). Midway: The Battle that Doomed Japan, the Japanese Navy's Story. Annapolis, Maryland: United States Naval Institute Press. ISBN 0-87021-372-5. A Japanese account; numerous assertions in this work have been challenged by more recent sources.
  • Stephan, John J. (1984). Hawaii Under the Rising Sun: Japan's Plans for Conquest after Pearl Harbor. Honolulu: University of Hawaii Press. ISBN 0-8248-2550-0.
  • Bix, Herbert P. (2001). Hirohito and the Making of Modern Japan. New York: Perennial / HarperCollinsPublishers. ISBN 0-06-019314-X.
  • Holmes, W. (1979). Double-Edged Secrets: U.S. Naval Intelligence Operations in the Pacific During World War II (Bluejacket Books). Naval Institute Press. ISBN 1-55750-324-9.
  • Hakim, Joy (1995). A History of Us: War, Peace and all that Jazz. New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-509514-6.
  • Layton, Rear Admiral Edwin T. (1985). And I Was There: Pearl Harbor and Midway, Konecky and Konecky.
  • Lord, Walter (1967). Incredible Victory. Burford. ISBN 1-58080-059-9. Focuses primarily on the human experience of the battle.
  • Lundstrom, John B. (2005 (new edition)). The First Team: Pacific Naval Air Combat from Pearl Harbor to Midway. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-471-X.
  • Parillo, Mark. Japanese Merchant Marine in World War II. Annapolis, Maryland: United States Naval Institute Press, 1993.
  • Parshall, Jonathan; Tully, Anthony (2005). Shattered Sword: The Untold Story of the Battle of Midway. Dulles, Virginia: Potomac Books. ISBN 1-57488-923-0. Uses recently translated Japanese sources.
  • Peattie, Mark R.. Sunburst: The Rise of Japanese Naval Air Power, 1909–1941. US Naval Institute Press. tr. 392. ISBN 1-59114-664-X.
  • Potter, E. B. and Nimitz, Chester W. (1960). Sea Power. Prentice-Hall.
  • Prange, Gordon W.; Goldstein, Donald M., and Dillon, Katherine V. (1982). Miracle at Midway. McGraw-Hill. ISBN 0-07-050672-8. The standard academic history of the battle based on massive research into American and Japanese sources.
  • Scrivner, Charles L. (1987). TBM/TBF Avenger in Action. Carrollton, Texas: Squadron/Signal Publications, Inc. 1987. ISBN 0-89747-197-0 Page 8: Photos of VT-8 TBF-1s, including sole survivor of VT-8's attack against Japanese carrier fleet.
  • Smith, Michael (2000). The Emperor's Codes: Bletchley Park and the breaking of Japan's secret ciphers, Bantam Press, ISBN 0-593-04642-0. Chapter 11: "Midway: The battle that turned the tide"
  • Willmott, H.P. (1983). The Barrier and the Javelin: Japanese and Allied Strategies, February to June 1942. United States Naval Institute Press. tr. 616. ISBN 1-59114-949-5. Broad-scale history of the naval war with detailed accounts of order of battle and dispositions.

Đọc thêm

  • Lord Walter. Incredible Victory. New York: Harper & Row, 1967. ISBN 1-58080-059-9 (1998 Burford paperback edition). While treating many questions of historical fact, Lord (as in his other narrative-history works) focuses primarily on the human experience of the battle as recounted by survivors.
  • Prange Gordon W., Donald M. Goldstein, Katherine V. Dillon. Miracle at Midway. New York: McGraw-Hill, 1982. ISBN 0-07-050672-8. The comprehensive gold-standard academic history of the battle.
  • Ballard, Robert D., and Rick Archbold. Return to Midway: The quest to find Yorktown and the other lost ships from the pivotal battle of the Pacific War. Toronto: Madison Press Books. ISBN 0-7922-7500-4.
  • Hanson Victor D. Carnage and Culture: Landmark Battles in the Rise of Western Power. New York: Doubleday. ISBN 0-385-50052-1.
  • Kahn David. The Codebreakers, The Comprehensive History of Secret Communication from Ancient Times to the Internet. New York: Scribner. ISBN 0-684-83130-9. Significant section on Midway.
  • Cook Theodore F. Jr. "Our Midway disaster", trong Robert Cowley (chủ biên), What if? London: Macmillan, 2000. ISBN 0-333-75183-3.
  • Fuchida Mitsuo và Masatake Okumiya. Midway: The Battle that Doomed Japan, the Japanese Navy's Story. Annapolis, MD: Nhà in Viện Hải quân Hoa Kỳ, 1955. ISBN 0-87021-372-5. One of the earliest accounts of the battle from the Japanese side, used as a source by many Western histories. More recent historical research has shown, however, that Fuchida's account of the battle and of the tactical errors committed by the Japanese is colored by hindsight and is sometimes inaccurate and self-serving.
  • Wilmott H.P. The Barrier and the Javelin. Annapolis, MD: Nhà in Viện Hải quân Hoa Kỳ, 1983.
  • Parshall, Jonathan, and Anthony Tully. Shattered Sword: The Untold Story of the Battle of Midway. Dulles, VA: Potomac Books, 2005. ISBN 1-57488-923-0. Working primarily from the Japanese point of view, incorporating recent historical discoveries which have not previously appeared outside Japan, and relying more heavily on documentation (fleet action records and the like) than on individual accounts, this book challenges some of the assumptions prevalent in most Western histories of the battle.
  • Theodore Ropp, War in the Modern World, JHU Press, 31-05-2000. ISBN 0-8018-6445-3.

Liên kết ngoài





Thể loại: Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con