Friday, December 26, 2014

Chào ngày mới 27 tháng 12

Portrait of the Yongzheng Emperor in Court Dress.jpg
CNM365. Chào ngày mới 27 tháng 12 . Wikipedia Ngày này năm xưa. Tiết Hiến pháp XHCN tại Triều Tiên. Năm 1722Ái Tân Giác La Dận Chân chính thức lên ngôi hoàng đế triều Thanh, tức Ung Chính Đế (hình). Năm 1845 – Trong một bài báo của mình, John L. O'Sullivan lập luận rằng Hoa Kỳ có quyền yêu sách toàn bộ Xứ Oregon "dựa trên quyền vận mệnh hiển nhiên của chúng ta". Năm 1949Cách mạng Dân tộc Indonesia: Hà Lan chính thức chuyển giao chủ quyền Đông Ấn Hà Lan cho Hợp chúng quốc Indonesia. Năm 1979Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan: Quân đội Liên Xô tiến vào cung điện Tajbeg ở bên ngoài thủ đô Kabul, sát hại Chủ tịch Afghanistan Hafizullah Amin.

Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vị trí Triều Tiên
Cảnh Phúc Cung
Triều Tiên (theo cách sử dụng tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên: 조선, Chosǒn) hay Hàn Quốc (theo cách sử dụng tại Đại Hàn Dân quốc: 한국, Hanguk) hay Korea (theo cách sử dụng quốc tế và có gốc từ "Cao Ly") là một nền văn hóa và khu vực địa lý nằm tại bán đảo Triều Tiên tại Đông Á. Khu vực này giáp liền với Trung Quốc về hướng tây bắc và Nga về hướng đông bắc, với Nhật Bản ở đông nam qua eo biển Triều Tiên. Từ "Triều Tiên" có nghĩa là "(Xứ) Buổi sáng tươi đẹp".
Hiện nay Triều Tiên được chia ra hai chính thể: Đại Hàn Dân quốc ở phía nam là một nước dân chủ tự do theo kiểu phương TâyCộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc là một nước chuyên chính cộng sản (dân chủ nhân dân).
Là một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới, Triều Tiên có lịch sử được ghi chép khoảng 3000 năm. Trong thế kỷ thứ 4, họ đã bắt đầu dùng hệ thống Hán tự và chịu ảnh hưởng của Phật giáo, và nhiều khía cạnh văn hóa khác có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội này. Sau này Triều Tiên đã đem những bước tiến này cũng như những kỹ thuật họ tự khám phá vào Nhật Bản.
Sau khi thống nhất Tam Quốc vào năm 676, Triều Tiên đã được quản lý bởi một nhà nước và giữ được độc lập về chính trị cũng như văn hóa cho đến khi bị Mông Cổ xâm lược trong thế kỷ 13. Trong nhiều thế kỷ, Triều Tiên giữ một mối liên hệ gần gũi với Trung Quốc, cường quốc trong khu vực này, trong khi đồng thời giữ bản chất của mình.
Nền văn hóa Triều Tiên đã đem lại máy in đầu tiên, đồng hồ tự gõ, máy đo lượng nước mưa và tàu chiến bọc sắt. Văn hóa Triều Tiên đến được tột đỉnh trong thế kỷ 15, dưới thời Thế Tông Đại Vương (세종대왕). Sau đó Triều Tiên lao vào cảnh đình trệ vào phần sau của nhà Triều Tiên (Joseon), và đến cuối thế kỷ 19 đã bị các đế quốc dòm ngó.
Năm 1910, Triều Tiên bị Nhật Bản đóng chiếm và trở thành thuộc địa cho đến cuối Đệ nhị thế chiến. Hoa KỳLiên Xô chiếm giữ nước này và lập ra những chính phủ trung thành với tư tưởng của họ, tạo ra tình huống ngày nay.

Tên gọi Triều Tiên

Bài chi tiết: Tên gọi Triều Tiên
Tranh tường của triều Cao Ly
Tên gọi "Korea" xuất phát từ thời kỳ Cao Ly trong lịch sử Triều Tiên, cũng xuất phát từ nước Cao Cấu Ly. Nay tên gọi "Korea" được quốc tế sử dụng để chỉ đến cả hai nước.

Lịch sử

Buryeongsa
Bài chi tiết: Lịch sử Triều Tiên
Đã có bằng chứng khảo cổ cho thấy loài người đã sống trên bán đảo Triều Tiên khoảng 700.000 năm trước, trong thời kỳ Hạ Đồ đá cũ. Đồ gốm Triều Tiên cổ xưa nhất có từ khoảng năm 7000 TCN, và thời kỳ Đồ đá mới bắt đầu khoảng năm 6000 TCN. Thời kỳ đồ gốm Trất Văn kéo dài từ 3500 TCN đến 2000 TCN.

Cổ Triều Tiên

Thạch Quật Am, thời kỳ Tân La Thống nhất
Theo sự tích Đàn Quân, Triều Tiên được thành lập năm 2333 TCN. Quốc gia này được biết đến với tên Triều Tiên, thường được gọi là Cổ Triều Tiên để phân biệt với nhà Triều Tiên. Các nhà khảo cổ đã khai quật được các đồ tạo tác của Cổ Triều Tiên và các thành cổ khắp Triều Tiên và miền nam Mãn Châu.
Các tài liệu khảo cổ và sử sách cho biết nó có thể được thành lập từ một liên minh của các thành thành một nhà nước tập trung vào giữa thế kỷ 7 và 4 TCN, khi nó tự xưng là một vương triều và tuyên chiến với nhà Chu. Năm 108 TCN, nhà Hán tại Trung Quốc đã đánh bại Cổ Triều Tiên và lập ra 4 quận tại miền bắc Triều Tiên (kể cả một quận gần Bình Nhưỡng) và Mãn Châu chủ yếu để làm tiền đồn buôn bán. Đến 75 TCN, ba trong bốn quận đã bị thất thủ, nhưng còn một quận nằm dưới sự cai trị của nhà Hán cho tới năm 313.
Một quốc gia với tên gọi Thìn Quốc tồn tại ở miền nam Triều Tiên trước khi Cổ Triều Tiên bị sụp đổ. Tuy rất ít được biết về tổ chức chính trị của quốc gia này, các tạo tác bằng đồng thiếc từ thế kỷ 3 và 2 TCN đã được khai quật trong khu vực. Tam Hàn, ba liên minh có nguồn gốc từ Thìn, thay nước Thìn. Tại miền bắc, quốc gia Cao Câu Ly đã thống nhất Phù Dư, Ốc TrởĐông Uế trong lãnh thổ Cổ Triều Tiên trước kia, và tiêu diệt quận của người Hán vào năm 313.

Tam Quốc

Ba nước Cao Câu Ly, Tân LaBách Tế (hai nước sau phát sinh từ Tam Hàn) giành quyền với nhau và thâu tính các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực. Tổ chức nhà nước tinh vi được phát triển dưới dạng Khổng giáoPhật giáo.
Cao Cấu Ly là nước mạnh nhất, nhưng luôn giao chiến với nhà Tùynhà Đường tại Trung Quốc. Trong thế kỷ thứ 7, Tùy Dạng Đế đã đem 100 vạn quân qua xâm lấn Cao Câu Ly. Tuy nhiên, người Triều Tiên, dưới sự chỉ huy của tướng Eulji Mundeok (Ất Chi Văn Đức) đã đánh bại quân Hán. Việc này đã dẫn đến sự sụp đổ của nhà Tùy. Nhà Đường cũng tiếp tục giao chiến với Cao Câu Ly.
Tuy là nước lạc hậu nhất trong lĩnh vực văn hóa trong Tam Quốc, Tân La có một truyền thống quân sự xung quanh các chiến sĩ được gọi là hoa lang (hwarang). Thoạt tiên Tân La sát nhập khối Già Da (Gaya), rồi liên minh với nhà Đường để thâu tính Bách Tế và, sau này, Cao Câu Ly. Việc này tạo ra nhà nước thống nhất đầu tiên tại Triều Tiên, thường được gọi là Tân La Thống nhất.

Bột Hải và Tân La Thống nhất

Tân La cuối cùng đuổi được quân nhà Đường ra khỏi lãnh thổ Cao Câu Ly. Vì lẽ đó, đến thế kỷ thứ 8, Tân La đã quản lý hầu hết bán đảo Triều Tiên và vì thế được gọi là Tân La Thống nhất. Đến cuối thế kỷ thứ 9, Tân La Thống nhất sụp đổ và thời Hậu Tam Quốc bắt đầu.
Sau khi Cao Cấu Ly sụp đổ, tướng Đại Tộ Vinh (Dae Joyeong) lãnh đạo quân dân đến khu vực Cát Lâm của Mãn Châu. Vị tướng này thành lập nước Bột Hải như nhà nước tiếp kế Cao Cấu Ly và giành lại được khu vực miền bắc bị mất. Cuối cùng, lãnh thổ Bội Hải đã trải dài từ Tùng Hoa GiangHắc Long Giang ở miền bắc Mãn Châu đến các tỉnh miền bắc Triều Tiên. Trong thế kỷ thứ 10, Bột Hải đã bị người Khiết Đan chiếm đóng.

Triều đại Cao Ly (918-1392)

Chùa tại Triều Tiên
Vương triều Cao Ly thay thế Tân La Thống nhất. Nhiều vương thân từ nước Bột Hải cũng tham gia vào quốc gia mới này, có lãnh thổ rộng hơn bán đảo Triều Tiên (xem Gian Đảo, nay dưới sự quản lý của Trung Quốc). Trong thời kỳ này, luật pháp đã được soạn ra, một hệ thống quan lại cũng ra mắt vào thời điểm này, và Phật giáo trở thành thịnh hành tại Triều Tiên.
Trong thế kỷ thứ 1011, Triều Tiên tiếp tục bị người Nữ ChânKhiết Đan tấn công tại biên giới phía bắc. Xung đột giữa các quan lại văn và võ ngày càng tăng khi các quan võ bị hạ thấp địa vị và được trả tiền ít hơn. Việc này khiến nhiều tướng cầm quân kháng cự và một số khác di cư tại nơi khác.
Trong năm 1238, quân Mông Cổ xâm chiếm Triều Tiên. Sau gần 30 năm kháng chiến, Triều Tiên tiêu tàn và hai nước ký hiệp ước có lợi cho Mông Cổ. Dưới sự điều khiển của Mông Cổ, Cao Ly tham gia vào hai cuộc xâm chiếm Nhật Bản không thành. Trong thập niên 1340, Đế quốc Mông Cổ bị nhanh chóng suy sụp vì có xung đột nội bộ. Lúc này Triều Tiên có thể cải cách chính trị mà không bị Mông Cổ quấy rối. Vào thời điểm này, tướng Lý Thành Quế (Yi Seong-gye) lập danh cho mình bằng cách đánh đuổi hải tặc Nhật Bản, được gọi là Uy khấu (giặc lùn), đã cướp bóc từ các tàu lái buôn của Trung Quốc và Triều Tiên và tàn phá bờ biển Triều Tiên.

Triều đại Triều Tiên (1392-1910)

Năm 1392, Ly Thành Quế thành lập nhà Triều Tiên (Joseon), dời thủ đô đến Hán Thành (Hanseong, nay là Seoul). Trong 200 năm đầu của triều đại này, lãnh thổ miền Bắc được thêm vào, diện tích đất trồng trọt được tăng gấp hai, khoa học và kỹ thuật phát triển, chữ viết mới Hangul phù hợp với tiếng Triều Tiên được sáng chế, và nhiều sách vở về giáo dục cơ bản được xuất bản, trong khi hiến pháp và luật pháp được hoàn thành.
Trong cuối thập niên 1590, Nhật Bản hai lần xâm lăng Triều Tiên nhưng không thành, gây ra nhiều sự tàn phá. Những người xâm lược đốt hết những gì họ không đem về Nhật Bản được và nhiều tạo tác văn hóa bị mất tích. Với sự giúp đỡ của quân Minh và tàu chiến bọc sắc của đô đốc Lý Thuấn Thần (Yi Sunsin), quân Triều Tiên đẩy lùi được quân Nhật.
Tuy thế, sau sự xâm lăng của Nhật Bản, trong thập niên 16201630 nhà Triều Tiên không thể kháng cự quân Mãn Châu. Cuối cùng nó phải công nhận nhà Thanh là triều đại tại Trung Quốc. Sau đó Triều Tiên được hai thế kỷ hoà bình. Quốc gia này đã cách ly với thế giới bên ngoài vào thời điểm này và được gọi là "Vương triều ẩn dật".
Nhà Triều Tiên được cho là triều đại cai trị lâu dài nhất tại Đông Á.

Nhật Bản chiếm đóng

Bắt đầu từ đầu thập niên 1870, Nhật Bản bắt đầu cưỡng bức Triều Tiên ra khỏi khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc và vào khu vực của Nhật. Năm 1895, Hoàng hậu Minh Thành (Myeongseong) bị quân Nhật dưới sự chỉ đạo của Miura Goro ám sát. Sau Chiến tranh Trung-NhậtChiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản giành được ưu thế tại Triều Tiên. Năm 1910, Nhật Bản cưỡng bức Triều Tiên ký Điều ước Sát nhập Hàn-Nhật.
Sự cai trị của Nhật rất tàn bạo và nhiều người Triều Tiên đã kháng cự, cuối cùng dẫn đến phong trào đòi độc lập. Phong trào này đã bị Nhật đàn áp dã man và hàng ngàn người đã bị Nhật giết hại.
Trong Đệ nhị thế chiến, nhiều người Triều Tiên đã bị cưỡng bức hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Nhật. Hàng vạn người đàn ông đã bị bắt đi lính trong quân đội Nhật, trong khi đến 200.000 phụ nữ đã bị cưỡng bức lao động hay làm nô lệ tình dục, được gọi là "úy an phụ" (慰安婦, 위안부). Khoảng 60.000 người Triều Tiên làm việc trong hầm mỏ đã bị thiệt mạng giữa 1939 và 1945, và vô số khác bị dùng làm thí nghiệm cho Đơn vị 731.
Thái độ bài Nhật vẫn còn mạnh mẽ tại Triều Tiên, đặc biệt là trong thế hệ già, vì họ tin rằng Nhật Bản không tỏ ra hối hận cho những điều sai trái này.

Đất nước chia cắt

Sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945, chính phủ đế quốc Nhật được thay thế bởi sự hiện diện của Hoa KỳLiên Xô. Liên Xô ủng hộ chính quyền miền bắc, đồng thời cũng có quan hệ với Trung Quốc; Hoa Kỳ có quan hệ gần gũi với chính quyền ở miền nam, giúp đỡ những người có kinh nghiệm dưới thời Nhật lên cầm quyền và đàn áp những người cộng sản. Người Triều Tiên bị chia rẽ: những người tay sai Nhật thiếu sự tín nhiệm của người dân, nhưng họ có nhiều kinh nghiệm và giữ quyền. Chủ nghĩa cộng sản ngày càng thâm nhập vào Triều Tiên và những người Triều Tiên đã từng chiến đấu chống Nhật cùng với Trung Quốc được nhiều quyền lực và danh tiếng.

Chiến tranh Triều Tiên và hy vọng thống nhất

Bài chi tiết: Chiến tranh Triều Tiên
Theo một số nhà khoa học chính trị, Chiến tranh Triều Tiên là kết quả trực tiếp của chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã ủng hộ những người theo chủ nghĩa chống cộng, hậu thuẫn quân đội Đại Hàn Dân Quốc, và ảnh hưởng Liên Hiệp Quốc để ủng hộ quân đội này. Trong năm 1945, sau Đệ nhị thế chiến, Liên Hiệp Quốc dự định tạo ra một chính quyền ủy nhiệm, Hoa Kỳ điều khiển bán đảo này phía nam vĩ tuyến 38 và Liên Xô điều khiển phía bắc. Tình thế chính trị của Chiến tranh Lạnh đã dẫn đến sự hình thành của hai chính phủ.
Tuy nhiên, sau khi Hoa Kỳ rời khỏi Hàn Quốc và chỉ để lại một số cố vấn, Bắc Triều Tiên tấn công vào miền nam. Chiến tranh bắt đầu vào tháng 6 năm 1950 và diễn tiến đến năm 1953. Hoa Kỳ hậu thuẫn miền nam và Trung Quốc hậu thuẫn miền bắc. Hàng triệu người Triều Tiên bị thiệt mạng. Sau ba năm dữ dội, chiến tranh kết thúc với một hiệp ước đình chiến, và ranh giới của hai nước trở lại gần như cũ. Hai nước vẫn chưa ký hiệp ước hòa bình. Cả hai bên đều tuyên bố thống nhất là mục đích cuối của họ.
Từ thập niên 1990, với chính quyền ở Hàn Quốc ngày càng tự do hơn, cũng như sau cái chết của lãnh tụ cộng sản Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành, hai bên đã có những bước tiến đến cộng tác, trong các cuộc thi thể thao quốc tế, việc đoàn tụ thân nhân, kinh tế và du lịch.
Gần đây, trong nỗ lực hòa giải, hai quốc gia đã chọn một Cờ Thống nhất. Trong khi lá cờ này tượng trưng cho Triều Tiên trong các cuộc thi thể thao quốc tế, nó không phải là quốc kỳ của Hàn Quốc hay CHDCND Triều Tiên. Cả hai vẫn dùng quốc kỳ mà họ dùng từ khi nhà nước thành lập năm 1948.

Địa lý

Bài chi tiết: Bán đảo Triều Tiên
Triều Tiên nằm trên bán đảo Triều Tiên tại đông bắc châu Á. Nó có ranh giới với hai quốc gia và ba biển. Ở phía tây bắc, Áp Lục Giang chia Triều Tiên ra khỏi Trung Quốc và về hướng bắc, Đồ Môn Giang tách Triều Tiên từ Nga. Hoàng Hải nằm tại hướng tây, biển Hoa Đông ở phía nam, và Biển Nhật Bản ở hướng đông. Tổng diện tích của Triều tiên là 120,410 km2. Các đảo đáng kể gồm có Jeju, Ulleungdo.
Phần phía nam và phía tây của vùng đất lục địa Triều Tiên là những đồng bằng phát triển, trong khi phần phía tây và phía bắc có nhiều đồi núi. Núi cao nhất Triều Tiên là núi Bạch Đầu (Baekdu) (2744 m, Trung Quốc gọi là "núi Trường Bạch"). Biên giới với Trung Quốc chạy qua dãy núi này. Phần kéo dài về phía nam của núi Bạch Đầu là một cao nguyên gọi là cao nguyên Kaema. Cao nguyên này chủ yếu được nâng lên vào thời Đại Tân Sinh và một phần bị bao phủ bởi tro núi lửa. Về phía nam của Gaema Gowon, nhiều dãy núi kế tiếp toạ lạc dọc theo bờ biển phía đông của bán đảo Triều Tiên. Những dãy núi này được đặt tên là Baekdudaegan (Bạch Đầu đại cán). Một số núi quan trọng bao gồm Sobaeksan (2.184 m), Baeksan (1.724 m), Kim Cương sơn (1.638 m), Seoraksan (1.708 m), Taebaeksan (1.567 m) và Jirisan (1.915 m). Có một số núi thấp hơn, những dãy núi thứ hai có hướng gần như vuông góc với hướng núi Baekdudaegan. Chúng phát triển dọc theo đường nối lục địa thời Đại Trung Sinh và hướng của chúng là tây bắc và tây tây bắc.
Tương phản với những dãy núi cổ trên lục địa, một số đảo quan trọng của Triều Tiên được hình thành bởi các hoạt động núi lửa trong thời Đại Tân Sinh gần đây. Đảo Jeju, tọa lạc xa về phía nam của bán đảo Triều Tiên, là một đảo núi lửa lớn với núi chính là Hallasan (1950 m). Ulleungdo là đảo núi lửa trên Biển Nhật Bản, mà thành phần có nhiều felsic hơn Jeju. Những đảo núi lửa có xu hướng trẻ hơn đối với các núi di chuyển về phía tây.
Bởi vì những vùng núi có hướng ngả về phần đông của bán đảo, những con sông lớn có xu hướng chảy về phía tây. Hai trường hợp ngoại lệ là sông Nakdong và sông Seomjin chảy về phía nam. Các con sông quan trọng chảy về phía tây bao gồm sông Áp Lục, sông Chongchon, sông Đại Đồng, sông Hán, sông Geum và sông Yeongsan. Những con sông này làm ngập các đồng bằng và cung cấp một môi trường lý tưởng cho việc trồng lúa.
Phía nam và tây nam bờ biển của bán đảo Triều Tiên là đường bờ biển Lias khá phát triển. Nó được biết đến như là Dadohae trong tiếng Triều Tiên. Đường bờ biển phức tạp tạo ra những biển ôn hòa và môi trường biển tĩnh lặng cho phép tàu thuyền đi lại an toàn, đánh cá và trồng rong biển. Thêm vào đường bờ biển phức tạp, bờ phía tây của bán đảo Triều Tiên có cường độ thủy triều rất cao (tại Incheon, khoảng giữa bờ biển phía tây, nó cao đến 9 m). Những tấm chắn thủy triều lớn đang được phát triển trên bờ biển phía nam và tây của bán đảo Triều Tiên.

Nhân khẩu

Xem: Nhân khẩu của Hàn Quốc, Nhân khẩu của Bắc Triều Tiên
Triều Tiên được định cư bởi một sắc tộc thuần nhất là người Triều Tiên. Họ sử dụng một ngôn ngữ riêng là tiếng Triều Tiên và hệ thống chữ viết đặc thù hangul.
Sắc tộc thiểu số sinh sống trên bán đảo Triều Tiên có thể kể tới người Hoa (khoảng gần 20.000) ([2]) chủ yếu ở Hàn Quốc. Ngoài ra có một vài nhóm cộng đồng người gốc Hoa và gốc Nhật được cho là còn định cư ở phía bắc Triều Tiên [3]).
Lực lượng lao động nước ngoài ở Hàn Quốc chủ yếu bao gồm những lao động đến từ các nước như Bangladesh, Pakistan, PhilippinesViệt Nam, tổng cộng khoảng hơn nửa triệu. Cũng có thể kể tới hơn 10.000 người Mỹ, Úc, Anh, Canada, Ireland làm công tác giảng dạy tiếng Anh tại đây. Và khoảng 30.000 lính Mỹ đồn trú thường trực trên lãnh thổ Hàn Quốc.
Tổng dân số trên bán đảo Triều Tiên là khoảng 73 triệu người.

Ngôn ngữ

Bài chi tiết: Tiếng Triều Tiên
Xem thêm: Hangul, Chữ số Triều Tiên, Tên Triều Tiên

Văn hóa

Kiến trúc Phật giáo Triều Tiên
Bài chi tiết: Văn hóa Triều Tiên
Xem thêm: Kiến trúc Triều Tiên, Nghệ thuật Triều Tiên, Đồ gốm Triều Tiên
Trong các sách Trung Hoa cổ, Triều Tiên được nhắc đến như là "Cẩm tú giang sơn" (금수강산, ) và "Đông phương lễ nghi chi quốc" (동방예의지국, ). Trong suốt thế kỉ thứ 7 và thứ 8, buôn bán thương mại đường bộ và đường thủy nối Triều Tiên với Ả Rập Saudi. Xưa nhất là từ năm 845, những thương Ả Rập đề cập Triều Tiên với câu nói "Phía bên kia biển qua khỏi Trung Quốc là một đất nước nhiều đồi núi gọi là Silla (신라), giàu vàng. Các tín đồ Hồi giáo từng đặt chân đến đây đã bị đất nước này quyến rũ đến nỗi mà họ ở lại luôn nơi đó và không muốn rời đi."[1]
Theo sử sách Nhật Bản, các học giả Triều Tiên đã giới thiệu kiến thức và kỹ thuật của Trung Quốc, kể chữ Hán và những tác phẩm kinh điển, như Luận ngữ, vào Nhật Bản. Vào năm 554, một vương quốc Triều Tiên tên là Bách Tế gửi bác sỹ, chuyên gia dược thảo và làm lịch và thầy tu đến Nhật Bản; và năm 602, một sư Bách Tế tên là Kwalluk được gửi đi để đem các sách về thiên văn học, làm lịch, địa lýtôn giáo.
Những hội hè Triều Tiên thường phô diễn nhiều màu sắc sặc sỡ, được gán cho những ảnh hưởng từ Mông Cổ: đỏ sáng, vàng và xanh thường đánh dấu những nét truyền thống của Triều Tiên.[2] Những màu sắc tươi sáng đôi khi được thể hiện ở trang phục truyền thống hanbok.
Một đặc điểm của văn hóa Triều Tiên là hệ thống tính tuổi. Trẻ vừa sinh ra được xem là một tuổi, vì người Triều Tiên nghĩ thời kỳ mang thai như là một năm cuộc sống của trẻ, và tuổi tác sẽ tăng vào ngày đầu năm thay vì vào ngày kỉ niệm sinh nhật. Do đó, một người sinh ra ngay trước ngày đầu năm mới chỉ được vài ngày tuổi theo cách tính của phương Tây, nhưng là hai tuổi tại Triều Tiên. Theo đó, tuổi trên giấy tờ của ngườiTriều Tiên (ít nhất là giữa những người Triều Tiên cùng độ tuổi) sẽ nhiều hơn một hoặc hai năm so với tuổi theo cách tính của phương Tây. Tuy nhiên, cách tính của phương Tây đôi khi được áp dụng trong các khái niệm về tuổi hợp pháp, ví dụ, tuổi hợp pháp để mua rượu hoặc thuốc lá tại Triều Tiên là 19 được xác định theo cách tính của phương Tây là 18 tuổi.
Hàn Quốc có chung nền văn hoá truyền thống với CHDCND Triều Tiên. Tuy vậy, văn hoá hiện đại của hai quốc gia này có nhiều điểm lại khác biệt nhau.

Tôn giáo

Xem chi tiết: Khổng giáo Triều Tiên, Phật giáo Triều Tiên, Thiên chúa giáo ở Triều Tiên
Tác phẩm Phật tổ và tám vị bồ tát" trên tranh vải từ triều đại Goryeo vào thế kỷ 14.
Truyền thống Khổng giáo đã thống trị ý nghĩ của người Triều Tiên, cùng với các đóng góp của Phật giáo, Đạo giáoShaman giáo. Tuy nhiên, từ giữa thế kỉ 20 Cơ Đốc giáo đã cạnh tranh với Phật giáo để trở thành một ảnh hưởng tôn giáo chính ở Nam Triều Tiên, trong khi đó hoạt động tôn giáo bị đàn áp ở Bắc Triều Tiên.
Trong suốt chiều dày lịch sử và nền văn hóa Hàn Quốc, bất chấp bị chia rẽ, ảnh hưởng tín ngưỡng truyền thống của Saman giáo Hàn Quốc, Phật giáo Đại thừa, Khổng giáo và Đạo giáo vẫn là một tôn giáo cơ bản của người dân Hàn Quốc, đóng vai trò như một khía cạnh quan trọng trong nền văn hóa dân tộc. Tất cả các truyền thống này đã cùng tồn tại hòa bình từ hàng trăm năm trước đến nay bất kể xu hướng Âu hóa mạnh mẽ từ phương Tây của quá trình chuyển đổi truyền giáo Cơ đốc ở miền Nam[3][4][5] hay áp lực từ chính phủ Cộng sản Juche ở miền Bắc.[6][7]
Theo số liệu thống kê đến năm 2005 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 46% của công dân cho biết không theo tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc chiếm 29,2% dân số (trong số đó là đạo Tin Lành 18,3%, Công giáo 10,9%) và 22,8% là Phật tử.[8]
Tại Hàn Quốc có khoảng 45.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), bổ sung vào con số 100.000 lao động nước ngoài từ các quốc gia Hồi giáo.[9]

Giáo dục

Người Triều Tiên coi trọng học thức và ưu đãi giáo dục và học hỏi các kinh điển Trung Quốc; những đứa bé lưỡng ban được giáo dục kỹ bằng Hán tự. Cho đến thời hiện đại, người Triều Tiên đặt nặng vào địa vị cha truyền con nối. Cho đến thế kỉ thứ 10, "địa vị cốt lõi" của một người đàn ông (xác định bởi thứ bậc của cha và mẹ anh ta) định ra vị trí xã hội của anh ta và vị trí nào trong nhà nước anh ta được chỉ định. Từ thế kỉ thứ 10 đến hết thế kỉ 19, vị trí xã hội của cha và mẹ của anh quyết định các kì thi dân sự, nếu có, anh có thể tham dự nhưng không bảo đảm sẽ có được vị trí đó.
Vào tháng 4 năm 2006, Hàn Quốc trở thành nước đầu tiên trên thế giới cung cấp dịch vụ nối mạng Internet tốc độ cao đến tất cả các trường tiểu học và trung học [10].

Văn học

Bài chi tiết: Văn học Triều Tiên
Văn học Triều Tiên được ghi lại trước khi triều đại Joseon kết thúc được gọi là "Cổ điển" hay "Truyền thống". Văn học viết bằng Hán tự ra đời cùng thời điểm khi chữ viết Trung Quốc du nhập vào bán đảo. Vào đầu thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, các nhà học giả Triều Tiên đã viết thơ theo phong cách cổ điển, phản ánh những tâm lý và trải nghiệm của người Triều Tiên thời gian đó. Văn học cổ điển Triều Tiên có nguồn gốc từ tín ngưỡng dân gian truyền thống và những câu chuyện dân gian của bán đảo. Văn học thời kỳ này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo, Phật giáoĐạo giáo.
Văn học hiện đại thường gắn liền với sự phát triển của hệ chữ hangul, điều này giúp cho việc đọc viết chữ lúc đầu chỉ dành cho tầng lớp quý tộc sang người dân thường và phụ nữ. Tuy nhiên, mãi đến nửa sau thế kỷ 19, hangul mới đạt đến vị trí thống trị trong văn học Triều Tiên, đem lại sự phát triển lớn mạnh cho nền vă học này. Điển hình như Sinsoseol là một tác phẩm tiểu thuyết được viết bằng hangul.
Chiến tranh Triều Tiên khiến văn học phát triển theo chiều hướng xoay quanh những vết thương và sự hỗn loạn của chiến tranh. Phần lớn các tài liệu sau chiến tranh ở Nam Triều Tiên đều đề cập đến cuộc sống hàng ngày của người dân bình thường và sự đấu tranh với nỗi đau quốc gia của họ. Một vấn đề phổ biến khác của thời đại là sự sụp đổ của hệ thống giá trị truyền thống Hàn Quốc.

Ẩm thực

Bài chi tiết: Ẩm thực Triều Tiên
Xem thêm: Lễ trà Triều Tiên, Món ăn triều đình Triều Tiên
Bibimbab - cơm trộn Triều Tiên.
Ẩm thực Triều Tiên có lẽ nổi tiếng nhất với món kim chi, một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là bắp cải. Đây là một loại thực phẩm lành mạnh vì nó cung cấp các vitaminchất dinh dưỡng cần thiết. Gochujang (một loại nước sốt truyền thống Triều Tiên làm từ ớt đỏ) rất thông dụng, cũng như tương tiêu (hoặc ớt), là những món điển hình của nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay.
Bulgogi (thịt nướng tẩm sốt, thường là thịt bò), galbi (xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng) và món samgyeopsal (thịt lợn ở phần bụng) đều là những đặc sản từ thịt phổ biến. cũng là một thực phẩm phổ biến, vì nó là loại thịt truyền thống mà người Triều Tiên hay dùng. Bữa ăn thường đi kèm với súp hoặc món hầm, chẳng hạn như galbitang (xương sườn hầm) và doenjang jjigae (canh súp đậu lên men). Giữa bàn ăn là đủ loại món ăn phụ gọi là banchan.
Các món ăn phổ biến khác gồm bibimbap - có nghĩa là "cơm trộn" (cơm trộn với thịt, rau, tương ớt đỏ) và naengmyeon (mì lạnh). Một món ăn nhanh phổ biến khác là kimbab, gồm cơm trộn với rau và thịt cuộn trong lớp rong biển. Tuy ngày càng có nhiều thành phần thức ăn được cuộn trong kimbab nhưng cá dù sống hoặc chín vẫn hiếm khi được sử dụng, có lẽ do nguồn gốc kimbap là một món ăn cầm tay hoặc món ăn nhanh có thể gói lại mang đi, trong khi đó cá có thể nhanh chóng hư hỏng nếu không được đông lạnh.
Mì ăn liền cũng là một loại thức ăn nhẹ rất phổ biến. Người Triều Tiên cũng thích dùng các loại thức ăn từ pojangmachas (bán dạo trên đường phố), ở đây người ta có thể mua tteokbokki (bánh gạo và bánh cá với nước sốt gochujang cay), khoai tây chiên mực và khoai lang tẩm. Soondae là loại một xúc xích làm bằng mì sợi trong suốt và huyết lợn cũng được rất nhiều người ưa thích.
Ngoài ra, một số món ăn nhẹ phổ biến khác bao gồm chocopie, bánh tôm, bbungtigi (bánh gạo giòn) và "nu lung ji" (cơm cháy nhẹ). Có thể ăn sống nu lung ji hoặc đun với nước để tạo ra một món canh. Nu lung ji cũng có thể được dùng như một món ăn nhanh hay món tráng miệng.

Thể thao

Hàn Quốc là nước chủ nhà trong Thế vận hội mùa hè 1988Seoul, giúp thúc đẩy kinh tế nước này thông qua tăng cường du lịch và sự công nhận rộng rãi hơn của thế giới. Vào thời điểm đó, Bắc Triều Tiên tẩy chay sự kiện đó với lý do là họ không được mời làm nước đồng chủ nhà.
Cờ Thống nhất
Một đội thống nhất dưới lá Cờ Thống nhất vào năm 1991 đã thi đấu trong giải Vô địch bóng bàn thế giới lần thứ 41 ở Chiba, Nhật Bản và trong Giải bóng đá trẻ thế giới lần thứ 6 ở Lisboa, Bồ Đào Nha. Một đội tuyển của toàn bộ Triều Tiên diễu hành dưới Cờ Thống nhất trong lễ khai mạc Thế vận hội mùa hè 2000Sydney, Á vận hội 2002Busan, Thế vận hội mùa hè 2004AthenaThế vận hội mùa đông 2006Torino nhưng thi đấu riêng trong các sự kiện thể thao. Cũng như trong Á vận hội 2006, các viên chức Hàn Quốc đã công bố rằng cả hai nước sẽ thi đấu trong cùng một đội.
Vào mùa hè năm 2002, Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 được tổ chức bởi Hàn Quốc và Nhật Bản trên 10 sân vận động của mỗi nước. Tuy nhiên hai nước Triều Tiên thi đấu như hai đội khác nhau. Đã có vài đề nghị là Bắc Triều Tiên nên đứng ra làm chủ nhà cho một hay hai trận, nhưng không có điều gì như thế đã xảy ra. Trong khi Hàn Quốc tự động được vào vòng chung kết vì là nước đồng chủ nhà và đã vào tận bán kết (xếp thứ 4, thua Thổ Nhĩ Kỳ), Bắc Triều Tiên đã không qua được vòng loại khu vực châu Á (thuộc liên đoàn bóng đá châu Á) và không tham dự vòng chung kết.

Điện ảnh

Điện ảnh bán đảo Triều Tiên là nền nghệ thuậtcông nghiệp điện ảnh của Triều Tiên (tính cho đến trước năm 1945) và của hai nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên - Hàn Quốc (kể từ năm 1945 đến nay). Chịu ảnh hưởng từ nhiều biến cố chính trị xảy ra trong suốt thế kỉ 20, từ giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên, Chiến tranh Triều Tiên đến giai đoạn chia cắt hai miền từ năm 1953 đến hiện tại, điện ảnh Triều Tiên cũng có nhiều thăng trầm.

Khoa học và kỹ thuật

Chiêm tinh đài, đài quan sát thiên văn xưa nhất tại Đông Á còn tồn tại
Một trong những di tích nổi tiếng nhất trong lịch sử khoa học và kỹ thuật của Triều Tiên là Chiêm tinh đài (Cheomseongdae), một đài quan sát thiên văn cao 9 mét xây dựng vào năm 633. Nó phục vụ như là một trong những trạm quan sát thiên văn cổ xưa nhất của thế giới.
Tài liệu được in ấn xưa nhất trên thế giới là một quyển kinh Phật in tại Triều Tiên vào khoảng 750-751. Bản in bằng kim loại di chuyển được được phát minh ở Triều Tiên vào năm 1232, trước khi Johann Gutenberg phát triển bản in chữ bằng kim loại (Cumings 1997: 65). Mặc dù người Triều Tiên sử dụng các khuôn in bằng gỗ vào năm 751, đây là một phát triển đáng kể trong việc in ấn cho phép tiếp tục sử dụng một khuôn in cũ. Hangul, một trong những ngôn ngữ phiên âm khoa học nhất thế giới, được tạo ra bởi vua Thế Tông vào năm 1443. Một trong những đồng hồ nước tự động đầu tiên trên thế giới được sáng chế năm 1434 bởi Chang Yong-sil, người sau này phát triển các loại đồng hồ nước phức tạp hơn với các thiết bị thiên văn, đo nước, đo lượng mưa.
Trong suốt thời đại nhà Triều Tiên, tơ lụa Triều Tiên được đánh giá cao bởi Trung Quốc và đồ gốm Triều Tiên tráng men xanh có giá trị cao ở Nhật. Người Trung Quốc nghĩ rằng đồ sành sứ Triều Tiên có chất lượng cao, nhưng điều này chỉ đúng cho đến hết triều đại Cao Ly. Trong suốt giai đoạn này, Triều Tiên đạt được nhiều tiến bộ trong các nghệ thuật và đồ thủ công truyền thống, chẳng hạn như men sứ trắng, tơ lụa mịn và giấy. Cũng trong thời gian này, tàu chiến bọc sắt đầu tiên trên thế giới, Geobukseon (hay "Tàu con rùa"), được phát minh.
Tuy nhiên, sự ngưng trệ bắt đầu xảy ra trong thời gian sau của triều đại Joseon và Triều Tiên trở nên lạc hậu so với phương Tây.
Ngày nay, Nam Triều Tiên dẫn đầu thế giới với số lượng kết nối mạng Internet tốc độ cao tính trên đầu người. Nam Triều Tiên cũng là nhà sản xuất lớn các sản phẩm công nghệ cao như điện thoại di độngmàn ảnh plasma. Nam Triều Tiên cũng chỉ đứng thứ hai trên thế giới trong việc sử dụng các kỹ thuật tiêu thụ mới, chỉ sau Đài Loan [http://www.parksassociates.com/press/press_releases/2005/gdl6.html1. Bắc Triều Tiên tiếp tục sử dụng hầu hết các kỹ thuật lạc hậu từ thập niên 1960thập niên 1970.

Chú thích

  1. ^ “The kingdom of Silla and the treasures of Nara (ancient Korea kingdom; Buddhist temple in Nara, Japan)”. Ccbs.ntu.edu.tw. 19 tháng 2 năm 1991. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  2. ^ “Pacific Asia Museum”. Pacific Asia Museum. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  3. ^ “About Korea — Religion”. Korea.net. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  4. ^ “South Koreans”. Every Culture. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  5. ^ “Culture of South Korea”. Every Culture. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  6. ^ “Culture of North Korea”. Every Culture. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  7. ^ “CIA The World Factbook — North Korea”. Cia.gov. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  8. ^ “International Religious Freedom Report 2008 - Korea, Republic of”. State.gov. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  9. ^ “The Korea Times:Islam takes root and blooms”. Islamawareness.net. 22 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  10. ^ [1]

Tham khảo

  • Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun, Norton, 1997. ISBN 0-393-31681-5
  • Kim, et al. Women of Korea: A History from Ancient Times to 1945, Ewha Womans University Press, 1976. ISBN 89-7300-116-7.

Đọc thêm

  • Chun, Tuk Chu. "Korea in the Pacific Community." Social Education 52 (March 1988), 182. EJ 368 177.
  • Cumings, Bruce. The Two Koreas. New York: Foreign Policy Association, 1984.
  • Focus On Asian Studies. Special Issue: "Korea: A Teacher's Guide." No. 1, Fall 1986.
  • Lee Ki-baik. A New History Of Korea. Cambridge: Harvard UP, 1984.
  • Lee Sang-sup. "The Arts and Literature of Korea." The Social Studies 79 (July-August 1988): 153-60. EJ 376 894.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Các ngày lễ ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Dưới đây là một danh sách các ngày lễ chính tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Ngày Tên Ghi chú Ngày nghỉ
1 tháng 1 Tết Dương lịch

8 tháng 1 Sinh nhật Kim Jong-un[1]
?
1 tháng 1 (âm lịch) Seollal (Tết Âm lịch)
3 ngày
16 tháng 2 Sinh nhật Kim Chính Nhật hay Tiết Quang Minh Tinh 2 ngày
15 tháng 4 Sinh nhật Kim Nhật Thành Cũng được gọi là Tiết Thái Dương 2 ngày
25 tháng 4 Ngày thành lập quân đội Nhân dân Triều Tiên Kim Nhật Thành đã chuyển từ ngày thành lập thực tế là 8 tháng 2
sang ngày thành lập đội du kích của ông vào năm 1932

1 tháng 5 Tiết người lao động quốc tế

5 tháng 5 (âm lịch) Tết Đoan ngọ

27 tháng 7 Tiết Chiến tranh giải phóng tổ quốc thắng lợi Kết thúc chiến tranh Triều Tiên năm 1953
15 tháng 8 Tiết Tổ quốc quang phục Nhật Bản đầu hàng trong Chiến tranh thế giới thứ 2
9 tháng 9 Ngày thành lập chính quyền Nhân dân Thành lập Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên năm 1948
15 tháng 8 (âm lịch) Chuseok Tết Trung thu 3 ngày
10 tháng 10 Ngày thành lập Đảng Thành lập Đảng Lao động Triều Tiên năm 1945
27 tháng 12 Tiết Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Ban hành Hiến pháp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên năm 1998

Ngày kỉ niệm khác

Tham khảo

Ung Chính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ung Chính Đế
雍正帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Emperor Yongzheng.PNG
Chân dung của hoàng đế Thanh Thế Tông.
Hoàng đế nhà Thanh
Trị vì 17221735
Tiền nhiệm Thanh Thánh Tổ
Kế nhiệm Thanh Cao Tông
Thông tin chung
Tên thật Ái Tân Giác La Dận Chân
Niên hiệu Ung Chính
Thụy hiệu Hiến Hoàng đế
Miếu hiệu Thanh Thế Tông (清世宗)
Thân phụ Khang Hy
Thân mẫu Hiếu Cung Nhân hoàng hậu
Sinh 13 tháng 12 năm 1678
Mất 8 tháng 10 năm 1735
Thanh Thế Tông (chữ Hán: 清世宗, 13 tháng 12 năm 16788 tháng 10 năm 1735), tên húy là Dận Chân (胤禛), là vị Hoàng đế thứ 4 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 1722 đến 1735.
Là một vị vua siêng năng, cần kiệm và có tinh thần chống tham nhũng, Ung Chính tiếp tục được sự thịnh trị gần 150 năm còn lại của Đại Thanh.[1] Cuối đời ông, quốc khố hãy còn dư nhiều.[1].
Năm 1735, Ung Chính hoàng đế băng hà, thọ 57 tuổi. Ông được tôn thụy hiệuKính Thiên Xương Vận Kiến Trung Biểu Chính Văn Vũ Anh Minh Khoan Nhân Tín Nghị Duệ Thánh Đại Hiếu Chí Thành Hiến hoàng đế (敬天昌運建中表正文武英明寬仁信毅睿聖大孝至誠憲皇帝).

Tuổi trẻ

Dận Chân là con trai thứ tư của Khang Hy hoàng đế, và là con trai cả của thứ phi Hiếu Cung Nhân hoàng hậu (孝恭皇后 Hiếu Cung hoàng hậu), người bộ tộc Uya, thuộc Tương Hoàng kỳ Mãn Châu. Khang Hy cho rằng việc chỉ nuôi nấng các hoàng tử trong hoàng cung sẽ tạo sai lầm, do đó ông đã cho các hoàng tử, kể cả Dận Chân, tiếp xúc với thế giới bên ngoài, và ban ra một hệ thống giáo dục nghiêm khắc cho các hoàng tử. Dận Chân đã cùng hoàng đế Khang Hy vi hành nhiều lần ở các vùng, tỉnh xung quanh kinh thành Bắc Kinh, cũng như về phía Nam xa xôi. Khi trưởng thành, ông được vua cha cử làm chủ soái Chính Hồng kỳ (một trong Bát kỳ của Mãn Châu: Chính Hoàng kỳ, Tương Hoàng kỳ, Chính Hồng kỳ, Tương Hồng kỳ, Chính Lam kỳ, Tương Lam kỳ, Chính Bạch kỳ, Tương Bạch kỳ) trong suốt cuộc chiến tranh lần thứ 2 giữa hoàng đế Khang Hy với Khả hãn Mông CổGordhun (Chuẩn Cát Nhĩ). Dận Chân được phong tước vị "Bối lặc" năm 1698 và sau đó là vị trí thứ 3 trong số các Đại Bối lặc năm 1699.
Năm 1704, sông Dương Tử và sông Hoàng Hà gây ra một trong những trận lũ lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Kinh tế và đời sống của nhân dân xung quanh các vùng này bị đe dọa nghiêm trọng. Hoàng tử Dận Chân được Khang Hy cử đến với tư cách là khâm sai đại thần của hoàng đế cùng với hoàng tử thứ 13 là Dận Tường để giúp đỡ các nạn dân vùng phía Nam Trung Quốc. Quốc khố lúc này đang cạn kiệt do các khoản nợ không trả từ các quan lại và quý tộc, do đó triều đình không đủ tiền để đối phó với nạn lũ. Dận Chân đã phải thực hiện chính sách thu gom ngân quỹ từ các thương gia giàu có ở phương Nam. Những nỗ lực này của ông bảo đảm tiền cứu tế được phân bố và các nạn dân không bị đói. Ông được phong danh vị Ung Thân Vương (雍親王) năm 1709.

Việc lên ngôi mờ ám

Năm 1712, hoàng đế Khang Hy phế bỏ hoàng tử thứ hai, Dận Nhưng, sau vụ chính biến và quyết định không thiết lập ngôi thái tử kế vị nữa. Điều này đã dẫn đến sự phân chia trong triều đình nhằm tranh giành vị trí thái tử bị bỏ trống, sự chia rẽ giữa những người ủng hộ Dận Chỉ (hoàng tử thứ 3), Dận Chân (thứ 4), Dận Tự (thứ 8) và Dận Chinh (thứ 14). Trong số các hoàng tử trên, Dận Tự được sự ủng hộ nhiều nhất từ các quan lại, cho dù ông này thường hay nghi kỵ và tính khí hẹp hòi. Vì lí do này, Dận Chân đã ủng hộ Thái tử Dận Nhưng. Khi Khang Hy mất vào tháng 11 năm 1722, việc phân chia quyền vị ngai vàng chỉ còn lại ba hoàng tử, sau khi Dận Tự chuyển sang ủng hộ hoàng tử thứ 14 DậnDận Đề Trinh (em ruột của Dận Chân), đó là Dận Chỉ, Dận Chân và Dận Đề.
Vào thời điểm Khang Hy qua đời, hoàng tử thứ 14 là Dận Đề (nguyên tên ông là Dận Trinh, sau khi Ung Chính lên ngôi,đã bắt các anh em của mình sửa chữ Dận thành chữ Doãn để kiêng húy tên nhà vua, và vì chữ Trinh 祯 gần với chữ Chân cả về âm đọc và tự dạng nên Dận Trinh bị đổi hẳn thành Doãn Đề) lúc này là Phủ Viễn đại tướng quân (撫遠大將軍), đang phải chinh chiến ở chiến trường Tây Bắc. Một số nhà sử học cho rằng việc này là để huấn luyện khả năng cầm quân của hoàng đế tương lai; một số khác lại cho rằng việc này nhằm bảo đảm chuyện lên ngôi trong hòa bình của Dận Chân. Chính hoàng tử Dận Chân đã tiến cử Dận Đề vào vị trí này chứ không phải Dận Tự, người cùng phe với Dận Đề. Vị trí này được xem như là của người kế vị Khang Hy, cho vị trí thái tử đã bỏ trống suốt gần 7 năm.
Sử sách ghi chép lại rằng vào ngày 20 tháng 12 năm 1722, hoàng đế Khang Hy đã gọi lại bên giường của mình 7 vị hoàng tử và tổng đốc Bắc Kinh thành, Long Khoa Đa, người sẽ đọc di chiếu và tuyên bố Ung Chính là người kế vị ngai vàng. Một số chứng cứ chứng tỏ rằng Dận Chân đã có liên kết với Long Khoa Đa từ vài tháng trước khi di chiếu được tuyên bố bằng sự chuẩn bị lực lượng quân đội, vì trong dự định của họ, binh biến là không thể tránh khỏi. Các truyện dân gian cho rằng Ung Chính đã thay đổi di chiếu của vua cha bằng cách thêm dấu vào và sửa đổi k‎í tự. Nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là việc Ung Chính đã thay đổi chữ "thập tứ" (十四) thành chữ "vu tứ" (于四, vu nghĩa là "cho"), một số khác cho rằng từ "thập tứ" thành "đệ tứ" (第四). Khi các câu chuyện này truyền trong dân gian, cũng có một số ít chứng cứ cho quan điểm này, đặc biệt là dựa trên việc chữ "vu" (于) không được dùng rộng rãi trong suốt thời đại nhà Thanh, vì người ta thường dùng chữ "於". Tiếp đó, phong tục của nhà Thanh là di chiếu sẽ được viết cả bằng tiếng Mãn Châu và tiếng Hán, mà tiếng Mãn Châu khó viết hơn, trong trường hợp này việc sửa di chiếu có lẽ khó khăn hơn. Tuy nhiên, dù có nhiều nghi ngờ dấy lên khi mà di chiếu viết bằng tiếng Mãn bị thất lạc đâu đó và di chiếu bằng tiếng Hán, đang được lưu giữ trong viện Bảo tàng sử Trung Quốc, chỉ được ban bố 2 ngày sau cái chết của Khang Hy. Một số nhà sử đưa ra giả thuyết rằng Ung Chinh không thay đổi di chiếu nhưng đã viết một bản khác.
Việc đầu tiên khi làm vua của Ung Chính là ông đã thả hoàng tử thứ 13, Dận Tường, người cùng ông chiến đấu bao năm khi còn là hoàng tử. Dận Tường bị vua cha giam cầm cùng lúc với thái tử Dận Nhưng. Một số nguồn tư liệu đã ghi lại rằng, Dận Tường, vị hoàng tử nắm giữ hầu hết quân đội, đã điều một đội quân trong Bắc Kinh từ Phong Đài đến bao vây và kiểm soát Tử Cấm Thành và một số vùng xung quanh, hành động này nhằm ngăn chặn mọi phản kháng từ phía hoàng tử Dận Tự. Ung Chính đã cảm thấy bất an và rất buồn khi cha qua đời, và biết rằng sẽ là một áp lực và trọng trách lớn khi ông thừa kế ngai vàng của cha. Hơn nữa, sau khi di chiếu được tuyên bố, Dận Chân đã ra lệnh cho các trọng thần (Trương Đình Ngọc, Long Khoa Đa và Dận Chỉ) và con trai là Hoằng Lịch dẫn các hoàng tử còn lại làm lễ Tam bái - Cửu chào đối với vị hoàng đế mới. Vào ngày hôm sau, Ung Chính đã ra một khẩu dụ điều Dận Đề trở về Giang Tô, đồng thời phong tặng mẹ danh phong Thiên hoàng thái hậu vào lúc Dận Đề đến dự lễ tang tiên hoàng.
Trong bản tóm tắt tiểu sử toàn diện nhất về hoàng đế Ung Chính của học giả Phùng Nhĩ Khang, tác giả đã nhìn nhận việc kế ngôi của Ung Chính bằng một nhãn quan mới mẻ. Phùng Nhĩ Khang viết rằng vẫn còn một số nghi ngờ từ di chiếu bị thất lạc hay ngày được ban hành, song đa số các luận điểm chứng tỏ rằng Ung Chính đã thành công trong việc lên ngai vàng một cách hợp lẽ, dẫu cho ông cũng đã có sử dụng quân đội trong một số trường hợp cần thiết. Hoàng tử thứ 8 là Dận Tự đã bỏ cả đời để chiêu nạp các quan viên, thuộc hạ bằng con đường hối lộ, và những ảnh hưởng của Dận Tự đã liên quan đến chính bíến Phong Đài. Ngoài ra, Phùng Nhĩ Khang cũng cho rằng:
Mặc dù chúng ta không hoàn toàn chắc chắn điều gì đã xảy ra với sự kế vị, cũng như bên nào đúng bên nào sai, nhưng có lí do để nói rằng các thế lực chính trị chống lại Ung Chính đã làm nhiều điều mờ ám đằng sau ‎nhằm phủ lên vương triều Ung Chính một bức tranh đen tối; truyền thống hoàng gia Trung Hoa đã dẫn đến những suy nghĩ tin tưởng rằng toàn bộ công lao cai trị của Ung Chính có thể bị phủ định bởi vì sự kế vị của ông không do di mệnh của tiên hoàng, người nắm đặc quyền quyết định tối cao.
Ngoài ra, học giả Phùng Nhĩ Khang cho rằng Khang Hy đã phạm một sai lầm to lớn khi để các con của mình lao vào trò chơi chính trị quá nhiều, và đặc biệt là trong hoàn cảnh chiếc ghế Thái tử bị bỏ trống, do đó một cuộc quyết chiến giành ngôi vua, bao gồm cả việc chiếm đoạt nếu có thể, là một kết quả không thể tránh khỏi trong lịch sử phong kiến Trung Hoa. Vì thế, thậm chí sẽ là một sai lầm to lớn hơn nữa khi đánh giá một nhà cai trị đơn giản thông qua cách mà ông ta đạt đến quyền lực. Có một điều chắc chắn là sau này hoàng đế Ung Chính đã bảo đảm rằng quá trình chuyển giao quyền lực cho người kế vị mình diễn ra thuận lợi, không như trường hợp của chính ông.
Tháng 11 âm năm 1722, sau khi lên ngôi hoàng đế, Dận Chân đặt niên hiệu là Ung Chính (雍正), bắt đầu từ năm 1723, xuất phát từ chữ Ung, nghĩa là "hòa thuận"; và chữ Chính, nghĩa là "ngay thẳng" hay "chính thống". Ngay lập tức sau khi lên ngôi, Ung Chính đã chọn ra các quân cơ đại thần vào Quân Cơ Viện (bao gồm hoàng tử Dận Tự, hoàng tử Dận Tường, Trương Đình Ngọc, Mã Vệ và Long Khoa Đa). Dận Tự được phong làm Liêm Thân Vương, còn Dận Tường được phong làm Di Thân Vương, cả hai đều được giữ những vị trí cao trong triều.

Củng cố quyền lực

Tiêu diệt các hoàng tử khác

Do sự lên ngôi của ông có nhiều điều nghi vấn, Ung Chính đã nhận thấy sự đố kỵ và tranh chấp từ các hoàng tử còn lại. Dận Thì, đại hoàng tử tiếp tục bị giam cầm tại gia. Dận Nhưng, thái tử bị phế truất mất 2 năm sau khi Ung Chính lên ngôi - dù họ bị giam cầm không phải do Ung Chính mà do vua cha Khang Hy. Việc khó khăn nhất chính là phải chia rẽ nhóm của hoàng tử Dận Tự (bao gồm Dận Tự; hoàng tử thứ 9 Dận Đường, thứ 10 Dận Ngã; và các thuộc hạ), và chia cắt Dận Đề nhằm cắt đứt liên minh này. Dận Tự, người nắm giữ chức Thượng thư Bộ Công, và tước Liêm Thân Vương, được theo dõi rất kỹ bởi Ung Chính. Dận Đường được cử tới Giang Tô để hỗ trợ quân đội, nhưng thực chất là chịu sự cai quản thuộc hạ của Ung Chính là tướng quân Niên Canh Nghiêu. Dận Ngã bị tước bỏ mọi quyền vị vào tháng 5 năm 1724, và bị đày đi phương bắc tới vùng Nội Mông. Hoàng tử thứ 14 là Dận Đề, em ruột của Ung Chính, thì bị đày đến canh giữ tẩm lăng của các tiên hoàng.
Trong những năm đầu tiên dưới sự cai trị của Ung Chính, sự ủng hộ ông đã tăng lên rõ rệt. Dận Tự muốn dùng vị thế và chức vị của mình nhiều lần ép buộc nhà vua nhằm làm cho Ung Chính phải đưa ra những chính sách, quyết định sai lầm dù bề ngoài Dận Tự vẫn tỏ ra ủng hộ nhà vua. Dận Tự và Dận Đường, những người từng ủng hộ Dận Đề lên vị trí ngôi báu, đã bị tước hết mọi quyền vị và bị giam cầm trong ngục cho đến chết vào năm 1727.

Vụ án Niên Canh Nghiêu và Long Khoa Đa

Niên Canh Nghiêu là tâm phúc của Ung Chính một thời gian dài trước khi ông bước lên ngai vàng. Vào năm 1723, khi Ung Chính gọi em của mình, Dận Đề, quay trở về từ đông bắc, ông đã chỉ định Niên đến thay thế vị trí này. Tình hình biên giới Tân Cương lúc này vẫn rất rối ren, do đó ở đây rất cần một viên tướng giỏi. Tuy nhiên, sau một vài cuộc chinh phục thành công, Niên đã bắt đầu tha hóa khi nhận hối lộ để thăng quan tiến chức. Niên nổi tiếng với lối sống vương giả ngang bằng với nhà vua. Nhìn thấy trước viễn cảnh không tốt từ Niên, Ung Chính đã ra một chỉ dụ giáng chức Niên xuống làm tướng quân của Hàng Châu phủ. Tuy nhiên, vẫn tiếp tục những hành động ngông cuồng, Niên đã nhận được tối hậu thư từ Ung Chính, và sau đó đã phải tự sát bằng thuốc độc vào năm 1726.
Long Khoa Đa (âm Mãn: Longkodo) là thống soái toàn bộ quân đội thành Bắc Kinh vào thời điểm Ung Chính lên ngôi. Sau đó, Longkodo bắt đầu bị ghét bỏ từ năm 1728 và chết khi bị giam cầm tại tư gia.

Sự nghiệp

Cấm đạo Thiên Chúa

Khác với vua cha, Ung Chính tấn công mạnh mẽ vào đạo Thiên Chúa.[1]. Ông cấm đạo cả nước, chỉ trừ Bắc Kinh. Thế là, 300 nhà thờ bị phá.[1]

Những cải cách

Sau khi trở thành hoàng đế Đại Thanh, Ung Chính đã cho giám sát chặt chẽ hoạt động của các quan lại cấp dưới và đồng thời cho tịch thu các truyền đơn mà ông cho là gây ảnh hưởng xấu cho chế độ của mình, đặc biệt là những người phản Thanh phục Minh. Nổi bật trong số đó là trường hợp của Tằng Tĩnh, một nho sinh thi hỏng mang ảnh hưởng nặng nề tư tưởng của học giả Lữ Lưu Lương ở thế kỷ XVII. Vào tháng 10 năm 1728, Tằng đã kích động Nhạc Chung Kỳ, tướng quân của 2 tỉnh Thiểm TâyCam Túc, làm phản. Ông ta đưa ra một bản danh sách dài vạch tội của Ung Chính, bao gồm cả việc giết hoàng đế Khang Hy và hạ sát các anh em để giành ngôi. Giải quyết vụ án này, cuối cùng Ung Chính đã cho bắt Tằng Tĩnh về thành Bắc Kinh để xét xử.
Ung Chính còn được biết đến như một nhà vua chuyên quyền, nghiêm khắc trong thời gian trị vì của mình. Ông căm ghét tham nhũng và trừng phạt nghiêm khắc các quan viên khi họ vi phạm các quy tắc trên. Năm 1729, ông ra một khẩu dụ nghiêm cấm việc hút madak, một thứ thuốc phiện do người phương Tây mang vào Trung Quốc.[cần dẫn nguồn] Trong suốt triều đại Ung Chính, Thanh triều đã trở thành một vương triều vững mạnh và thanh bình, ngoài ra ông cũng cho xây dựng lại Cung điện Mùa hè Càn Thành. Ông ban hành một di chiếu giả cho người kế vị nhằm tránh lặp lại bi kịch của cha ông.
Ung Chính rất tin tưởng vào người Hán[1] và sử dụng nhiều quan viên người Hán trong chính quyền của mình. Cả Lý Vệ và Đường Văn Kính đều giúp triều đình cai quản các vùng phía nam Trung Quốc. An Thái cũng phục vụ cho Ung Chính trong việc cai quản các vùng miền nam. Ông cũng nổi tiếng vì đã thu hết quyền lực của các vị hoàng tử của 5 kỳ còn lại và thống nhất toàn bộ bát kỳ dưới sự lãnh đạo duy nhất của ông, thông qua việc lập ra Bát vương nghị chính (八王依正).

Qua đời

Giống như vua cha, Ung Chính cũng dùng sức mạnh quân đội để bảo vệ vị thế thiên triều trước những thế lực bên ngoài như Mông Cổ,[2] và khi Tây Tạng bị chia cắt bởi cuộc nội chiến từ năm 1717-1728, ông đã rút toàn bộ quân đội, chỉ để lại một viên quan nhà Thanh và các đơn vị đồn trú để bảo vệ biên giới thiên triều. Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng Ung Chính đã cải cách lại chế độ thuế má vào thời điểm đó nên không có chính sách ưu đãi cho giai cấp thượng lưu và áp dụng chế độ thuế đất mới cho các chủ đất. Cuộc sống hậu cung của ông lại là một câu chuyện buồn: Ông có 14 người con trai nhưng có đến 9 người chết sớm.
Hoàng đế Ung Chính cai trị Trung Quốc chỉ trong 13 năm. Ông đột ngột qua đời vào năm 1735 khi mới 58 tuổi. Các truyện dân gian kể rằng ông đã bị ám sát bởi Lã Tứ Nương, con gái của Lã Lưu Lang, người mà cả gia đình đã bị xử tử trong vụ án văn chương nổi tiếng chống lại nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Một giả thuyết khác có vẻ thực tế hơn đó là Ung Chính đã chết vì dùng thuốc quá liều vào thời điểm đó, vì ông cho rằng các loại dược liệu quí này sẽ giúp ông kéo dài tuổi thọ. Để tránh một cuộc tranh giành ngôi báu tương tự như thời của mình 13 năm trước, ông đã ra lệnh cho hoàng tử thứ ba, Hoằng Thời, người đã từng cùng phe với Dận Tự, phải tự sát. Đồng thời, ông cũng đã chỉ định hoàng tử thứ tư Bảo Thân Vương Hoằng Lịch, kế ngôi. Hoằng Lịch lên kế ngôi, tức là vua Càn Long (Thanh Cao Tông).
Ông được đưa vào Lăng Tây Thanh (清西陵), 120 km về phía tây nam thành Bắc Kinh, trong bảo tàng Thái Lăng (泰陵) (tên dưới thời nhà Thanh là Elhe Munggan).

Gia tộc

Phụ mẫu

Hậu phi

  • Hoàng hậu:
  1. Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị [孝敬宪皇后 烏拉那拉氏], (1681 – 1731), là Hoàng hậu chính thức duy nhất của Ung Chính, con gái của Nội đại thần Phí Dương Cổ [費扬古].
  2. Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (孝圣宪皇后 鈕祜祿氏), (1693 – 1777), con gái của Tứ phẩm Điển nghi Lăng Trụ (凌柱), mẹ của Hoàng đế Hoằng Lịch. Nữu Hỗ Lộc thị nguyên là Cách cách (格格) ở phủ Ung Thân vương, Ung Chính lên ngôi sách phong làm Hi Phi [熹妃]. Năm 1731, Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu qua đời, Hi Phi được tấn phong làm Hi Quý phi (熹貴妃), nhiếp quản hậu cung. Được tôn làm Sùng Khánh Hoàng thái hậu (崇慶皇太后) dưới thời Càn Long.
  • Phi tần:
  1. Đôn Túc hoàng quý phi Niên thị [敦肃皇贵妃 年氏], (? - 1725), con gái của Tuần phủ Niên Hà Linh [年遐龄], em gái của Niên Canh Nghiêu [年羹尧], sinh ba Hoàng nam và một Hoàng nữ, đều mất sớm.
  2. Thuần Khác Hoàng Quý Phi Cảnh thị [纯悫皇贵妃 耿氏], (1689 – 1784),con của Quản Lĩnh Cảnh Đức Kim [耿德金], mẹ của Hòa Cung Thân vương (和恭亲王]) Hoằng Trú. Cảnh thị nguyên là Cách cách (格格]) ở phủ Ung Thân vương, Ung Chính lên ngôi sách phong làm Dụ Tần [裕嬪], sau tấn phong làm Dụ Phi [裕妃]. Được tôn làm Hoàng khảo Dụ Hoàng quý phi [皇考裕皇贵太妃] dưới thời Càn Long.
  3. Tề phi Lý Thị [齊妃李氏], (? - 1737), con gái của Tri phủ Lý Văn Huy [李文辉], mẹ của ba Hoàng tử Hoằng Phán, Hoằng Thời và Hoằng Quân. Lý thị nguyên là Cách cách (格格]) ở phủ Ung Thân vương, Ung Chính lên ngôi sách phong làm Tề tần, sau thăng lên Tề phi
  4. Khiêm phi Lưu Thị [謙妃刘氏], (1714 – 1767), Khiêm Tần [谦嫔] của Ung Chính, con gái của Quản Lĩnh Lưu Mãn [刘满], mẹ của con trai út của Ung Chính là Hoằng Chiêm [弘瞻]. Được tôn làm Hoàng khảo Khiêm Phi [皇考谦妃] dưới thời Càn Long.
  5. Ninh Phi Võ thị [寧妃武氏], (? - 1734), Ninh Tần [寧嬪] của Ung Chính, con gái của Tri châu Võ Trụ Quốc [武柱国]. Sau khi mất được truy phong làm Ninh Phi [寧妃] năm 1734.
  6. Mậu Tần Tống thị [懋嬪宋氏], (? - 1730), con gái của Chủ Sự Kim Trụ [金柱]. Sinh hai Hoàng nữ, đều mất sớm.
  7. Quách Quý Nhân [郭貴人] (?-1786).
  8. Lý Quý nhân [李貴人] (?-1760).
  9. An Quý nhân [安貴人] (?-1750).
  10. Hải Quý Nhân [海貴人] (?-1761).
  11. Trương Quý nhân [張貴人] (?-1735).
  12. Y Cách cách (伊格格]), mất trước khi Ung Chính lên ngôi.
  13. Trương Cách cách [張格格], mất trước khi Ung Chính lên ngôi.
  14. Thị thiếp Vân Huệ [雲惠], mất trước khi Ung Chính lên ngôi.

Hậu duệ

Hoàng đế Ung Chính có 10 Hoàng tử và 4 Hoàng nữ, trong đó chỉ có 4 vị Hoàng tử sống được đến thời Ung Chính tại vị. Trong 13 năm trên ngai vàng, Ung Chính chỉ có thêm hai Hoàng tử: Phúc Phái và Hoằng Chiêm.
  • Hoàng tử:
  1. Hoằng Huy [弘暉] (1697 – 1704): con của Hiếu Kính Hiến hoàng hậu. Được truy phong làm Đoan Thân vương (端亲王) dưới thời Càn Long.
  2. Hoằng Phán [弘昐] (1697 – 1699): con của Tề phi.
  3. Hoằng Thời [弘時] (1704 – 1726): con của Tề phi .
  4. Hoằng Quân [弘昀] (? – 1710): con của Tề phi.
  5. Hoằng Lịch [弘曆] (1711 – 1799): con của Hi quý phi, tức Hoàng đế Càn Long
  6. Hoằng Trú [弘晝] (1712 – 1770): Hoà Cung Thân vương [和恭亲王], con của Thuần Khác Hoàng Quý Phi.
  7. Phúc Nghi [福宜] (1720 – 1721): con của Đôn Túc hoàng quý phi (mất sớm)
  8. Phúc Huệ [福惠] (1721 – 1728): con của Đôn Túc hoàng quý phi (mất sớm)
  9. Phúc Phái [福沛] (1723): con của Đôn Túc hoàng quý phi (mất sớm)
  10. Hoằng Chiêm [弘瞻] (1733 – 1765): Quả Cung Quận vương [果恭郡王], con của Khiêm Phi Lưu thị
  • Hoàng nữ:
  1. Cố Luân Ý Hoà công chúa(1694): con của Mậu tần Tống Thị
  2. Hoài Khác Hoà Thạc công chúa [和硕怀恪公主] (1695 - 1717): con của Tề phi Lý Thị
  3. Hoà Thạc Vinh Gia công chúa (1706): con của Mậu tần Tống Thị
  4. Cố Luân Anh Huệ công chúa, (1708 - 1755): con của Hi quý phi, là công chúa có tài văn thơ và được Ung Chính sủng ái nhất, năm 1723 được Ung Chính phong làm Đế Cơ. Mất niên hiệu Càn Long thứ 20 (1755), được truy tôn Cố Luân Anh Huệ công chúa
  5. Hoàng tứ nữ (1715 – 1717): con của Đôn Túc Hoàng quý phi (Mất Sớm)
  • Nghĩa nữ:
  1. Hoà Thạc Thục Thận Công chúa [和硕淑慎公主] (1708 – 1784): con gái thứ 6 của Lý Thân vương Dận Nhưng và Trắc phúc tấn Đường thị
  2. Hoà Thạc Hoà Huệ Công chúa [和硕和惠公主] (1714 – 1731): con gái thứ 4 của Di Thân vương Dận Tường và Đích phúc tấn Triệu Giai thị
  3. Hoà Thạc Đoan Nhu Công chúa [和硕端柔公主] (1714 – 1754): con gái trưởng của Trang Thân vương Dận Lộc và Đích phúc tấn Quách Lạc La thị

Vai trò lịch sử

Được đánh giá là một vị vua nghiêm khắc và tận tụy, Ung Chính đã xây dựng một vương triều vững mạnh dựa trên việc chi tiêu một cách thấp nhất. Cũng giống như vua cha Khang Hy, hoàng đế Ung Chính dùng sức mạnh quân đội để bảo vệ vị thế của thiên triều.[2] Bị các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng đã cướp ngôi, sự cai trị của ông bị coi là chuyên quyền, nhưng hiệu quả và mạnh mẽ, mặc dầu triều đại ông ngắn và mờ nhạt hơn Khang Hy và Càn Long sau này, cái chết đột ngột của ông có lẽ một phần là do những công việc quá sức mà ông phải thực hiện. Ung Chính tiếp tục thời đại của sự thanh bình và thịnh vượng của Đại Thanh, vì ông đã hạn chế nạn tham nhũng, lãng phí và cải cách hành chính kinh tế một cách triệt để.[1][2]
Mặc dù nổi tiếng một người tiết kiệm, Ung Chính đã đóng góp một phần vào việc xây dựng Cung điện Mùa hè, tức Viên Minh Viên, một kiệt tác trong lịch sử triều đại nhà Thanh. Đài truyền hình Trung Quốc CCTV-1 đã trình chiếu một phim truyền hình về lịch sử Trung Quốc năm 1997 trong đó có đề cập đến hoàng đế Ung Chính, chủ yếu tập trung vào mặt tích cực của ông, và lập trường cứng rắn của ông về việc chống tham nhũng, một vấn đề không mới trong xã hội.

Trong văn hóa đại chúng

Phim truyền hình

Xem thêm

Tham khảo

  • Nguyễn Hiến Lê (1997) , Chương 8 (2):
    • Khang Hi (Thánh Tổ 1662 - 1723)
    • Ung Chính (Thế Tôn 1723 - 1736).
    • Càn Long (Cao Tôn 1736 - 1796).
  • Feng, Erkang. "Yongzheng Biography", China Publishing Group, People's Publishing House. Beijing: 2004. ISBN 7-01-004192-X
  • Schirokauer, Conrad; Miranda Brown (2006). A Brief History of Chinese Civilization. Belmont, California: Thomson Higher Education. ISBN 0-534-64305-1.

Liên kết ngoài

Chú thích



Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con