Friday, December 26, 2014

Chào ngày mới 21 tháng 12

Bethlehem.JPG
CNM365. Chào ngày mới 21 tháng 12. Wikipedia Ngày này năm xưa.  Đông chí (23:03 UTC, 2014); ngày Năm mới Kayin tại Myanmar (2014, lần 2).  Năm 1937 – Phim hoạt hình Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn được trình chiếu tại Los Angeles, phim đầu tiên trong loạt phim hoạt hình kinh điển của Walt DisneyNăm 1936 – Máy bay ném bom Ju 88 của Đức có chuyến bay thử nghiệm đầu tiên. Năm 1911Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Moskva được thánh hiến, đây là nhà thờ Công giáo Rôma lớn nhất ở Nga.  Năm 1995 – Quyền kiểm soát thành phố Bethlehem (hình) được Israel chuyển giao cho Chính quyền Quốc gia Palestine.

Đông chí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hai mươi tư tiết khí
Kỷ nguyên J2000
Kinh độ Tiết khí Dương lịch
(thông thường)
Xuân
315° Lập xuân 4 - 5/2
330° Vũ thủy 18 - 19/2
345° Kinh trập 5 - 6/3
Xuân phân 20 - 21/3
15° Thanh minh 4 - 5/4
30° Cốc vũ 20 - 21/4
Hạ
45° Lập hạ 5 - 6/5
60° Tiểu mãn 21 - 22/5
75° Mang chủng 5 - 6/6
90° Hạ chí 21 - 22/6
105° Tiểu thử 7 - 8/7
120° Đại thử 22 - 23/7
Thu
135° Lập thu 7 - 8/8
150° Xử thử 23 - 24/8
165° Bạch lộ 7 - 8/9
180° Thu phân 23 - 24/9
195° Hàn lộ 8 - 9/10
210° Sương giáng 23 - 24/10
Đông
225° Lập đông 7 - 8/11
240° Tiểu tuyết 22 - 23/11
255° Đại tuyết 7 - 8/12
270° Đông chí 21 - 22/12
285° Tiểu hàn 5 - 6/1
300° Đại hàn 20 - 21/1
Tiết Đông chí, theo lịch Trung Quốc cổ đại, là tiết khí khởi đầu bằng điểm giữa của mùa đông, nó là một trong hai mươi tư tiết khí trong nông lịch. Theo định nghĩa này, điểm bắt đầu của nó trùng với điểm đông chí (tiếng Anh: Winter solstice) tại Bắc bán cầu theo quan điểm của khoa học phương Tây. Tuy nhiên, theo khoa học phương Tây thì nó là điểm bắt đầu của mùa đông tại Bắc bán cầu và tương ứng là bắt đầu mùa hèNam bán cầu, thời điểm mà Mặt Trời xuống tới điểm thấp nhất về phía nam trên bầu trời để sau đó bắt đầu quay trở lại phía bắc.
Theo quy ước, tiết đông chí là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 21 hay 22 tháng 12 khi kết thúc tiết đại tuyết và kết thúc vào khoảng ngày 5 hay 6 tháng 1 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết tiểu hàn bắt đầu.
Theo thuật ngữ thiên văn học phương Tây, đó là thời điểm có liên quan đến vị trí của hành tinh trên quỹ đạo quanh Mặt Trời. Nó là lúc kinh độ Mặt Trời bằng 270 độ ở Bắc bán cầu.

Trên Trái Đất

Định nghĩa một: Tại Bắc bán cầu, ngày đông chí là ngày mà khoảng thời gian ban ngày ngắn nhất và thời gian ban đêm dài nhất. Thời gian này thông thường rơi vào ngày 21 tháng 12 hoặc 22 tháng 12. Khi đó tại Nam bán cầu thì khoảng thời gian ban ngày lại là dài nhất. Tuy nhiên cách định nghĩa này có phần không rõ ràng do độ nghiêng lớn nhất của trục quay Trái Đất là xấp xỉ 23,45° nên đối với những người quan sát ở các vĩ độ cao hơn 66,55° vĩ bắc sẽ thấy thời gian ban đêm trong những ngày cận kề trước và sau ngày đông chí ở nửa bán cầu này có thể kéo dài đến 24 h (Xem thêm ban đêm vùng cực để biết thêm chi tiết). Ngược lại, ở Nam bán cầu, đối với những người quan sát ở các vĩ độ cao hơn 66,55° vĩ nam sẽ thấy thời gian ban ngày trong những ngày cận kề với ngày đông chí ở Bắc bán cầu có thể kéo dài đến 24 h (Xem thêm ban ngày vùng cực để biết thêm chi tiết). Do vậy không thể biết chính xác ngày nào là ngày hạ chí theo kiểu định nghĩa này.
Sự chiếu sáng của Mặt Trời cho Trái Đất vào ngày Đông chí ở Bắc bán cầu
Định nghĩa hai: Ngày đông chí là ngày chứa điểm đông chí tính theo múi giờ địa phương. Theo quan điểm của người Trung Hoa và các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại thì ngày Đông chí là phù hợp với các tính toán của thiên văn học đối với Bắc bán cầu. Xem thêm tiết khí. Ngày Đông chí là một yếu tố quan trọng để xác định ngày Tết Nguyên Đán cũng như xác định tháng nhuận trong âm lịch Trung Quốc v.v.
Quy tắc đó là: Ngày Đông chí của bất kỳ năm âm lịch nào cũng phải rơi vào tháng 11 (là tháng một hay tháng Tý) của âm lịch.
Giữa mùa đông là khoảng thời gian quanh ngày Đông chí đối với nhiều nước, tuy có ngoại lệ như Mỹ thì Đông chí lại là ngày bắt đầu mùa đông. Có nhiều lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày Đông chí như Lễ hội Yule của đạo Wicca, một trong tám lễ hội Sabbat của những người theo đạo đa thần giáo kiểu mới (neopagan) này. Rất nhiều nền văn hóa khác cũng tổ chức lễ hội vào ngày này hoặc xung quanh ngày này như lễ hội lễ hội Yalda, lễ hội Saturnalia, lễ Giáng Sinh, Hanukkah, lễ hội Festivus, lễ hội Kwanzaalễ hội HumanLight.

Xem thêm

Ghi chú

Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn (phim 1937)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn
Poster gốc của phim tại các rạp
Thông tin phim
Đạo diễn William Cottrell
Wilfred Jackson
Larry Morey
Perce Pearce
Ben Sharpsteen
Sản xuất Walt Disney
Tác giả Dorothy Ann Blank
Richard Creedon
Merrill De Maris
Otto Englander
Earl Hurd
Dick Rickard
Ted Sears
Webb Smith
Gustaf Tenggren
Anh em nhà Grimm (truyện cổ dân gian)
Diễn viên Adriana Caselotti
Lucille La Verne
Pinto Colvig
Roy Atwell
Eddie Collins
Billy Gilbert
Scotty Mattraw
Otis Harlan
Harry Stockwell
Phát hành RKO Radio Pictures
Công chiếu 8 tháng 2 năm 1938 (Hoa Kỳ)
Độ dài 83 phút
Quốc gia Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí $1,488,000 [1]
Doanh thu $416 triệu [1]
Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn (tiếng Anh: Snow White and the Seven Dwarfs) là phim hoạt hình điện ảnh được sản xuất năm 1937, phim hoạt hình điện ảnh đầu tiên của Walt Disney. Mặc dù không phải phim hoạt hình điện ảnh đầu tiên được sản xuất (phim El Apóstol của Argentina năm 1917 có thể là phim đầu tiên hoặc phim Cuộc phiêu lưu của hoàng tử Achmed năm 1926), Bạch Tuyết và Bảy chú lùn là bộ phim hoạt hình điện ảnh đầu tiên thành công rộng rãi trong cộng đồng nói tiếng Anh và là phim đầu tiên sử dụng âm thanh-trên-phim (Quirino Cristiani sử dụng âm thanh trên đĩa năm 1931). Bạch Tuyết cũng là phim đầu tiên được quay bằng công nghệ Technicolor.
Bạch Tuyết của Walt Disney được công chiếu đầu tiên tại rạp Carthay Circle vào ngày 21 tháng 12 năm 1937 và được phát hành tới các rạp khác thông qua RKO Radio Pictures vào ngày 8 tháng 2, 1938. Phim được chuyển thể từ truyện cổ Grimm Nàng Bạch Tuyết bởi các họa sĩ Dorothy Ann Blank, Richard Creedon, Merrill De Maris, Otto Englander, Earl Hurd, Dick Rickard, Ted Sears và Webb Smith. Giám đốc giám sát là David Hand và William Cottrell, Wilfred Jackson, Larry Morey (1905-1971), Pearce Perce, và Ben Sharpsteen đạo diễn các cảnh riêng lẻ của phim.
Nàng Bạch Tuyết là một trong số hai phim hoạt hình điện ảnh được xếp hạng vào danh sách của Viện Phim Mỹ cho 100 Phim Mỹ hay nhất mọi thời đại vào năm 1997 (cùng với Fantasia), xếp hạng 49. Phim này đạt được thứ hạng cao hơn (thứ 34) trong danh sách cập nhật năm 2007, lần này là phim hoạt hinh điện ảnh truyền thống duy nhất trong danh sách.
Vào 1989, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn được đưa vào Tàng thư phim Quốc gia Mỹ và được coi là "có ý nghĩa quan trọng về văn hóa, lịch sử, và thẩm mỹ."

Cốt truyện

Sau phần mở đầu phim kể lại rằng Bạch Tuyết là một công chúa sống với mẹ kế là mụ hoàng hậu xinh đẹp nhưng rất phù phiếm và có nhiều quyền năng siêu nhiên đang nắm giữ vương quốc trong tay sau khi cha mẹ nàng qua đời. Mụ sợ mình không đẹp hơn Bạch Tuyết liền đày đọa nàng phải sống như một con người hầu rách rưới Hoàng hậu mới có một chiếc gương thần và hàng ngày đều hỏi gương thần: "Gương kia ngự ở trên tường, Thế gian ai đẹp được dường như ta?". Gương thần luôn trả lời "Muôn thưa hoàng hậu, bà là người đẹp nhất. Nhưng một ngày kia, khi Bạch Tuyết vừa lớn, khi hoàng hậu hỏi gương lại đựoc gương trả lời "Xưa kia bà đẹp nhất trần, ngày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn"
Hoàng hậu nổi lòng ghen tức và ra lệnh cho một tên thợ săn mang Bạch Tuyết vào rừng để giết và mang tim về làm chứng. Người thợ săn tốt bụng không đành lòng giết Bạch Tuyết bèn tha cho nàng và giết một con heo để lấy tim mang về cho Hoàng hậu.
Bạch Tuyết lang thang đi mãi trong rừng tới khi đến được một túp lều nhỏ của 7 chú lùn. Thấy túp lều bẩn thĩu, dơ dáy, nàng nghĩ rằng đây là lều của những đứa trẻ mồ côi không ai chăm sóc nên liền ra tay dọn dẹp giặt giữ vệ sinh ngôn nhà đến tận khuya. Nàng ngủ thiếp đi trên 7 cái người ghi tên:Doc, Grumpy, Happy, Sleepy, Bashful, Sneezy, and Dopey thì vừa lúc đó các chú lùn về tới. Họ thông cảm và để nàng ở lại. Từ đó, Bạch Tuyết chăm nom ngôi nhà cho các chú lùn đi làm ở mỏ đá quý. Hoàng Hậu lại được một phen hoảng hồn và tức giận khi hỏi gương thần và được gương thần trả lời: "Xưa kia bà đẹp nhất trần, giờ đây Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn, Nhà nàng ở cách núi non, tại nhà của bảy chú lùn xa xa" và trái tim bà đang cầm là tim lợn.
Hoàng hậu đã cải trang thành một bà già xấu xí mang theo trái táo có bỏ bùa "Sleeping Death" cắn vào sẽ thiếp đi như đã chết, chỉ có nụ hôn tình yêu đích thực mới cứu được. Mụ nghĩ rằng bọn lùn không biết nên sẽ chôn sống Bạch Tuyết khiến không ai có thể hôn nàng để phá giải lời nguyền nữa. Mụ tới nhà các chú lùn nói chuyện với Bạch Tuyết, Bạch Tuyết ngần ngại không mở cửa. Mụ vờ ngất xỉu vì mệt. Bạch Tuyết mủi lòng nên trúng kế ngay. Thú rừng thấy Bạch Tuyết mời mụ vô nhà liền chạy báo các chú lùn, nhưng khi họ về thì Bạch Tuyết đã trúng độc sau khi nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của mụ ta mà cắn trái táo độc. Các chú lùn liền truy sát mụ hoàng hậu độc ác. Mụ liền tìm cách cho đá đè chết họ nhưng ông Trời đã kịp cho sấm sét đánh ngã mụ xuống vực sâu, chết mất xác.
Các chú lùn không nỡ chôn Bạch Tuyết vì nàng chết mà như ngủ (thật ra là ngủ... thật), vẫn xinh đẹp như xưa, liền cho vào quan tài bằng thủy tinh, ngày đêm than khóc. Thời gian trôi qua, một hoàng tử vốn đã từng gặp và từng yêu Bạch Tuyết đi ngang qua và thấy nàng trong cô quan tài thủy tinh. Hoàng tử nhận ra người xưa vô cùng đau xót, liến đến hôn nàng khiến lời nguyền hóa giải. Hoàng tử và Bạch Tuyết về kinh đô sống hạnh phúc trọn đời.

Chuyện hậu trường

Với một cốt truyện quá quen thuộc với thiếu nhi và cả người lớn, ban lãnh đạo hãng phim Walt Disney thời bấy giờ thực sự băn khoăn liệu một cô gái được vẽ bằng tay có đủ sức thu hút sự chú ý người xem, nếu có thì hình ảnh ấy có giống như trong tưởng tượng của họ. Nhưng Bạch Tuyết và 7 người bạn của cô đã mang đến cho người xem một bộ phim hết sức ngọt ngào. Ấn tượng của hoạt hình này được tạo nên trước hết từ tài năng của các nghệ sĩ của Walt Disney, họ đã sáng tạo ra những màu sắc sáng đẹp, khung cảnh nền có độ sâu, nhân vật sống động.
Khó khăn nhất là nhân vật chính, nàng Bạch Tuyết. Nhân vật này phải là một cô gái rất xinh, duyên dáng, ngây thơ, vị tha, nhạy cảm và phải có một dáng đi uyển chuyển, nhẹ nhàng. Thật là một nhân vật đẹp như một siêu sao màn bạc và hoàn toàn tự nhiên như một con người thật ngoài đời. Để thực hiện ý đồ đó, Disney đã cất công tìm kiếm và chọn lựa từ rất nhiều diễn viên ra ứng cử. Cuối cùng, một cô bé 17 tuổi, là con của một ông chủ trường múa đã lọt vào mắt của Disney. Cô bé có dáng người mảnh mai, mềm mại được chọn làm người mẫu để các họa sĩ phát họa, ghi chép, nghiên cứu thể hiện.
Việc chọn giọng cho nàng Bạch Tuyết này cũng thật công phu. Nhiều ngày liền, Disney ngồi trong phòng ngăn riêng để nghe tiếng nói của các cô gái đến thử giọng cho Bạch Tuyết. Cuối cùng một giọng nói trong như pha lê, long lanh như bạc, ngân rung như họa mi của Adriana Caselotti - xuất thân từ gia đình nghệ sĩ hát opera được Disney chọn.
Bên cạnh chất lượng hình ảnh đẹp, những giai điệu tuyệt vời của các bản nhạc Someday My Prince Will Come, Heigh-Ho hay Whistle While You Work là những nét vẽ mang giai điệu khiến bức tranh Bạch Tuyết và 7 Chú Lùn càng xứng tầm tuyệt tác.
Ngoài ra, có rất nhiều điều thú vị trong quá trình sản xuất bộ phim này. Người ta đã liệt kê ra 50 ý tưởng khi sáng tạo 7 chú lùn và đặt tên cho họ theo đặc điểm hay tính cách. Nào là Awful, Biggy, Blabby, Dirty, Gabby, Gaspy, Gloomy, Hoppy, Hotsy, Jaunty, Jumpy, Nifty, Shifty... Chốt lại danh sách này, có 7 cái tên chính thức được chọn đó là Doc (Thầy Lang), Happy (Vui Vẻ), Sneezy (Hắt Hơi), Sleepy (Ngái Ngủ), Bashful (Bẽn Lẽn), Dopey (Ngốc Nghếch) và Grumpy (Gắt Gỏng). Ngoài ra, nhân vật Hoàng tử từng được dự tính là nhân vật chính nhưng việc xây dựng hình ảnh cho anh ta gặp nhiều khó khăn nên họ quyết định "đẩy" xuống làm diễn viên nền.
Trước khi Snow White and the Seven Dwarfs ra lò, Hollywood từng không mấy tin tưởng vào khả năng thành công của nó và coi đây là một dự án điên rồ không đem lại lợi ích gì cho Walt Disney.
Nhưng trái với suy nghĩ của nhiều người, và ngay cả mối lo lắng của chính những người tham gia sản xuất, bộ phim đã nhận Giải thưởng Danh dự bao gồm 1 tượng lớn và 7 tượng nhỏ. Khi Disney tung ra đĩa DVD vào ngày 5 tháng 10 năm 2001, ngay trong ngày đầu tiên 1 triệu bản đã bán.

Lồng tiếng

Nhạc phim

Bài hát nổi bật nhất trong phim là "Heigh-Ho".
Ngoài ra còn có:
  • "I'm Wishing/One Song"
  • "With a Smile and a Song"
  • "Whistle While You Work"
  • "Bluddle-Uddle-Um-Dum"
  • "The Silly Song"
  • "Some Day My Prince Will Come"
  • Heigh Ho

Tham khảo

Liên kết ngoài


Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Moskva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Moskva
Собор Непорочного Зачатия Пресвятой Девы Марии
Thông tin cơ bản
Vị trí Moskva
Hệ tọa độ địa lý 55,767279°B 37,57176°ĐTọa độ: 55,767279°B 37,57176°Đ
Tước hiệu giáo hội
hoặc tổ chức
Nhà thờ chính tòa
Mô tả kiến trúc
Thông số kỹ thuật
Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Moskva hay Nhà thờ chính tòa Đức Maria vô nhiễm nguyên tội Moskva (tiếng Nga: Собор Непорочного Зачатия Пресвятой Девы Марии, Sobor Neporotschnowo Satschatija Preswjatoj Dewy Marii, tên bình dân là: Костёл / Kostjol hay Кирха / Kirkha - "Nhà thờ Công giáo") là một nhà thờ kiến trúc tân Gothic được tổng giáo phận Công giáo Moskva dùng làm nhà thờ chính tòa. Nằm trong quận trung tâm, đây là một trong 2 nhà thờ duy nhất của Công giáoMoskva và là nhà thờ Công giáo lớn nhất ở Nga.[1]
Việc xây dựng nhà thờ chính tòa này do chính quyền Sa hoàng đề nghị năm 1894. Lễ khởi công diễn ra năm 1899. Việc xây dựng bắt đầu từ năm 1901 và được hoàn thành 10 năm sau. Nhà thờ gồm 3 gian dọc, xây bằng gạch đỏ theo bản thiết kế của kiến trúc sư Tomasz Bohdanowicz-Dworzecki. Phong cách kiến trúc chịu ảnh hưởng của tu viện Westminsternhà thờ chính tòa Milano.
Được các quỹ của các giáo xứ Nga và các nước lân bang đài thọ, nhà thờ được thánh hiến như một nhà nguyện dành cho giáo xứ người Ba LanMoskva năm 1911. Do hậu quả của cuộc cách mạng Nga năm 1917, chính phủ lâm thời Nga bị những người Bolshevik lật đổ và nước Nga trở thành một nước trong Liên bang Xô Viết. Do chủ trương áp dụng chủ nghĩa vô thần chống mọi tôn giáo, chính phủ Xô Viết ra lệnh đóng cửa nhà thờ này vào năm 1938. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà thờ này đã bị đe dọa phá hủy, nhưng sau chiến tranh thì nhà thờ này được sử dụng cho các mục đích dân sự như nhà kho và sau đó là nhà ăn ở tập thể. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu năm 1991, nhà này được trả lại dùng làm nhà thờ từ năm 1996. Năm 2002 nhà thờ này được nâng lên hàng nhà thờ chính tòa. Sau một đợt trùng tu và trang trí lại tốn kém, nhà thờ này đã được tái thánh hiến trong năm 2005.
Sau 58 năm bị sử dụng vào những mục đích dân sự, nhà thờ này lại được dùng làm nơi thờ tự. Hiện nhà thờ có những nghi thức phụng vụ bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó có tiếng Nga, tiếng Ba Lan, tiếng Triều Tiên, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Armeniatiếng Latin. Đàn đại phong cầm của nhà thờ hiện nay là đàn organ thứ ba kể từ khi xây nhà thờ, do nhà thờ chính tòa Basel (Thụy Sĩ) tặng.
Hiện nay, nhà thờ này được đưa vào danh sách di sản của Liên bang Nga và được bảo tồn.[2][3]

Lịch sử

Thời kỳ xây dựng đầu tiên

Bản thiết kế qui hoạch của kiến trúc sư Tomasz Bohdanowicz-Dworzecki
Vào cuối thế kỷ 19, ở Moskva chỉ có 2 nhà thờ Công giáo: nhà thờ thánh Louis của người công giáo Pháp và nhà thờ thánh Phêrô và Phaolô dành cho người Công giáo Ba Lan. Do cộng đoàn người Công giáo Ba Lan ở Moskva tăng lên tới khoảng 30.000 người, ngôi nhà thờ của họ trở nên quá nhỏ bé, không đủ sức chứa. Sau khi nộp đơn lên thống đốc Moskva xin xây một nhà thờ mới, năm 1894 hội đồng thành phố đã biểu quyết cho phép xây một nhà thờ mới, với nhiều điều kiện trong đó có 2 điều kiện liên quan tới địa điểm xây cất: nhà thờ mới phải xây ở bên ngoài trung tâm khu thành cổ, và không được ở gần nơi thánh thiêng của Chính thống giáo Nga.[4]
Theo điều kiện đòi hỏi của Hội đồng thành phố, ngày 16 tháng 5 năm 1895 giáo xứ đã thương lượng mua khu đất 10 hecta (22 acre) ở phố Malaya Gruzinskaya, thời đó khu đất này vẫn còn ở ngoại ô thành phố, xung quanh là ruộng đồng và vườn cây. Ngày nay khu này thuộc về khu trung tâm đô thị, ở bên ngoài đại lộ bao quanh khu trung tâm thành phố, ngay bên ngoài tuyến đường xe điện ngầm Koltsevaya bao quanh khu trung tâm thành phố, là khu có nhiều nhà cao tầng từ khi phát triển đô thị ở thế kỷ 20. Giá mua khu đất này thời đó là 10.000 rúp Nga bằng vàng (xấp xỉ 260.000 dollar Mỹ tính theo năm 2012).[5] do tiền quyên tặng. Hợp đồng mua bán đất và danh sách đầy đủ mọi người quyên tặng tiền hiện vẫn còn lưu trong hồ sơ lưu trữ của thành phố Moskva và thành phố Sankt Peterburg.[4][6]
Một điều kiện nữa mà Hội đồng thành phố áp đặt cho việc xây dựng nhà thờ mới như sau: "Xét vì đã có sẵn 2 nhà thờ Công giáo rồi, thì nhà thờ tương lai phải lớn hơn các nhà thờ cũ, với một thánh giá ở đầu hồi, nhưng không có tháp chóp nhọn và tượng điêu khắc ở bên ngoài".[4] Bản đồ án xây dựng do kiến trúc sư người Nga gốc Ba Lan Tomasz Bohdanowicz-Dworzecki thiết lập. Mặc dù đồ án không tuân thủ điều kiện cuối cùng (về tháp nhọn) của hội đồng thành phố, nhưng vẫn được chấp thuận. Theo đồ án thì nhà thờ có đủ chỗ ngồi cho 5.000 tín đồ. Lễ khởi công diễn ra từ năm 1899, nhưng việc xây dựng bắt đầu từ 1901 tới năm 1911 mới hoàn tất. Chi phí xây dựng là 290.000 rúp Nga bằng vàng (xấp xỉ 7.500.000 dollar Mỹ tính theo năm 2012), phần lớn là do các thành viên trong giáo xứ Ba Lan ở Moskva đóng góp, số còn lại do các giáo xứ Công giáo khắp nước Nga, Ba Lan và Belarus quyên góp.[4][5][6]
Nhà thờ được thánh hiến ngày 21 tháng 12 năm 1911 với danh hiệu "Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm". Buổi lễ thánh hiến được các báo Nga và Ba Lan loan tin rộng rãi. Tờ Russkoye Slovo của Moskva viết:
Trên đường phố Malaya Gruzinskaya tồi tàn, bẩn thỉu, đã mọc lên một nhà thờ Công giáo mới kỳ diệu, có tính nghệ thuật cao, được cung hiến cho Đức Maria vô nhiễm nguyên tội. Có độ rộng và chiều cao lớn lao, ... với nhiều tháp nhỏ và tháp lớn cùng thánh giá. Nhà thờ chính tòa mới này gây một ấn tượng sâu sắc  ... Mọi chi tiết đều trông rất ấn tượng và nổi bật: không hề thấy một sai sót nhỏ về phong cách nghệ thuật.[4]
Từ năm 1911 tới năm 1917, người ta đã quyên tiền để mua sắm đồ nội thất, tương đối khá sơ sài, ngoại trừ bàn thờ chính rất đẹp. (Những đồ nội thất nguyên thủy vẫn còn giữ được cho tới thập niên 1930). Nhiều phần trong đồ án xây dựng đã bị bỏ: sàn nhà không được lát bằng đá cẩm thạch như dự thảo mà bằng bê tông thông thường; bên ngoài mặt tiền không có các tháp nhọn. Nhiều nguồn khác nhau về việc xây dựng các tháp nhọn: một số người cho rằng chúng được xây năm 1923,[5] nhưng một số khác lại cho rằng chúng chưa hoàn tất cho tới khi tái thiết nhà thờ vào năm 1999.[4][6] Những người nói các tháp nhọn được xây dựng năm 1923 cho rằng chúng đã bị hủy hoại trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai.[5]

Bị đóng cửa và chuyển đổi mục đích sử dụng

Nhà thờ hư hại năm 1980
Sau cuộc Các mạng Nga năm 1917, chính phủ Nga lâm thời bị những người Bolshevik lật đổ, và Đế quốc Nga trở thành một nước trong Liên bang Xô Viết mới. Do chủ trương áp dụng chủ nghĩa vô thần chống mọi tôn giáo, chính phủ Xô Viết ra lệnh đóng cửa nhiều nhà thờ. Giáo xứ thánh Phêrô và Phaolô bị chính phủ cộng sản giải thể trong năm 1929, việc cử hành thánh lễ bị cấm triệt để.
Năm 1935 nhà thờ mới này bị tịch thu các khu vườn chung quanh để lấy đất xây một trường học trong năm sau, và cuối cùng nhà thờ bị đóng cửa ngày 30 tháng 7 năm 1938 (trước đó 9 ngày, nhà thờ thánh Phêrô và Phaolô cũng cùng chung số phận). Sau khi bị đóng cửa, nhà thờ đã bị lấy đi nhiều vật dụng, kể cả bàn thờ chính và cây đàn organ. Nhà thờ đã bị sử dụng làm kho chứa rau quả trong nhiều tháng, sau đó được xây lại thành 4 tầng lầu dùng làm nơi cư trú và ăn ở tập thể.[4]
Chỏm nhọn của tháp chính bị gỡ bỏ trong thời kỳ diễn ra trận Moskva (1941) nhằm ngăn ngừa Luftwaffe (Không quân Đức) dùng nó làm mục tiêu nhận ra vị trí tấn công. Ngay sau khi chiến tranh kết thúc trong năm 1945, các khu vườn cũ của nhà thờ bị sát nhập vào khu nhà chung cư cao tầng. Năm 1956 một trận hỏa hoạn đã khiến cho phần cửa trời lấy ánh sáng phía trên vòm tháp chính bị sụp đổ. Các cư dân chiếm ngụ nhà thờ dần dần được đưa tới các nhà khác, và các thành viên của "Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt" (tiếng Nga: Мосспецпромпроект) nắm quyền sở hữu ngôi nhà thờ cũ này. Việc làm của viện nghiên cứu này chủ yếu là lập ra các bản vẽ dự án cho các nhà máy công nghiệp,[4] nhưng cũng thiết kế cái vạc đốt lửa cho sân vận động Luzhniki dùng trong Thế vận hội Mùa hè 1980.[7]
Trong thập niên 1960 và 1970, phần bên ngoài của nhà thờ bị hư hại nhiều.[4] Trong số những người quan tâm đến sự hư hỏng của nhà thờ, có ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác Vladimir Vysotsky, người sống ở bên kia đường phố đối diện nhà thờ.[8] Vào cuối thập niên 1970 thành phố định tái thiết ngôi nhà thờ để có thể dùng làm phòng hòa nhạc cho đàn organ hoặc trung tâm văn hóa nói chung. Tuy nhiên các dự án này không hề được thực hiện, do sự phản kháng của Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt.[4]

Được sử dụng lại cho mục đích tôn giáo

Các giáo hữu cầu nguyện trong nhà thờ được phỏng theo tạm thời, khoảng 1993
Chính sách glasnost được áp dụng trong thời nắm quyền của Mikhail Sergeyevich Gorbachyov, đã đóng vai trò quyết định trong việc phát triển tự do tôn giáo trong Liên bang Xô Viết.[9] Do vậy, năm 1989, một nhóm người Công giáo Moskva và hiệp hội văn hóa "Nhà Ba Lan" (tiếng Nga: Дом Польский), đề nghị đưa tòa nhà này vào sử dụng lại cho mục tiêu tôn giáo. Sau khi được thành phố đồng ý, nhà thờ này đã được dùng trở lại làm nơi thờ phụng tạm thời. Thánh lễ đầu tiên được cử hành tại cầu thang nhà thờ kể từ 60 năm qua trong lễ kính Đức Maria vô nhiễm nguyên tội ngày 8 tháng 12 năm 1990. Thánh lễ do linh mục người Ba Lan Tadeusz Pikus cử hành, người sau này trở thành Giám mục phụ tá của tổng giáo phận Warszawa.[4][5]
Tháng 1 năm 1990, một nhóm người Công giáo ở Moskva đã chính thức thành lập giáo xứ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Ngày 13 tháng 4 năm 1991 giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành thư luân lưu Providi quae, thiết lập "Giám quản Tông Tòa cho nước Nga thuộc châu Âu". Tổng Giám mục giám quản tông tòa, Tadeusz Kondrusiewicz, ban hành giáo lệnh tái thiết nhà thờ ngày 21 tháng 4 năm 1991. Được sự cho phép của thành phố, một thánh lễ thứ hai lại được cử hành ở cầu thang nhà thờ nhân ngày quốc khánh Ba Lan vào ngày 3 tháng 5 năm 1991. Việc thiết lập giáo xứ được ban tư pháp của Hội đồng thành phố Moskva chính thức công nhận ngày 31 tháng 5 năm 1991. Trong thời gian đó nhiều phần của nhà thờ đã bị Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt cho nhiều công ty thuê lại.[4]
Từ ngày 7 tháng 6 năm 1991, các thánh lễ được cử hành mỗi ngày chủ nhật ở sân nhà thờ, vì Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt vẫn chiếm đóng nhà thờ. Ngày 15 tháng 7 năm 1991, linh mục Josef Sanewski, thuộc Dòng Salêdiêng Don Bosco, được bổ nhiệm làm cha xứ. Việc dạy giáo lý được thực hiện thường xuyên dưới sự hướng dẫn của các nữ tu dòng Don Bosco từ ngày 29 tháng 11 năm 1991. Cùng thời gian đó, các hội từ thiện đầu tiên được thành lập để chăm sóc và giúp đỡ các người nghèo. Ngày 1 tháng 2 năm 1992 phó thị trưởng thành phố Moskva, Yury Luzhkov, đã ký một nghị định ra lệnh cho Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt trả lại tòa nhà từ năm 1994. Ngày 2 tháng 7 năm 1992 các thành viên của giáo xứ đã vào chiếm xưởng làm việc của Viện nghiên cứu trong nhà thờ. Hội đồng thành phố Moskva đã chấp nhận việc chiếm đóng này, nên sau đó đã xây một bức tường ngăn với phần còn lại của tòa nhà. Tại khu vực xưởng cũ này, thánh lễ đã được cử hành thường xuyên.[4][5]
Nhà thờ trước khi tái thiết (giữa thập niên 1990). Biểu ngữ ghi: Hãy trả nhà thờ cho chúng tôi!" (Верните нам храм!)
Ngày 7 tháng 3 năm 1995 bức tường ngăn cách nói trên đã bị các thành viên giáo xứ gỡ bỏ và bắt đầu lau chùi giàn kèo đỡ mái nhà. Viện nghiên cứu gọi đơn vị cảnh sát đặc nhiệm OMON tới ngăn cản. Ngày hôm sau đã xẩy ra xung đột giữa giáo dân với cảnh sát, nhiều giáo dân trong đó có một nữ tu sĩ đã bị thương. Những người khác bị bắt, kể cả cha xứ và một chủng sinh, nhưng hôm sau họ đã được thả. Sau vụ việc này, vị giám quản Tông Tòa Tadeusz Kondrusiewicz đã viết một thư ngỏ cho tổng thống Nga Boris Yeltsin vào ngày 9 tháng 3 năm 1995, yêu cầu ông can thiệp, trong đó có đoạn: "Dường như sự bách hại giáo hội đã trở thành lịch sử rồi mà. Phải vậy không? Tôi không thể nhớ là (khi nào) đã nhìn thấy một linh mục bị bắt, và cũng không thể nhớ là (khi nào) đã nhìn thấy một nữ tu sĩ bị đánh đập".[4]
Kết quả là viên thị trưởng thành phố Moskva Yuri Luzhkov, một người được Yeltsin bổ nhiệm, đã ký quyết định ngày 7 tháng 3 năm 1995 ra lệnh di dời viện nghiên cứu ra khỏi nhà thờ từ năm 1996. Cùng lúc đó, Viện nghiên cứu đã viết thư cho Luzhkov mô tả vụ việc xẩy ra trước đó theo quan điểm của họ, và yêu cầu bồi thường việc họ mất tòa nhà. Trong một cuộc họp với Đại sứ Ba Lan, Stanisław Ciosek, ngày 15 tháng 3 năm 1995, quyền thị trưởng thành phố Moskva - Alexander Musykantski - đảm bảo với ông rằng việc trả lại nhà thờ sẽ được hoàn tất vào cuối năm.[5]
Ngày 19 tháng 3 năm 1995, một thánh lễ do sứ thần Tòa Thánh John Bukowski chủ tế được cử hành trong phần nhà thờ đã đòi lại, trong đó vị sứ thần đã chuyển phép lành của giáo hoàng cho cộng đoàn giáo xứ. Trong một quyết định mới ngày 2 tháng 11 năm 1995, Luzhkov ra lệnh cho Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt di dời khỏi nhà thờ chậm nhất là vào cuối năm. Ngày 2 tháng 1 năm 1996 khi lệnh di dời không được thi hành, các giáo dân đã vào khu cực viện nghiên cứu và đem đồ đạc của viện ra ngoài. Giám đốc viện, Evgeny Afanasyev lại gọi cảnh sát tới, nhưng lần này họ từ chối can thiệp. Sau đó, viên giám đốc viện đã yêu cầu cha xứ gia hạn di dời 2 tuần lễ, và Viện Mosspetspromproyekt đã dời khỏi tòa nhà ngày 13 tháng 1 năm 1996. Ngày 2 tháng 2 năm 1996, tổng giáo phận Mẹ Thiên Chúa Moskva đã nhận được phép chính thức sử dụng vĩnh viễn nhà thờ này.[5]

Trùng tu và tái thánh hiến

Cảnh nhà thờ chính tòa đã tu bổ vào ban đêm. Dàn đèn chiếu sáng bên ngoài được bố trí vào cuối năm 2005.[10]
Đầu thập niên 1990, "Cơ quan bảo vệ Công trình xây dựng lớn" đã lập kế hoạch tu bổ nhà thờ dự trù vào năm 1997 nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập thành phố Moskva lần thứ 850. Đề án này đã không được thực hiện do tranh chấp về việc chiếm giữ. Tuy nhiên, năm 1995 thành phố đã quyết định cho tu bổ và giáo xứ phải chịu các chi phí tu bổ. Một ban tái thiết đã được thành lập gồm linh mục chính xứ Josef Sanevski làm chủ tịch, các thành viên là sử gia người Nga Stanislav Durnin, nhà thầu xây dựng Ba Lan và chính trị gia Grzegorz Tuderek.[4]
Từ năm 1996 tới năm 1999, việc tu bổ nhà thờ đã được thực hiện với sự giúp đỡ của các nhà tài trợ là công ty EnergoPol của Ba Lan, và Hiệp hội các nhà thờ Công giáo Đức Renovabis.[5] Chính phủ Nga đã cấp vốn khi chấm dứt dự án.[4] Việc trùng tu đã diễn ra ban đầu dưới sự chỉ đạo của các công ty Ba Lan PKZ và Budimex, họ đã phục hồi hoàn toàn mặt tiền nhà thờ và mái nhà. Từ tháng 9 năm 1998, linh mục Andrzey Stetskevich và kiến trúc sư Jan Tajchman của công ty Toruń của Ba Lan đã cùng trông coi việc tái thiết; trước đây họ đã cùng trông coi việc tái thiết Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ lên trời của Công giáo ở Sankt Peterburg. (linh mục Stetskevich sau này thăng lên làm tổng đại diện tổng giáo phận Công giáo Moskva). Các đồ đạc cố định và bàn thờ mới do các chuyên gia Ucraina, Belarus và Nga thực hiện. Các công ty ở Moskva thực hiện việc lắp ghép đá cẩm thạch ở bên trong và bên ngoài nhà thờ. Các đồ nội thất được các sinh viên của trường phục chế ở Sankt Peterburg sản xuất, dưới sự chỉ đạo của Vladimir Mukhin. Các kính màu dùng cho cửa sổ hình hoa hồng ngoài mặt tiền được làm ở Toruń, còn các cửa sổ khác được công ty Tolotschko của Belarus từ Hrodna sản xuất.[4][5][11] Nhà thờ làm lễ tái khai trương ngày 12 tháng 12 năm 1999 và được hồng y quốc vụ khanh của giáo triều Rôma Angelo Sodano tái thánh hiến.[5] Liên kết với nhà thờ chính tòa có một thư viện, một tòa soạn tạp chí Công giáo tiếng Nga "Sứ giả Công giáo – Ánh sáng Phúc âm" (tiếng Nga: Католический вестник — Свет Евангелия) cũng như văn phòng Caritas địa phương.

Kiến trúc và các vật trang trí

Cận cảnh các tháp nhọn. Tháp nhọn ở giữa hình là hình huy hiệu của giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Nhà thờ chính tòa được xây theo phong cách kiến trúc tân Gothic, có 3 gian dọc và cánh ngang theo hình thập tự với gian cung thánh hình bán nguyệt. Nhà thờ được xây toàn bằng gạch đỏ, không trát vữa xi măng bên ngoài. Năm gian chính theo chiều dọc dài 65 mét (213 ft), mỗi gian này lại có nhánh phụ dài 13 mét (43 ft). Tháp cửa trời lấy sáng hình bát giác bên trên chỗ giao nhau giữa gian giữa và gian ngang cao 30 mét (98 ft). Mặt tiền nhà thờ dựa trên thiết kế của tu viện Westminster, còn tháp chuông thì hơi giống tháp của nhà thờ chính tòa Milano.[5][12] Điển hình cho nhà thờ theo phong cách cũ, mỗi gian dọc ở hai bên đều được gia cố bằng 5 cột trụ tường, 10 trụ tường tổng cộng tượng trưng cho Mười điều răn. Các thánh giá được dựng lên bên trên mỗi tháp chuông; tháp nhọn ở giữa mặt tiền và 2 tháp nhọn ở 2 bên mang hình huy hiệu của Giáo hoàng Gioan Phaolô II và huy hiệu của tổng Giám mục Tadeusz Kondrusiewicz.[12]
Muời bậc bước lên cửa chính tượng trưng cho 10 điều răn, còn bậc thứ 11 tượng trưng cho chúa Giêsu Kitô.[6][12] Cửa chính tượng trưng cho cửa thiên đàng, nơi tới được bằng cách giữ 10 điều răn và những lời dạy của chúa Giêsu. Cửa chính có các cột bao quanh trên đầu là trán cửa hình tam giác. Trán cửa này được trang trí bằng một hình đắp nổi, ở giữa hình đắp nổi có các chữ cái lồng nhau màu vàng "VMIC" (Virgo Maria Immaculata Concepta, chữ Latin có nghĩa là "Maria, được hoài thai không mắc tội tổ tông truyền") thay cho thiết kế kiến trúc ban đầu là Ngôi sao David,[6][12] nhắc tới đức tin Do Thái giáo của đức Trinh nữ Maria. Bên trên trán cửa hình tam giác là một cửa sổ hình hoa hồng cao 3 mét (9,8 ft) bằng đá trong mờ và sáng màu.[12]

Nội thất

Bên trong nhà thờ chính tòa, nhìn từ tầng gác chứa đại phong cầm
Ở 2 bên lối đi phụ vào nhà thờ có một tượng thánh giá bằng đá và một bồn nước phép. Trên cao phía bên trái có một viên gạch từ Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Laterano, còn bên phía phải là huy chương Năm Thánh 2000. Trong tầng hầm mộ có nhà nguyện nhỏ, các phòng dạy giáo lý và phòng của cơ quan từ thiện Caritas.[12]
Gian dọc chính có kê các ghế dài, còn các gian dọc 2 bên có các tòa giải tội. Trước khi nhà thờ bị đóng cửa năm 1938 thì trong các tòa giải tội có kê ghế dài. Sau khi tái thiết thì phía bên trái được dành cho phụ nữ, còn phía bên phải dành cho nam giới.[12] Cả 2 gian dọc bên cạnh đều cách với gian dọc giữa bởi các hàng cột, gồm 4 cột lớn và 2 cột nhỏ. Các cột và mái nhà được sơn màu trắng, còn tường thì sơn màu kem. Sàn nhà thờ được ghép bằng đá cẩm thạch màu sáng và màu xám theo ô vuông.[12]
Phần lớn các cửa sổ kính màu ở độ cao 8,5 mét (28 ft)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] đều có các hoa văn trừu tượng. Những cửa sổ ở phía trước thể hiện huy hiệu của các sứ thần Tòa Thánh, John Burkowski và Francesco Colasuonno. Các cửa sổ ở cánh ngang nhà thờ thì hơi lớn hơn và có hoa văn phức tạp hơn. Cửa sổ kính màu ở cánh ngang phía bên phải mô tả hình thánh Phêrôthánh Anrê, tượng trưng cho 2 nhánh tây và đông của Giáo hội Công giáo. Cửa sổ kính màu ở cánh ngang đối diện bên trái mô tả đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đang nhìn ngắm đức Mẹ Fatima. Ở gian giữa, dưới các cửa sổ, là 14 hình đắp nổi mô tả 14 chặng đàng Thánh Giá.[12]
Lối vào phòng áo lễ nằm ở cuối cánh ngang bên phải, gần gian cung Thánh; ở cuối cánh ngang phía bên trái là nhà nguyện kính Lòng Nhân từ Chúa. Tòa đặt Mình Thánh Chúa đặt trên bàn thờ của nhà nguyện này. Bàn thờ chính của nhà thờ được bọc bằng đá cẩm thạch màu xanh đen, có chứa thánh tích của các thánh Anrê, Zenon thành Verona, Gregory thành Nyssa, Gregory thành Nazianzus, Cosmas và Damiano, Basilissa và Anastasia, cũng như ảnh Áo đức Bà và một tặng phẩm của giáo phận Verona. Tòa giảng nằm ở phía bên phải của bàn thờ, được bọc bằng cùng loại đá cẩm thạch như bàn thờ. Phía sau bàn thờ, trên tường của gian cung thánh, có một Thánh giá bằng đá cao 9 mét với tượng chúa Giêsu chịu đóng đinh cao 3 mét. Các hình trên lớp vữa mô tả Maria và thánh Gioan Tẩy giả do kiến trúc sư Svyatoslav Sakhlebin làm, một ở bên trái và một ở bên phải của các rầm chìa. Đối diện với bàn thờ và ở phía trên của tiền sảnh là tầng gác đặt đàn đại phong cầm, ban đầu có sức chứa 50 người hợp ca; nhưng một phần lớn tầng gác này nay đã bị đàn đại phong cầm choán chỗ.[12]

Đàn đại phong cầm và các chuông

Đàn đại phong cầm của nhà thờ năm 2007
Đàn đại phong cầm hiện nay của nhà thờ là chiếc đàn thứ ba kể từ khi xây dựng nhà thờ, và là một trong các đại phong cầm lớn nhất ở Nga. Chiếc đàn organ thứ nhất bị Nhà nước tịch thu năm 1938; chiếc đàn thứ hai - một đàn organ điện với 60  ống điều chỉnh hơi - được đưa vào sử dụng trong dịp trùng tu nhà thờ năm 1999. Chiếc đàn này do tổ chức từ thiện "Trợ giúp Giáo hội Nga" của Hoa Kỳ tặng. Chiếc đàn này được thay thế bằng đàn đại phong cầm trong thời gian từ năm 2002–2005.[13][14]
Đàn đại phong cầm này được công ty Orgelbau Kuhn AG ở Männedorf, Thụy Sĩ chế tạo năm 1955 cho Nhà thờ chính tòa Tin Lành Cải cách Basel MünsterBasel,Thụy Sĩ. Nhà thờ chính tòa Basel Münster đã tặng chiếc đàn này cho Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Moskva bắt đầu từ năm 2002, nhưng tới năm 2005 mới chuyển hết các chi tiết được tháo rời ra - ngoại trừ ống đàn bè trầm chính số 65 dài tới 10 mét, được giữ lại. Khi vận chuyển, các ống đàn được bọc trong những quần áo mới do người dân Basel tặng, sau đó số quần áo này đã được phân phát cho người nghèo ở Moskva. Việc lắp ráp các chi tiết ở Moskva được thực hiện bởi công ty Orgelbau Schmid ở Kaufbeuren, Đức, dưới sự chỉ đạo của Gerhard Schmid, người đã từ chối không nhận tiền thanh toán cho công việc của mình. Trong thời gian lắp ráp, Schmid bị tử nạn vì bị rơi xuống từ giàn ráo vào ngày 9 tháng 9 năm 2004; sau đó người con của ông – Gunnar – đã hoàn tất việc lắp ráp.[13][15]
Ống đàn bè trầm chính dài 10 mét được giữ lại, sau đó đã được dùng cho chiếc đàn organ mới của nhà thờ chính tòa Münster. Ống đàn này có khả năng tạo một âm 16,35 Hertz, với âm Đô trầm có 4 quãng 8 trầm hơn âm Đô trung, sau đó đã được tái tạo ở Moskva và được gắn thêm vào đàn đại phong cầm của nhà thờ trong năm 2009.[14]
Các quả chuông của nhà thờ
Năm quả chuông của nhà thờ được đặt trong vòm cuốn gồm 3 vòm đỉnh nhọn bên trên mái nhà thờ ở bên trái mặt tiền. Chúng được đúc tại xưởng đúc chuông Felczyński ở Przemyśl, Ba Lan, và được Giám mục Wiktor Skworc trao tặng[4][12]. Chiếc chuông lớn nhất cân nặng 900 kilôgam (2.000 lb) mang tên "Đức Mẹ Fatima". Còn các chuông khác mang các tên - từ chuông nhỏ nhất tới chuông lớn nhất: "Gioan Phaolô II"; "thánh Juda Tông đồ", (theo tên thánh quan thầy của tổng Giám mục Tadeusz Kondrusiewicz); "Năm Thánh 2000"; và "thánh Victor" (theo tên thánh quan thầy của Giám mục Wiktor Skworc.[4][12]. Bộ chuông này được kích hoạt bằng điện.

Thế kỷ 21

Ngày 11 tháng 2 năm 2002, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thiết lập "Tổng giáo phận Công giáo Moskva" và bổ nhiệm Tổng Giám mục Tadeusz Kondrusiewicz làm quản nhiệm Tông tòa, đồng thời nâng nhà thờ Đức Mẹ vô nhiễm lên hàng Nhà thờ chính tòa của tổng giáo phận. Quyết định này đã bị Thượng phụ Chính thống giáo Aleksiy II chỉ trích, cho rằng đây là việc "thù địch", vì ông cho rằng Giáo hội Công giáo Rôma coi nước Nga là một cánh đồng truyền giáo.[16]. Tháng 3 năm 2002, các thành viên của nhà thờ chính tòa và các giáo dân Công giáo từ các thành phố châu Âu khác đã tham gia buổi đọc tràng hạt Mân Côi do Giáo hoàng dẫn dắt thông qua phương tiện truyền hình.
Từ khi tái mở cửa, nhiều lễ nghi phụng vụ đã được cử hành hàng ngày trong nhà thờ. Ngôn ngữ chính trong thánh lễ là tiếng Nga, nhưng cũng có các thánh lễ được cử hành bằng tiếng Ba Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Triều Tiên, tiếng Latintiếng Armenia (theo Nghi lễ Armenia).[17]
Đàn đại phong cầm tái thiết — với 74 nút điều chỉnh hơi, 4 dàn phím và 5.563 ống hơi — được Tổng Giám mục Tadeusz Kondrusiewicz thánh hiến ngày 16 tháng 1 năm 2005. Sau lễ thánh hiến là buổi hòa nhạc mở đầu "Liên hoan quốc tế nhạc đàn organ lần thứ nhất" (First International Festival for Organ Music). Liên hoan này kéo dài 1 tháng với nhiều buổi hòa nhạc organ trong nhà thờ chính tòa này. Buổi hòa nhạc kết thúc liên hoan diễn ra dưới sự điều khiển của nhạc sĩ chơi đàn organ James Edward Goettsche của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô.[18] Đàn organ và các buổi hòa nhạc phụng vụ diễn ra thường xuyên trong nhà thờ chính tòa này; thông thường thì vào cửa miễn phí, ngoại trừ những buổi hòa nhạc chọn lọc phải mua vé vào cửa. Một buổi hòa nhạc tưởng niệm những nạn nhân của Vụ rơi máy bay Tu-154 của Không quân Ba Lan năm 2010 đã được tổ chức ngày 12 tháng 4 năm 2010.[5]

Tham khảo

  1. ^ Russlands größte katholische Kirche” [Russia's largest Catholic church] (bằng tiếng Đức). Deutschlandradio. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
  2. ^ Kath. Kathedrale in Moskau verlegt Gottesdienste” [Catholic Cathedral of Moscow rescheduled service] (bằng tiếng Đức). Priesterbruderschaft St. Pius X. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011.
  3. ^ храм римско-католический” [Roman Catholic church] (bằng tiếng Nga). Министерство культуры Российской Федерации—Главный инофрматционно-Вычислителый центр. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2011.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ История кафедрального собора в Москве” [Lịch sử nhà thờ chính tòa Moskva] (bằng tiếng Nga). Catholic.ru. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k О Храме” [Về nhà thờ] (bằng tiếng Nga). Website chính thức của nhà thờ. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  6. ^ a ă â b c Phim tài liệu truyền hình về nhà thờ, từ loạt phim "Thần thoại và Truyền thuyết", chiếu tại kênh Stolitsa; (tiếng Nga), tra cứu 30-03-2009
  7. ^ I. Фонды учреждений, организаций, предприятий-разравотчиков проектной дукументации” [Fund agencies, organisations, economic developers project documentation] (bằng tiếng Nga). Московское Городское Объединение Архивов. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2012.
  8. ^ По Москве Владимира Высоцкого и его литературных героев (Dọc theo Moskva của Vladimir Vysotsky và các nhân vật văn chương của ông), bài chuyên khảo của Lyubov Ossipova, tháng 5 năm 1985; xem trực tuyến (tiếng Nga), tra cứu 30-03-2009
  9. ^ Watch 1991, tr. 74, 147–149
  10. ^ Московские власти проводят подсветку католического собора” [Lightning implemented on the Catholic Cathedral by Russian administrations] (bằng tiếng Nga). NEWSru.com. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  11. ^ Instytut Zabytkoznawstwa i konsewatorstwa” [Viện Di sản Văn hóa và Bảo tồn] (bằng tiếng Ba Lan). Đại học Nikolaus Kopernikus tại Toruń. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  12. ^ a ă â b c d đ e ê g h i О Храме » Архитектура храма” [Về nhà thờ » Kiến trúc nhà thờ] (bằng tiếng Nga). Website chính thức của nhà thờ. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  13. ^ a ă Jan Smirnitski (17 tháng 1 năm 2005). “Дядя, дай подудеть!” [Ông chú ơi, hãy thổi đi?] (bằng tiếng Nga). Moskovskij Komsomolets. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  14. ^ a ă “Organ”. "De Boni Arte" Charitable Foundation. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2011.
  15. ^ Firmenportrait 1955–2005” [Các mốc điển hình của công ty giai đoạn 1955–2005] (bằng tiếng Đức). Orgelbau Schmid Kaufbeuren e.K. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  16. ^ Greg Watts (14 tháng 2 năm 2004). “Russia and Rome Rethink Relations”. The Sunday Times.(cần đăng ký mua)
  17. ^ О Храме » Расписание Богослужений” [Về nhà thờ » Thành viên] (bằng tiếng Nga). Website chính thức của nhà thờ. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2009.
  18. ^ Международный фестиваль органной музыки.” [Liên hoan quốc tế nhạc đàn organ] (bằng tiếng Nga). 10 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009.

Đọc thêm

  • O. N. Orobey; O. I. Lobov (2001). Cтроители России. XX век: антология (Những người xây dựng nước Nga. Thế kỷ 20: Hợp tuyển) (bằng tiếng Nga). O Master Verlag. ISBN 5-9207-0001-7.
  • P. V. Sytin (2008) [Xuất bản lần đầu năm 1948]. Из истории московских улиц (Từ lịch sử các đường phố Moskva) (bằng tiếng Nga). Moskva: Exmo Verlag. ISBN 978-5-699-24988-6.
  • Glasnost in Jeopardy: Human Rights in the U.S.S.R.. Helsinki Watch. Tháng 3 năm 1991. ISBN 978-0-929692-89-0. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.

Liên kết ngoài


Bethlehem

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bethlehem (tiếng Ả Rập: بيت لحم, , nghĩa đen: "Nhà thịt cừu non"; tiếng Hy Lạp: Βηθλεέμ Bethleém; tiếng Hebrew: בית לחם‎, Beit Lehem, nghĩa đen: "Nhà bánh mì"; tiếng Việt còn gọi là Bêlem từ tiếng Bồ Đào Nha : Belém ) là một thành phố của Palestine ở miền trung Bờ Tây, phía nam thành phố Jerusalem khoảng 10 km. Bethlehem có khoảng 30.000 cư dân và là thủ phủ của Nha thủ hiến Bethlehem (Bethlehem Governorate) thuộc Chính quyền quốc gia Palestine (Palestinian National Authority), đồng thời cũng là một trung tâm văn hóa và du lịch của Palestine.[1][2]

Địa lý

Bản đồ chỉ vị trí thành phố Bethlehem
Bethlehem nằm trên độ cao 775 mét (2.542,7 ft) trên mực nước biển, 30 mét (98,4 ft) cao hơn thành phố lân cận Jerusalem.[3] Bethlehem nằm ở phần phía nam của dãy núi Judea, cách 73 ki-lô-mét (45 mi) phía đông bắc dải GazaĐịa Trung Hải, 75 ki-lô-mét (47 mi) phía tây của thành phố Amman, Jordan, 59 ki-lô-mét (37 mi) đông bắc của thành phố Tel Aviv, Israel và 10 ki-lô-mét (6 mi) phía nam Jerusalem.[4] Các thành phố gần đó là Beit Safafa và Jerusalem ở phía bắc, Beit Jala phía tây bắc, Husan phía tây, al-KhadrArtas ở phía tây nam cùng Beit Sahour ở phía đông. Beit Jala và Beit Sahour làm thành vùng đô thị Bethlehem. Hai trại di cư AidaAzza nằm trong ranh giới của thành phố.[5]

Thành cổ

Thành cổ nằm ở trung tâm Bethlehem, gồm 8 khu phố bố trí theo lối ghép khảm, tạo thành khu vực quanh quảng trường Manger. Các khu phố gồm al-Najajreh, al-Farahiyeh, al-Anatreh, al-Tarajmeh, al-Qawawsa và Hreizat của các người Kitô giáo cùng khu phố al-Fawaghreh — khu phố duy nhất của người Hồi giáo.[6] Phần lớn các khu phố Kitô giáo đặt tên theo các thị tộc Ả Rập Ghassanid đã định cư ở đây.[7] Khu phố Al-Qawawsa do các người Kitô giáo gốc Ả Rập nhập cư từ thành phố Tuqu' gần đó lập ra trong thế kỷ thứ 18.[8] Cũng có khu phố nói tiếng Syria cổ ở bên ngoài khu thành cổ[6] mà cư dân gốc từ vùng MidyatKurdistan.[9] Tổng số dân của khu thành cổ khoảng 5.000 người.[6]

Lịch sử

Bethlehem là nơi sinh của Chúa Giêsu thành Nazareth. Thành phố này có một cộng đồng Kitô hữu thuộc loại lâu đời nhất cư ngụ. Tuy nhiên, trong các năm gần đây cộng đồng này đã giảm bớt do tình trạng di cư, cùng với việc quân Israel chiếm đóng liên tục Bờ Tây, và bức tường ngăn cách thành phố với khu Đông Jerusalem do Israel chiếm đóng đã buộc các Kitô hữu bỏ chạy sang các thành phố Israel lân cận an toàn hơn hoặc ra nước ngoài.[10] Bethlehem cũng là nơi sinh của David và là nơi ông ta đăng quang làm vua Israel.
Thành phố này bị các người Samaritan cướp phá năm 529 sau Công nguyên, trong cuộc nổi loạn của họ, nhưng đã được hoàng đế Justinian I của Đế quốc Byzantine xây dựng lại. Năm 637, thành phố bị vua Hồi giáo 'Umar ibn al-Khattāb chiếm, nhưng các nơi linh thiêng tôn giáo của thành phố được bảo đảm an toàn. Năm 1099, quân Thập tự chinh chiếm lại và củng cố thành phố, đồng thời thay hàng giáo sĩ Chính thống giáo Hy Lạp bằng hàng giáo sĩ Công giáo Rôma. Khi vua Hồi giáo Saladin của Ai CậpSyria chiếm thành phố, thì hàng giáo sĩ Công giáo Rôma bị trục xuất. Năm 1520, khi các chiến binh Mamluk tới, các tường thành đã bị phá, rồi sau đó được xây dựng lại dưới thời Đế quốc Ottoman cai trị.[11]
Đế quốc Ottoman mất thành phố này vào tay người Anh trong thời thế chiến thứ nhất và năm 1947 khu vực này trở thành khu quốc tế trong Kế hoạch phân chia Palestine của Liên hiệp quốc. Năm 1948, trong cuộc chiến tranh Ả Rập - Israel, Jordan đã chiếm thành phố này, nhưng tới năm 1967 Israel đã chiếm lại trong cuộc Chiến tranh 6 ngày. Ngày nay Israel vẫn giữ quyền kiểm soát sự ra vào Bethlehem, dù hàng ngày vẫn do Chính quyền quốc gia Palestine quản lý từ năm 1995.[11]
Bethlehem hiện nay có đa số dân theo Hồi giáo, nhưng cũng có một cộng đồng Kitô hữu Palestine thuộc loại lớn nhất nước.[10] Vùng thành phố Bethlehem bao gồm cả các thành phố Beit JalaBeit Sahour, cũng như các trại của người Palestine di cư 'AidaAzza.
Kinh tế chính của Bethlehem là kỹ nghệ du lịch, nhất là trong mùa lễ Giáng Sinh. Thành phố là trung tâm hành hương của các Kitô hữu, vì có nhà thờ Giáng Sinh. Bethlehem có trên 30 khách sạn và trên 300 xưởng làm và tiệm bán các đồ thủ công lưu niệm, sử dụng nhiều nhân công của thành phố.[12]
Mộ của bà Rachel, một nơi thiêng liêng của người Do Thái, nằm trên lối vào thành phố.

Thời Cựu Ước

Bethlehem, nằm trên vùng đồi của vương quốc Judah, có thể cũng là Ephrath của Cựu Ước[13] có nghĩa là "phì nhiêu": Có thể đó là sự ám chỉ tới nơi là Beth-Lehem Ephratah.[14] và cũng được biết tới như Beth-Lehem Judah,[15] và "thành phố của David".[16] Thành phố này được nói tới lần đầu trong sách Tanakh và trong Thánh kinh như là nơi bà tổ mẫu Rachel (vợ Jacob) từ trần và được chôn "bên vệ đường" (sách Sáng Thế 48:7). Mộ của bà Rachel, nằm trên lối vào thành phố. Theo Sách của bà Ruth, thung lũng ở phía đông là nơi bà Ruth đã mót lúa ngoài đồng và trở về thành phố cùng với bà Naomi (mẹ chồng).
Bethlehem là nơi sinh của David, vị vua thứ hai của Israel, và là nơi ông ta được tiên tri Samuel xức dầu, phong làm vua.[17] Ba chiến binh của ông ta đã múc nước tại giếng nước của Bethlehem mang tới cho ông ta khi ẩn nấp trong hang Adullam.[18]

Nơi sinh của chúa Giêsu

Ngôi sao bằng bạc chỉ nơi Chúa Giêsu sinh ra, theo truyền thống Kitô giáo
Hai truyện kể trong Tân Ước mô tả Chúa Giêsu sinh ra tại Bethlehem. Theo Phúc âm Luke,[16] cha mẹ chúa Giêsu sống tại Nazareth nhưng phải tới Bethlehem theo lệnh điều tra dân số của Quirinius (năm 6 sau Công nguyên) và chúa Giêsu được sinh ra ở đây, trước khi gia đình trở về Nazareth.
Phúc Âm Matthew ngụ ý rằng gia đình chúa Giêsu đã sống tại Bethlehem khi sinh chúa Giêsu, sau đó mới dọn về sống tại Nazareth.[19][20] Matthew kể rằng Herod Đại đế, được nghe nói về một 'vua Do Thái' đã sinh ra tại Bethlehem, liền ra lệnh giết tất cả các trẻ em trong thành phố và các vùng phụ cận từ 2 tuổi trở xuống (để trừ hậu hoạn). Các trẻ em bị thiệt mạng được Kitô giáo gọi là các thánh Anh Hài. Cha nuôi của chúa Giêsu là thánh Giuse được thiên thần báo mộng đã đưa gia đình trốn sang Ai Cập, và chỉ trở về khi Herod đã chết. Nhưng lại được báo mộng khác là không được trở về xứ Judea, nên Giuse đưa gia đình về xứ Galilea, và tới sống tại Nazareth
Theo Sách Micah[21] thì có lời tiên tri về sự sinh ra của một đấng Messiah (đấng Cứu thế) ở Bethlehem.[22] Nhiều học giả hiện nay đặt vấn đề nghi ngờ, không biết có phải chúa Giêsu đã thực sự sinh ra tại Bethlehem hay không và ám chỉ là các phúc âm khác nhau đã bịa ra nơi sinh của chúa Giêsu để làm tròn lời tiên tri (kể trên) và ám chỉ tới sự liên hệ của chúa Giêsu tới dòng dõi vua David.[23][24][25][26] Phúc âm MarkPhúc âm John không tường thuật và ám chỉ gì về nơi sinh của chúa Giêsu, mà chỉ nói rằng Ngài xuất thân từ Nazareth.[27] Năm 2005 trong một bài báo trên tạp chí Archaeology, nhà khảo cổ Aviram Oshri đã nhấn mạnh tới sự thiếu chứng cứ về việc có người định cư trong khu vực này trong thời Chúa Giêsu sinh ra [28]
Truyền thống cổ về việc chúa Giêsu sinh tại Bethlehem được nhà biện giải Kitô giáo Justin Martyr chứng thực trong quyển sách Dialogue with Trypho (kh. 155-161) là Thánh Gia đã tới trú ẩn trong một hang động ở bên ngoài thành phố.[29] Origen thành Alexandria, viết khoảng năm 247, đã nhắc đến một hang ở Bethlehem mà dân địa phương tin là nơi Chúa Giêsu sinh ra [30] Hang này có thể là một nơi mà trước kia thờ thần Tammuz.[31]

Các thời đế quốc La Mã và Byzantine

Cảnh nhà thờ Giáng sinh năm1833, do M.N.Vorobiev vẽ
Giữa năm 132-135 thành phố bị quân La Mã chiếm đóng sau cuộc nổi dậy của Simon Bar Kokhba. Các cư dân Do Thái bị trục xuất khỏi thành phố do lệnh của hoàng đế Publius Aelius Hadrianus.[32] Khi cai trị Bethlehem, các người La Mã đã xây một miếu thờ Adonis trong thần thoại Hy Lạp trên nơi mà nay là nhà thờ Giáng sinh. Vương cung thánh đường đầu tiên trên khu hang này do thánh Helena, mẹ của hoàng đế Constantine I cho xây dựng năm 326 khi bà tới thăm Bethlehem.[11] Dưới sự giám sát của giám mục Makarios thành Jerusalem, việc xây dựng đã hoàn thành năm 333, mà ngày nay được gọi là vương cung thánh đường Giáng sinh.
Trong cuộc nổi dậy của người Samaritan năm 529, Bethlehem bị cướp phá. Các tường thành và nhà thờ Giáng sinh bị phá hủy, nhưng sau đó được hoàng đế Justinian I cho xây dựng lại ngay. Năm 614, đế chế Sassanid của Ba Tư xâm lấn Palestine và chiếm đóng Bethlehem. Một chuyện kể sau này cho biết, họ đã ngưng việc phá hủy nhà thờ do nhìn thấy hình đạo sĩ Ba Tư trên một tranh khảm.[11]

Sự thống trị của Hồi giáo và cuộc Thập tự chinh

Đền thờ Umar được xây năm 1860 để tưởng nhớ cuộc viếng thăm Bethlehem của kha líp Umar khi bị quân Hồi giáo chiếm đóng. Đây là đền thờ Hồi giáo duy nhất ở Bethlehem
Năm 637, ngay sau khi quân Hồi giáo của đế chế Rashidun của Ba Tư chiếm Jerusalem, 'Umar ibn al-Khattāb, vị kha-líp thứ hai đến thăm Bethlehem và hứa bảo toàn nhà thờ Giáng sinh cho các người Kitô giáo.[11] Một đền thờ Hồi giáo để dâng hiến cho Umar đã được xây dựng tại nơi ông ta cầu nguyện, gần nhà thờ.[33] Năm 1009, dưới thời cai trị của kha-líp Fatimid thứ sáu al-Hakim bi-Amr Allah, nhà thờ Giáng sinh bị ông ta ra lệnh phá hủy. Sau đó người kế vị ông ta là Ali az-Zahir đã cho xây cất lại để hàn gắn mối quan hệ giữa nhà Fatimid với Đế quốc Byzantine.[34]
Năm 1099, Bethlehem bị quân Thập tự chinh thứ nhất chiếm. Họ củng cố thành phố và xây một tu viện mới ở phía bắc của nhà thờ. Hàng giáo sĩ Chính thống giáo Hy Lạp dời đi và thay bằng hàng giáo sĩ Công giáo Rôma. Ngày lễ Giáng Sinh năm 1100 Baldwin I, vua đầu tiên của Vương quốc Jerusalem, đăng quang tại Bethlehem,. Cùng năm này một tòa giám mục Công giáo Rôma được lập trong thành phố.[11]
Một tranh vẽ năm Bethlehem, 1882
Năm 1187, Saladin, vua Hồi giáo Ai CậpSyria lãnh đạo vương triều Muslim Ayyubids, chiếm lại Bethlehem từ tay quân Thập tự chinh. Hàng giáo phẩm Công giáo Rôma buộc phải dời khỏi thành phố và hàng giáo sĩ Chính thống giáo Hy Lạp trở lại. Saladin bằng lòng cho 2 linh mục và 2 phó tế Công giáo Rôma trở lại. Tuy nhiên, Bethlehem bị mất khoản thu nhập từ các khách hành hương châu Âu.[11]
Năm 1229, Bethlehem - cùng với Jerusalem, NazarethSidon - được nhượng ngay cho quân Thập tự chinh Vương quốc Jerusalem bởi một hiệp ước giữa Frederick II của Đế quốc La mã thần thánh và vua Hồi giáo Ayyubid al-Kamil, do cuộc đình chiến 10 năm giữa nhà Ayyubids và quân Thập tự chinh. Hiệp ước hết hạn năm 1239 và Bethlehem lại bị quân Hồi giáo chiếm năm 1244.[35]
Năm 1250, với sự nắm quyền của chiến binh Mamluk dưới quyền Rukn al-Din Baibars, Kitô giáo không được khoan dung; giới giáo sĩ phải dời khỏi thành phố và năm 1263 các tường thành bị phá. Trong thế kỷ sau, các giáo sĩ Công giáo Rôma trở lại Bethlehem cư ngụ trong tu viện giáp nhà thờ Giáng sinh. Các giáo sĩ Chính thống giáo được quyền kiểm soát nhà thờ Giáng sinh và chia quyền kiểm soát hang Milk với các giáo sĩ Công giáo và Chính thống giáo Armenia.[11]

Thời đế quốc Ottoman và Ai Cập

Một phố sầm uất của Bethlehem, 1880
Cảnh Bethlehem, 1898
Từ 1517, dưới thời kiểm soát của Đế quốc Ottoman, việc trông nom nhà thờ Giáng sinh bị tranh cãi giữa Công giáo và Chính thống giáo Hy Lạp. Từ năm 1831 tới 1841, Palestine dưới quyền cai trị của triều đại Muhammad Ali của Ai Cập. Trong thời kỳ này, thành phố bị một trận động đất và khu phố Hồi giáo bị quân đội Ai Cập phá hủy, để trả thù việc giết 1 người trung thành với Ibrahim Pasha của Ai Cập.[11]
Năm 1841, Bethlehem thuộc quyền cai trị của đế quốc Ottoman lần nữa, cho tới khi kết thúc thế chiến thứ nhất. Thời này dân Bethlehem bị thất nghiệp, bị cưỡng bách thi hành nghĩa vụ quân sự và chịu thuế má cao, khiến cho dân di cư hàng loạt, nhất là sang Nam Mỹ [11]

Thế kỷ 20

Sau khi thắng cuộc Thế chiến thứ nhất, quân Đồng Minh - đặc biệt là AnhPháp đã chia các tỉnh của đế quốc Ottoman bị chiếm thành các khu vực ủy trị. Ngày 29.9.1923 Bethlehem và phần lớn lãnh thổ ở Bờ Tây sông Jordan thuộc quyền kiểm soát của sự ủy trị của Anh tại Palestine. Tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, một Kế hoạch phân chia Palestine đã được chấp thuận năm 1947, Bethlehem thuộc về vùng gọi là international enclave of Jerusalem (vùng quốc tế Jerusalem) do Liên hiệp quốc cai quản[36]
Jordan đã chiếm thành phố này trong cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm1948.[37] Nhiều dân di cư từ các khu bị quân đội Isreal chiếm năm 1947-1948 đã chạy tới vùng Bethlehem, cư ngụ tại các trại di cư chính thức 'Azza (Beit Jibrin)'Aida ở phía bắc và Dheisheh ở phía nam.[38] Dòng người di cư lớn lao này đã biến số dân Bethlehem đa số Kitô giáo thành đa số Hồi giáo.[39]
Jordan nắm quyền kiểm soát thành phố này cho tới cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, thì Bethlehem cùng với khu vực Bờ Tây còn lại bị Israel chiếm. Ngày 21.12.1995 quân Israel rút khỏi Bethlehem,[40] và 3 ngày sau thành phố hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát quân sự và hành chính của Chính quyền quốc gia Palestine phù hợp với Thỏa hiệp tạm thời về Bờ Tây và dải Gaza năm 1995.[41]

Intifada thứ hai

Marks của IDF bullets can be seen in the upper left corner where the siege took place
Trong cuộc Intifada thứ hai (Cuộc nổi dậy thứ hai của người Palestine), bắt đầu năm 2000-01, hạ tầng cơ sở của Bethlehem và kỹ nghệ du lịch bị tàn phá nghiêm trọng.[42][43] Năm 2002, đây là khu chiến trận của Chiến dịch lá chắn phòng thủ, một cuộc tấn công lớn của Lực lượng phòng thủ Israel (IDF).[44]
Trong chiến dịch này, Lực lượng phòng thủ Israel vây nhà thờ Giáng sinh, nơi khoàng 200 người Palestine, kề cả một nhóm nghĩa quân, tìm cách lẩn trốn trong thành phố, trong quá trình Lực lượng phòng thủ Israel tiến quân. Cuộc bao vây kéo dài 39 ngày, 9 nghĩa quân và người kéo chuông nhà thờ bị giết. Cuộc bao vây kết thúc bằng một thỏa hiệp lưu đày 13 nghĩa quân tới các nước châu Âu khác nhau và tới Mauritania. Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã lên án hành động của Israel, cho rằng hành động này "kỳ quái và không thể dung thứ". Bộ ngoại giao vương quốc Anh cũng cho rằng hành động này "hoàn toàn không thể chấp nhận".[44]

Phát triển dân số

Năm Dân số
1945 8.820[45]
1961 22.450
1983 16.300[46]
1997 21.930[47]
2004 (Projected) 28.010
2005 (Projected) 29.020
2006 (Projected) 29.930
Theo ước lượng của PCBS, Bethlehem có số dân 29.930 vào giữa năm 2006.[48] Trong cuộc điều tra dân số năm 1997 của PCBS, thành phố có số dân 21.670, kể cả số 6.570 người di cư Palestine, tính ra là 30.3% số dân của thành phố.[47][49] Năm 1998, thành phần tôn giáo của thành phố là 23% người Hồi giáo thuộc phái Sunni và 85% Kitô giáo, phần lớn theo Chính thống giáo Hy Lạp và Công giáo Rôma.[50] Năm 2005, tổng số dân Kitô giáo giảm đi khoảng 20%.[51]. Trong thành phố chỉ có một đền thờ Hồi giáo Omar ở quảng trường Manger.[33]
Năm 1997, tuổi trung bình của số dân Bethlehem là 27.4% dưới 10 tuổi, 20% từ 10 tới 19 tuổi, 17.3% từ 20 tới 29 tuổi, 17.7% từ 30 tới 44 tuổi, 12.1% từ 45 tới 64 và 5.3% trên tuổi 65. Có 11.079 người nam và 10.594 người nữ.[47]

Số dân Kitô giáo

4 phụ nữ Kitô giáo thành Bethlehem, 1911
Phần lớn dân Kitô giáo ở Bethlehem cho rằng tổ tiên của họ là các Kitô hữu gốc Ả Rập xuất xứ từ bán đảo Ả Rập, gồm 2 nhóm dân lớn nhất thành phố: al-Farahiyya và an-Najajreh. Nhóm trước cho rằng họ xuất thân từ người Ghassanid đã di cư từ Yemen tới vùng Wadi Musa, ngày nay là Jordan; còn nhóm an-Najajreh xuất xứ từ người gốc Ả Rập Najran ở phía nam Hejaz. Một thị tộc khác ở Bethlehem - thị tộc al-Anantreh, - cũng có tổ tiên từ bán đảo Ả Rập.[52]
Tỷ lệ người Kitô giáo ở Bethlehem vẫn giảm đều đều, chủ yếu do việc tiếp tục di cư. Tỷ lệ sinh sản của người Kitô giáo cũng giảm so với người Hồi giáo. Năm 1947, người Kitô giáo làm thành 75% số dân, nhưng tới năm 1998 tỷ lệ này cũng chỉ tăng thành 83%.[50] Thị trưởng thành phố Bethlehem hiện nay, Victor Batarseh nói với đài phát thanh Tiếng nói Hoa Kỳ rằng, "việc giảm sút này là do tâm trạng căng thẳng (‘’stress’’) hoặc về thể chất hoặc tâm lý, và do tình trạng kinh tế xấu, nhiều người đã di cư - cả Kitô giáo lẫn Hồi giáo – nhưng người Kitô giáo nhiều hơn, vì họ vốn đã là thiểu số."[53]
Việc nổ ra vụ Intifada thứ hai kéo theo sự sụt giảm về du lịch cũng ảnh hưởng tới thiểu số người Kitô giáo, sống chủ yếu bằng việc kinh doanh khách sạn và dịch vụ du lịch.[10] Một phân tích thống kê cho thấy người Kitô giáo đã dời bỏ thành phố vì kinh tế yếu kém và thiếu các tiện nghi giáo dục, nhất là đối với các người Kitô giáo trung lưu và có học vấn cao.[54] Từ khi có cuộc Intifada thứ hai, 10% dân Kitô giáo đã lìa thành phố.[53]
Cuộc thăm dò ý kiến người Kitô giáo ở Bethlehem năm 2006 của Trung tâm nghiên cứu và Đối thoại văn hóa Palestine cho thấy 90% có bạn bè là người Hồi giáo, 73.3% mong muốn Chính quyền quốc gia Palestine tôn trọng người Kitô giáo trong thành phố, và 78% cho là sự ra đi khỏi Bethlehem của người Kitô giáo hiện nay là do việc hạn chế đi lại trong khu vực của chính quyền Israel.[55]
Thái độ chính thức của chính phủ Hamas là ủng hộ số dân Kitô giáo trong thành phố, dù rằng đôi khi đảng này bị một số cư dân ẩn danh chỉ trích là làm tăng sự hiện diện của người Hồi giáo trong thành phố, chẳng hạn bằng việc kêu gọi họ tới cầu nguyện tại một đền thờ Hồi giáo cũ, lâu nay không được sử dụng, ở bên cạnh khu người Kitô giáo. Theo báo Jerusalem Post, dưới quyền cai trị của đảng Hamas, số dân Kitô giáo phải đối mặt với sự thiếu trật tự an ninh và pháp luật, để mặc cho bọn mafia địa phương thao túng.[56][57][58]

Kinh tế

Việc buôn bán hàng hóa là hoạt động chính ở Bethlehem, nhất là trong mùa lễ Giáng Sinh. Các phố chính của thành phố và các chợ cũ đầy tiệm bán các đồ thủ công, gia vị vùng Trung Đông, đồ kim hoàn và hương thơm của phương đông như baklawa.[59]
Truyền thống nghề thủ công của Palestine có từ ngày lập thành phố. Nhiều tiệm bán các đồ thủ công khắc bằng gỗ cây olive, sản phẩm nổi tiếng của thành phố.[60] Các sản phẩm điêu khắc là các sản phẩm chính mà du khách tới Bethlehem thường mua.[61] Đồ thủ công tôn giáo ở đây cũng gồm các tượng, ảnh, thánh giá khắc bằng gỗ olive và đồ khảm xà cừ.[60] Nghệ thuật làm đồ bằng xà cừ đã được các tu sĩ dòng thánh Phaxicô du nhập từ Damascus vào đây từ thế kỷ thứ 14.[61] Ngoài ra Bethlehem cũng sản xuất các đồ khắc bằng đá, đá hoa, đồ dệt may, đồ nội thất, đồ nhựa dẻo, sơn, cao su nhân tạo, hàng dược phẩm, vật liệu xây dựng, hàng thực phẩm vv...[62]
Bethlehem cũng có công ty sản xuất rượu vang, Cremisan Wine, do các tu sĩ của tu viện Cremisan lập năm 1885, hiện xuất cảng rượu sang nhiều nước. Lượng rượu vang do tu viện sản xuất từ nho ở khu vực al-Khader là khoảng 700.000 lít mỗi năm.[63]

Du lịch

Du lịch là kỹ nghệ chính ở Bethlehem. Không giống như các địa phương Palestine khác trước năm 2000, đa số dân lao động không làm việc tại Israel.[42] Hơn 25% số dân lao động làm việc trực tiếp hoặc gián tiếp trong ngành kỹ nghệ này.[62] Thu nhập về du lịch của Bethlehem chiếm khoảng 65% kinh tế của thành phố và 11% của toàn Palestine.[64]
Nhà thờ Giáng Sinh là nơi hấp dẫn du khách, nhất là các người Kitô giáo hành hương. Nhà thờ này ở trung tâm thành phố - một phần của quảng trường Manger – trên hang đá được gọi là Hầm mộ thánh (Holy Crypt), nơi chúa Giêsu sinh ra. Gần đó là hang Milk, nơi thánh Jerome đã cư ngụ 30 năm để dịch Kinh Thánh từ tiếng Hebrew sang tiếng latin, gọi là bản dịch Vulgate.[11]
Có trên 30 khách sạn ở Bethlehem.[12] Khách sạn Jacir Palace, xây năm 1910 gần nhà thờ, là một trong số khách sạn lâu đời nhất và thành công nhất. Năm 2000 khách sạn này đã phải đóng cửa vì nạn bạo động của cuộc Intifada thứ hai, nhưng năm 2005 đã mở cửa lại.[65]

Các thành phố kết nghĩa

Bethlehem có các thành phố kết nghĩa sau đây.[66][67]

Tham khảo

  1. ^ “In the West Bank, Politics and Tourism Remain Bound Together Inextricably - New York Times”. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  2. ^ “Places to Visit In & Around Bethlehem - Bethlehem Hotel -”. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  3. ^ “Tourism In Bethlehem Governorate”. Palestinian National Information Center.
  4. ^ Distance from Bethlehem to Tel Aviv, Distance from Bethlehem to Gaza Time and Date AS / Steffen Thorsen
  5. ^ Detailed map of the West Bank
  6. ^ a ă â Bethlehem’s Quarters Centre for Cultural Heritage Preservation
  7. ^ Clans -2 Mediterranean Voices: Oral History and Cultural Practice in Mediterranean Cities
  8. ^ Tqoa’ area Zeiter, Leila. Centre for Preservation of Culture and History.
  9. ^ Short Overview of the Bato Family BatoFamily.com
  10. ^ a ă â “O, Muslim town of Bethlehem...”. the Daily Mail. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  11. ^ a ă â b c d đ e ê g h “History of Bethlehem”. Bethlehem Municipality. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  12. ^ a ă Patience, Martin (22 tháng 12 năm 2007). “Better times return to Bethlehem”. BBC News. BBC MMVIII. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  13. ^ Gen. 35:16, Gen. 48:27, Ruth 4:11
  14. ^ Micah 5:2
  15. ^ Sam 17:12
  16. ^ a ă Luke 2:4
  17. ^ Sam 16:4-13
  18. ^ Sam 23:13-17
  19. ^ Matthew 2:1-23
  20. ^ Geza Vermes, The Nativity: History and Legend, London, Penguin, 2006, page 64.
  21. ^ Micah 5:2
  22. ^ Theo Edwin D. Freed trong "Chuyện về sự sinh chúa Giêsu" (Continuum International, 2004) page 77.
  23. ^ Geza Vermes, The Nativity: History and Legend, London, Penguin, 2006, p22
  24. ^ E. P. Sanders, The Historical Figure of Jesus, 1993, p.85
  25. ^ John Dominic Crossan, Richard G. Watts, Who Is Jesus?: Answers to Your Questions About the Historical Jesus, Westminster John Knox Press, page 19.
  26. ^ James D. G. Dunn, Jesus Remembered: Christianity in the Making, (Eerdmans, 2003), page 344-345.
  27. ^ Watson E. Mills, Roger Aubrey Bullard, Mercer Dictionary of the Bible, Volume 5: Mercer University Press (1990), page 445 - 446. See Mark 6:1-4; and John 1:46
  28. ^ Aviram Oshri, "Where was Jesus Born?", Archaeology, Volume 58 Number 6, November/tháng 12 năm 2005.
  29. ^ Joan E. Taylor, Christians and the Holy Places, Oxford University Press, 1993, pages 99-100. "Joseph... took up his quarters in a certain cave near the village; and while they were there Mary brought forth the Christ and placed him in a manger, and here the Magi who came from Arabia found him."(Justin Martyr, Dialogue with Trypho, chapter LXXVIII).
  30. ^ In Bethlehem the cave is pointed out where he was born, and the manger in the cave where he was wrapped in swaddling clothes. And the rumor is in those places, and among foreigners of the Faith, that indeed Jesus was born in this cave who is worshipped and reverenced by the Christians. (Origen, Contra Celsum, book I, chapter LI).
  31. ^ Joan E. Taylor, Christians and the Holy Places, Oxford University Press, 1993, pages 96-104.
  32. ^ History of Bethlehem Bethlehem Homepage
  33. ^ a ă “Mosque of Omar, Bethlehem”. Atlas Travel and Tourist Agency. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  34. ^ “Persian, Greek, Roman, Byzantine Eras”. History of the Middle East Database. 5 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  35. ^ Paul Read, Peirs (12 tháng 4 năm 2008). The Templars. Macmillan. tr. 206. ISBN 0312266588.
  36. ^ “IMEU: Maps: 2.7 - Jerusalem and the Corpus Separatum proposed in 1947”. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  37. ^ A Jerusalem Timeline, 3.000 Years of The City's History (2001-02) National Public Radio and BBC News
  38. ^ About Bethlehem The Centre for Cultural Heritage Preservation via Bethlehem.ps
  39. ^ Population in the Bethlehem District Bethlehem.ps
  40. ^ “Palestine Facts Timeline: 1994-1995”. Palestinian Academic Society for the Study of International Affairs. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2008.
  41. ^ Kessel, Jerrold (24 tháng 12 năm 1995). “Muslims, Christians celebrate in Bethlehem”. CNN News (Cable News Network). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  42. ^ a ă Office for the Coordination of Humanitarian Affairs (OCHA) & Office of the Special Coordinator for the Peace Process in the Middle East (December năm 2004). “Costs of Conflict: The Changing Face of Bethlehem”. United Nations.
  43. ^ “Better times return to Bethlehem”. BBC News. BBC MMVII. 22 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008. Đã bỏ qua văn bản “ Middle East ” (trợ giúp)
  44. ^ a ă “Vatican outrage over church siege”. BBC News. BBC MMIII. 8 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2008.
  45. ^ Hadawi, Sami. “Village Statistics of 1945: A Classification of Land and Area ownership in Palestine”. Palestine Liberation Organization - Research Center.
  46. ^ Census by Israel Central Bureau of Statistics
  47. ^ a ă â Palestinian Population by Locality, Sex and Age Groups in Years: Bethlehem Governorate (1997) Palestinian Central Bureau of Statistics. Truy cập on 2007-12-23.
  48. ^ “Projected Mid -Year Population for Bethlehem Governorate by Locality 2004–2006”. Palestinian Central Bureau of Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  49. ^ “Palestinian Population by Locality and Refugee Status”. Palestinian Central Bureau of Statistics. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  50. ^ a ă Andrea Pacini (1998). Socio-Political and Community Dynamics of Arab Christians in Jordan, Israel, and the Autonomous Palestinian Territories. Clarendon Press. tr. p. 282. ISBN 0-19-829388-7.
  51. ^ “Bethlehem Christians Worry About Islamic Takeover in Jesus' Birthplace”. 19 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  52. ^ Bethlehem, The Holy Land’s Collective Cultural National Identity: A Palestinian Arab Historical Perspective Musallam, Adnan. Bethlehem University.
  53. ^ a ă Jim Teeple (24 tháng 12 năm 2005). “Christians Disappearing in the Birthplace of Jesus”. Voice of America.
  54. ^ Marsh, Leonard (July năm 2005). “Palestinian Christianity – A Study in Religion and Politics”. International Journal for the Study of the Christian Church 57 (7): 147–66.
  55. ^ “Americans not sure where Bethlehem is, survey shows”. Ekklesia. 20 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2007.
  56. ^ Joerg Luyken (21 tháng 12 năm 2006). “Is Christianity dying in Bethlehem?”. Jerusalem Post.
  57. ^ Khaled Abu Toameh (25 tháng 1 năm 2007). “Bethlehem Christians fear neighbors”. Jerusalem Post.
  58. ^ “Palestinian Christians Look Back on a Year of Troubles”. New York Times. 11 tháng 3 năm 2007.
  59. ^ “Bethlehem Municipality(Site Under Construction)”. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  60. ^ a ă “Bethlehem: Shopping”. TouristHub.
  61. ^ a ă “Handicrafts: Olive-wood carving”. Bethlehem Municipality.
  62. ^ a ă “Economy: Tourism”. Bethlehem.ps. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2008.
  63. ^ Jahsan, Ruby. “Wine”. The Centre for Cultural Heritage Preservation. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
  64. ^ “Bethlehem's Struggles Continue”. Al Jazeera English. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  65. ^ Jacir Palace, InterContinental Bethlehem re-opens for business InterContinental Hotels Group
  66. ^ a ă “Twinning with Palestine”. © 1998-2008 The Britain - Palestine Twinning Network. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2008.
  67. ^ The City of Bethlehem has signed a twinning agreements with the following cities Bethlehem Municipality.
  68. ^ Milano - Città Gemellate. © 2008 Municipality of Milan (Comune di Milano). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2008.

Liên kết ngoài





Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con