Tuesday, December 16, 2014

Chào ngày mới 17 tháng 12

Flag of Bhutan.svg
CNM365. Chào ngày mới 17 tháng 12. Wikipedia Ngày này năm xưa.  Ngày Quốc khánh tại Bhutan (1907) (hình quốc kỳ). Năm 1637 – Một số nông dân là tín hữu Ki-tô giáo ở Nhật Bản bắt đầu tiến hành cuộc khởi nghĩa Shimabara tại Nagasaki. Năm 1819 – Nhà cách mạng Simón Bolívar tuyên bố nền độc lập của Đại Colombia tại Angostura thuộc Venezuela ngày nay. Năm 1947 – Máy bay ném bom chiến lược Boeing B-47 Stratojet của Hoa Kỳ tiến hành chuyến bay đầu tiên. Năm 2010 – Người bán hàng dạo Mohamed Bouazizi tự thiêu, hành động này khởi nguồn cho Cách mạng TunisiaMùa xuân Ả Rập

Bhutan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vương quốc Bhutan
འབྲུག་ཡུལ (tiếng Dzongkha)
Druk Yul (tiếng Dzongkha)
Flag of Bhutan.svg Emblem of Bhutan.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Bhutan
Khẩu hiệu
Natural Happyness for People
(Tiếng Anh: "Hạnh phúc tự nhiên cho Dân tộc")
Quốc ca
Druk Tsendhen
The Thunder Dragon Kingdom
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Vua Jigme Khesar Namgyel Wangchuck
Thủ tướng Kinzang Dorji
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Dzongkha
Thủ đô Thimphu
28°28′B, 89°35′Đ
Thành phố lớn nhất Thimphu
Địa lý
Diện tích 47.500 km² (hạng 130)
Diện tích nước không có %
Múi giờ BTT (UTC+6:00)
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập 8 tháng 8, năm 1949
Dân cư
Dân số ước lượng (2006) 2.279.723[1] người (hạng 139)
Dân số (2003) 734.340 người
Mật độ 45 người/km² (hạng 123)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 2.913 tỷ Mỹ kim
HDI (2003) 0,536 trung bình (hạng 134)
Đơn vị tiền tệ Ngultrum (BTN)
Thông tin khác
Tên miền Internet .bt
Vương quốc Bhutan (IPA: [buː'tɑːn] , phiên âm Tiếng Việt: Bu-tan[2]) là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại Nam Á nằm giữa Ấn ĐộTrung Quốc. Toàn bộ nước này đều là đồi núi ngoại trừ một dải đồng bằng cận nhiệt đới nhỏ ở vũng viễn nam bị phân cắt bởi các thung lũng được gọi là Duars. Độ cao tăng dần từ các đồng bằng cận nhiệt đới lên các đỉnh Himalaya băng tuyết vượt quá 7.000 m (23.000 feet). Nền kinh tế truyền thống của Bhutan dựa trên lâm nghiệp, chăn nuôi, và nông nghiệp, nhưng chúng chưa chiếm tới 50% Tổng sản phẩm quốc nội hiện nay bởi Bhutan đã trở thành nước xuất khẩu thủy điện[3]. Cây trồng, du lịch, và hỗ trợ phát triển (chủ yếu từ Ấn Độ)[4] hiện cũng giữ vai trò quan trọng. Một cuộc điều tra dân số toàn quốc tiến hành tháng 4 năm 2006 cho thấy nước này có 672.425 người. Thimphu là thủ đô đồng thời là thành phố lớn nhất nước.
Bhutan là quốc gia duy nhất trên thế giới nơi nền Phật giáo Kim cương thừa vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Quốc giáo của đất nước này là Truyền thừa Phật giáo Đại thừa - Kim cương thừa Drukpa. Ngôn ngữ chính thức là Dzongkha.
Bhutan theo chế độ quân chủ từ năm 1907. Các dzongkhag khác nhau đã được thống nhất dưới sự lãnh đạo của Trongsa Penlop. Vua Jigme Singye Wangchuck, người từng có một số động thái hướng tới một chính phủ lập hiến, đã thông báo vào tháng 12 năm 2005 rằng ông sẽ thoái vị năm 2008 và nhường ngôi vua cho con trai cả. Ngày 14 tháng 10 năm 2006, ông thông báo sẽ thoái vị ngay lập tức, và con trai ông, Jigme Khesar Namgyal Wangchuck, lên kế ngôi. Tới ngày 22 tháng 4 năm 2007, theo quyết định của hoàng gia cuộc bầu cử nghị viện lần đầu tiên trong lịch sử đất nước được dự định tổ chức vào năm 2008[5].

Tên gọi

Người dân Bhutan gọi đất nước mình là Druk Yul – nghĩa là miền đất của Rồng sấm.
Bhutan có thể xuất phát từ từ 'Bhu-Utthan' trong tiếng Phạn có nghĩa "cao nguyên". Một giả thuyết khác cho rằng nó là sự Phạn hoá, từ Bhots-ant có nghĩa "nơi chấm dứt của Tây Tạng" hay "phía nam Tây Tạng". Tuy nhiên, một số người Bhutan gọi đất nước họ là Druk Yul còn người dân là Drukpa. Cái tên Dzongkha (và Tây Tạng) cho đất nước này là Druk Yul (Vùng đất của Rồng Sấm). Vì sự thanh bình và thanh khiết của đất nước, cũng như những phong cảnh tại đó, Bhutan ngày nay thỉnh thoảng được gọi là Shangri-La cuối cùng.
Trong lịch sử, Bhutan được gọi bằng nhiều cái tên, như: Lho Mon (Vùng đất phía nam sự Bí mật), Lho Tsendenjong (Vùng đất phía nam Rừng đàn hương), Lhomen Khazhi (Vùng đất phía nam Bốn lối vào) và Lho Men Jong (Vùng đất phía nam cỏ thuốc).

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Bhutan
Các dụng cụ đá, vũ khí và tàn tích của các công trình đá lớn cung cấp bằng chứng cho thấy Bhutan đã có người ở ngay từ năm 2000 trước Công Nguyên. Các nhà sử học đã đưa ra giả thuyết rằng nhà nước Lhomon (dịch nghĩa, "những vùng bóng tối phía nam"), hay Monyul ("Đất đen", một cái tên chỉ Monpa, những dân tộc thổ dân của Bhutan) có thể đã tồn tại trong giai đoạn năm 500 TCN và năm 600 TCN. Những cái tên Lhomon Tsendenjong (Đất nước Gỗ đàn hương), và Lhomon Khashi, hay Mon phía nam (đất nước của bốn lối vào) đã được tìm thấy trong biên niên sử Bhutan và Tây tạng cổ.
Sự kiện sớm nhất được miêu tả trong văn tự tại Bhutan là cuộc viếng thăm của Đại sư Gủru Padmasambhava (Liên Hoa Sinh - cũng được gọi là Guru Rinpoche) ở thế kỷ thứ 8 SCN. Lịch sử giai đoạn sớm của Bhutan không rõ ràng, bởi đa số các bản ghi chép đã bị phá hủy sau vụ hỏa hoạn tàn phá Punakha, thủ đô cũ năm 1827. Tới thế kỷ 10, phát triển chính trị tại Bhutan bị ảnh hưởng nhiều bởi lịch sử tôn giáo của họ. Nhiều phụ nhánh Phật giáo xuất hiện và được bảo trợ bởi các lãnh chúa Mông Cổ cũng như Tây Tạng. Sau sự suy tàn của Mông Cổthế kỷ 14, những phụ nhánh đó đã ganh đua với nhau để giành ưu thế tối cao trong chính trị cũng như tôn giáo, cuối cùng dẫn tới thắng lợi của phụ nhánh Drukpathế kỷ 16.
Cho tới thế kỷ 17, Bhutan tồn tại như một nhà nước chắp vá gồm các thái ấp nhỏ khi vùng này được Đức Shabdrung Ngawang Namgyal, một hóa thân của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ 4 Kunkhyen Pema Karpo, thống nhất. Để bảo vệ đất nước chống lại các thế lực ngoại xâm, Shabdrung Ngawang Namgyal đã xây dựng một mạng lưới dzong (pháo đài) bất khả xâm phạm và truyền bá một bộ luật giúp đưa các lãnh chúa địa phương về dưới quyền quản lý trung ương. Nhiều dzong trong số đó vẫn còn tồn tại. Sau khi Đức Shabdrung Ngawang Namgyal qua đời năm 1651, Bhutan rơi vào tình trạng hỗn loạn. Lợi dụng tình hình này, người Tây Tạng tấn công Bhutan năm 1710, và một lần nữa năm 1730 với sự giúp đỡ của Mông Cổ. Cả hai cuộc tấn công đều bị đẩy lùi, và một hiệp ước đình chiến được ký kết năm 1759.
Bản đồ Bhutan
Trong thế kỷ 18, người Bhutan tấn công và chiếm đóng vương quốc Cooch Behar ở phía nam. Năm 1772, Cooch Behar kêu gọi Công ty Đông Ấn Anh giúp họ đẩy lùi người Bhutan, và sau này tấn công chính Bhutan năm 1774. Một hiệp ước hòa bình được ký kết, theo đó Bhutan đồng ý triệt thoái về các biên giới trước năm 1730. Tuy nhiên, hòa bình khá mong manh, và những vụ xô xát biên giới với người Anh vẫn tiếp tục trong một trăm năm sau đó. Cuối cùng những vụ xô xát dẫn tới cuộc Chiến tranh Duar (1864–1865), một cuộc xung đột để giải quyết vấn đề ai sẽ trở thành người quản lý Bengal Duars. Sau khi Bhutan thất bại, Hiệp ước Sinchula được ký kết giữa Ấn Độ thuộc Anh và Bhutan. Như một phần bồi thường chiến phí, Duars được nhường cho Anh Quốc để đổi lấy khoản thuê Rs. 50.000. Hiệp ước đã chấm dứt tình trạng thù địch giữa Ấn Độ thuộc Anh và Bhutan.
Trong thập niên 1870, những cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm đối thủ là ParoTrongsa đã dẫn tới tình trạng nội chiến tại Bhutan, cuối cùng Ugyen Wangchuck nổi lên trở thành ponlop (thống đốc) Tongsa. Từ căn cứ quyền lực của mình tại miền trung Bhutan, Ugyen Wangchuck đánh bại các đối thủ chính trị và thống nhất đất nước sau nhiều cuộc nội chiến và nổi dậy trong giai đoạn 1882–1885.
Năm 1907, một năm mang tính kỷ nguyên với đất nước, Ugyen Wangchuck được một hội đồng các sư sãi Phật giáo, quan chức triều đình, và lãnh đạo các gia tộc lớn đồng lòng lựa chọn làm vị vua kế vị đất nước. Chính phủ Anh nhanh chóng công nhận nhà nước quân chủ mới, và vào năm 1910 Bhutan ký một hiệp ước dẫn tới việc Anh Quốc "hướng dẫn" quan hệ nước ngoài của Bhutan.
Sau khi Ấn Độ giành độc lập từ Anh Quốc ngày 15 tháng 8 năm 1947, Bhutan trở thành một trong những quốc gia đầu tiên công nhận nền độc lập của Ấn Độ.
Sau khi người Anh rời khỏi vùng này, một hiệp ước tương tự như hiệp ước năm 1910 được ký kết ngày 8 tháng 8 năm 1949 với nước Ấn Độ mới thành lập.
Dzong Trongsa
Sau khi Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào Tây Tạng năm 1951, Bhutan đã đóng cửa biên giới phía bắc và phát triển quan hệ song phương với Ấn Độ. Để giảm thiểu nguy cơ tiếp cận từ phía Trung Quốc, Bhutan tiến hành một chương trình hiện đại hóa được viện trợ nhiều từ phía Ấn Độ. Năm, Vua Jigme Dorji Wangchuck thành lập hệ thống nghị viện quốc gia – một Quốc hội 130 ghế – để tăng cương hơn nữa quá trình dân chủ. Năm 1965, ông thành lập một Hội đồng Tư vấn Hoàng gia, và vào năm 1968 thành lập Nội các. Năm 1971, Bhutan được chấp nhận vào Liên Hiệp Quốc, nước này đã có quy chế quan sát viên từ ba năm trước. Tháng 7 năm 1972, Jigme Singye Wangchuck lên nối ngôi khi 16 tuổi sau cái chết của cha.
Năm 1998, Vua Jigme Singye Wangchuck đưa ra những cải cách chính trị đáng chú ý, chuyển hầu hết quyền lực của mình cho Thủ tướng và cho phép buộc tội nhà Vua khi có đa số hai phần ba từ phía Quốc hội. Cuối năm 2003, Quân đội Bhutan đã tiến hành thành công một chiến dịch quy mô lớn quét sạch những kẻ nội dậy chống Ấn Độ đang hoạt động trong những trại huấn luyện phía nam Bhutan.
Năm 1999, nhà vua cũng dỡ bỏ một lệnh cấm với vô tuyến truyền hình và Internet, khiến Bhutan là một trong những nước cuối cùng sử dụng vô tuyến. Trong bài phát biểu của mình, nhà vua nói rằng vô tuyến truyền hình là một bước quan trọng của chương trình hiện đại hoá Bhutan cũng như là một yếu tố quan trọng đóng góp vào Tổng Hạnh phúc Quốc gia (Bhutan là nước duy nhất đo đếm hạnh phúc) nhưng đã cảnh báo chống lại việc sử dụng vô tuyến truyền hình vào những mục đích sai trái có thể làm phương hại tới các giá trị truyền thống của Bhutan.
Một hiến pháp mới đã được giới thiệu vào đầu năm 2005[6]. Tháng 12 năm 2005, Jigme Singye Wangchuck đã thông báo rằng ông sẽ thoái vị nhường ngai vàng cho con trai cả vào năm 2008. Ngày 14 tháng 12 năm 2006, ông đã làm mọi người dân trong nước choáng váng khi thông báo mình sẽ thoái vị ngay lập tức.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Bhutan
Bản đồ địa hình Bhutan
Vùng phía bắc gồm một vòng cung những đỉnh núi băng với khí hậu rất lạnh trên độ cao lớn. Đa số các đỉnh ở phía bắc cao hơn 7.000 m (23.000 foot) trên mực nước biển; đỉnh cao nhất được cho là Kula Kangri, 7.553 m (24.780 foot), nhưng những nghiên cứu chi tiết về địa hình cho thấy Gangkhar Puensum, hiện là núi cao nhất chưa được chinh phục trên thế giới, cao hơn ở mức 7.570 m (24.835 foot). Được những con sông tuyết cung cấp nước, các thung lũng trên núi tại vùng này mang lại các đồng cỏ chăn nuôi cho những người nông dân chăn thả du mục thưa thớt tại đây. Núi Đen tại miền trung Bhutan hình thành một đường phân thuỷ giữa hai hệ thống sông chính: Mo ChhuDrangme Chhu. Các đỉnh Núi Đen ở độ cao trong khoảng 1500 m tới 2.700 m (4.900 foot và 8.900 foot) trên mực nước biển, và những con sông chảy nhanh đã đào thành những máng sâu tại những vùng núi thấp hơn. Những khu rừng vùng trung tâm cung cấp hầu hết các sản phẩm lâm nghiệp của Bhutan. Torsa, Raidak, Sankosh, và Manas là những con sông chính tại Bhutan, chảy xuyên qua vùng này. Đa số dân cư sống tại những cao nguyên trung tâm.
Canh tác tại thung lũng Punakha
Ở phía nam, Đồi Shiwalik được bao phủ bởi những rừng cây sớm rụng (deciduous) dày đặc, các thung lũng đất bồi và núi non với độ cao lên tới 1.500 m (4.900 foot) trên mực nước biển. Những đồi thấp chân núi chạy xuống tới đồng bằng cận nhiệt đới Duars. Đa số đồng bằng Duars nằm trong lãnh thổ Ấn Độ, dù có một dải rộng 10–15 km (6–9 mile) kéo dài vào Bhutan. Đồng bằng Duars Bhutan được chia thành hai phần: bắc và nam Duars. Bắc Duars, tiếp giáp với những đồi thấp dưới chân Himalaya, là vùng đất gồ ghề, dốc và khô, đất xốp với nhiều loại động thực vật. Nam Duars có đất đai khá màu mỡ, những đồng cỏ savanna, rừng cây và những con suối. Những con sông từ trên núi, được cấp nước từ tuyết tan hay những cơn mưa gió mùa, dẫn nước vào sông Brahmaputra tại Ấn Độ. Dữ liệu do Bộ nông nghiệp đưa ra cho thấy tại thời điểm tháng 10 năm 2005 nước này có 64% diện tích rừng che phủ.
Khí hậu Bhutan khác biệt theo vĩ độ, từ cận nhiệt đới ở phía nam tới ôn hoà trên các cao nguyên và khí hậu cực trên những đỉnh núi cao quanh năm tuyết phủ ở phía bắc. Bhutan có năm mùa riêng biệt: mùa hè, gió mùa, mùa thu, mùa đôngmùa xuân. Tây Bhutan có những cơn mưa gió mùa lớn nhất; nam Bhutan có mùa hè ẩm và mùa đông lạnh; vùng trung và đông Bhutan ôn hòa và khô hơn phía tây với mùa hè ấm và mùa đông lạnh.

Kinh tế

Trụ sở công ty điện quốc gia Bhutan
Bài chi tiết: Kinh tế Bhutan
Dù kinh tế Bhutan là một trong những nền kinh tế nhỏ nhất thế giới, nó có tốc độ tăng trưởng rất nhanh chóng ở mức khoảng 8% năm 2005 và 14% năm 2006. Tới tháng 3 năm 2006, thu nhập trên đầu người của Bhutan đạt 1.321 dollar Mỹ, cao nhất tại Nam Á. Tiêu chuẩn sống tại Bhutan đang tăng dần và hiện cũng ở mức cao tại Nam Á.
Nền kinh tế nhỏ của Bhutan phụ thuộc vào nông nghiệp, lâm nghiệp, và việc bán thủy điện cho Ấn Độ. Nông nghiệp là phương tiện sinh sống của hơn 80% dân số. Hoạt động nông nghiệp chủ yếu là canh tácchăn nuôi gia súc. Các sản phẩm thủ công, đặc biệt là sản phẩm dệt và các sản phẩm thủ công tôn giáo phục vụ việc thờ cúng trong gia đình là một ngành công nghiệp nhỏ và một nguồn thu nhập cho một số dân cư. Với sự đa dạng địa hình từ đồi núi cho tới những dãy núi gồ ghề khiến việc xây dựng đường xá, và các cơ sở hạ tầng khác, trở nên khó khăn và đắt đỏ. Điều này, và sự thiếu hụt đường tiếp cận ra biển, khiến Bhutan chưa bao giờ có thể thu lợi đúng mức từ việc buôn bán các sản phẩm do nó làm ra. Hiện tại Bhutan không có một hệ thống đường sắt, dù Indian Railways đang có kế hoạch nối miền nam Bhutan với mạng lưới đường sắt rộng lớn của nó theo một thỏa thuận được ký tháng 1 năm 2005[7]. Những con đường thương mại lịch sử qua dãy núi cao Himalayas, nối Ấn Độ với Tây Tạng, đã bị đóng cửa từ năm 1959 khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Tây Tạng (dù hoạt động buôn lậu vẫn đưa hàng hóa từ Trung Quốc vào Bhutan).
Lĩnh vực công nghiệp còn nhỏ bé, sản phẩm làm ra theo kiểu công nghiệp gia đình. Đa số các dự án phát triển, như xây dựng đường xá, phụ thuộc vào nguồn nhân công thuê từ Ấn Độ. Sản phẩm nông nghiệp gồm gạo, ớt, các sản phẩm sữa, kiều mạch, lúa mạch, cây lấy rễ, táo và cam quýt cùng ngô ở những nơi có độ cao thấp. Các ngành công nghiệp gồm xi măng, gỗ, chế biến hoa quả, đồ uống có còn và calcium carbide.
Đồng tiền tệ Bhutan, đồng ngultrum, được ấn định tỷ giá theo đông Rupee Ấn Độ. Đồng rupee cũng được coi là đồng tiền tệ chính thức trong nước. Thu nhập từ Nu 100.000 mỗi năm sẽ bị đánh thuế, nhưng rất ít người đạt mức thu nhập này. Tỷ lệ lạm phát tại Bhutan được ước tính khoảng 3% năm 2003. Bhutan có Tổng sản phẩm quốc nội khoảng 2.913 tỷ USD (đã được quy đổi theo Sức mua tương đương), biến nó trở thành nền kinh tế đứng thứ 162 trên thế giới. Thu nhập trên đầu người khoảng 1.400 dollar (€1.170), xếp hạng 124. Tổng nguồn thu chính phủ đạt $146 triệu (€122 triệu), dù số chi lên tới $152 triệu (€127 triệu). Tuy nhiên, 60% chi tiêu ngân sách được Bộ ngoại giao Ấn Độ cung cấp[8]. Xuất khẩu của Bhutan, chủ yếu là điện, bạch đậu khấu, thạch cao, gỗ, đồ thủ công, xi măng, hoa quả, đá quý và gia vị, tổng cộng $154 triệu (€128 triệu) (ước tính 2000). Tuy nhiên, nhập khẩu lên tới $196 triệu (€164 triệu), dẫn tới tình trạng thâm hụt thương mại. Các sản phẩm nhập khẩu chính gồm nhiên liệudầu nhờn, ngũ cốc, máy, xe cộ, sợi và gạo. Các đối tác thương mại chính của Bhutan là Ấn Độ, chiếm 87.9% hàng xuất khẩu. Bangladesh (4.6%) và Philippines (2%) cũng là hai đối tác xuất khẩu khác. Bởi biên giới với Tây Tạng đã bị đóng cửa, thương mại giữa Bhutan và Trung Quốc hiện không tồn tại. Các đối tác nhập khẩu của Bhutan gồm Ấn Độ (71.3%), Nhật Bản (7.8%) và Áo (3%).
Đáp trả lời buộc tội năm 1987 của một nhà báo Anh Quốc trên tờ Financial Times rằng tốc độ phát triển tại Bhutan còn thấp, nhà Vua đã nói rằng "Tổng Hạnh phúc Quốc gia còn quan trọng hơn Tổng Sản phẩm Quốc nội"[9]. Lời tuyên bố này dường như đã đi trước những khám phá gần đây của các nhà tâm lý học kinh tế phương Tây, gồm cả người đoạt giải thưởng Nobel năm 2002 Daniel Kahneman, rằng vấn đề về sự liên quan giữa mức độ thu nhập và hạnh phúc. Nó cho thấy sự cam kết của nhà Vua trong việc xây dựng một nền kinh tế thích hợp cho nền văn hóa độc nhất của Bhutan, dựa trên các giá trị tinh thần Phật giáo, và là định hướng thống nhất cho nền kinh tế. Ngoài ra, chính sách dường như đã gặt hái được những kết quả mong muốn bởi trong một cuộc khảo sát gần đây do Đại học Leicester [2] tại Anh Quốc tổ chức, Bhutan được xếp hạng là địa điểm hạnh phúc thứ 8 trên thế giới [3].

Chính phủ và chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Bhutan
Tu viện Takstang. Phật giáo là quốc giáo và đóng vai trò quan trọng trong chính trị quốc gia.
Chính trị Bhutan theo cơ cấu quân chủ chuyên chế đang phát triển trở thành một nền quân chủ lập hiến. Năm 1999, đức vua thứ 4 của Bhutan đã lập lên một cơ cấu mười thành viên gọi là Lhengye Zhungtshog (Hội đồng Bộ trưởng). Vua Bhutannguyên thủ quốc gia. Quyền hành pháp thuộc hội đồng bộ trưởng. Quyền lập pháp thuộc cả chính phủQuốc hội. Hiện đất nước đang chuẩn bị cho một sửa đổi mang tích lịch sử khi nền dân chủ nghị viện đang được đặt kế hoạch trở thành hiện thực vào năm 2008, những công việc đang được tiến hành và các đảng chính trị được phép hoạt động. Quyền tư pháp thuộc tất cả các tòa án Bhutan. Chánh án là lãnh đạo hành chính của tư pháp.
Đồng tiền giấy Ngultrums hiện nay của Bhutan hiện đang được sửa đổi và loại tiền mới sẽ được phát triển thay thế loại cũ. Hiện tại, đồng một và năm Mgultrum đã được đưa ra. Những đồng tiền xu cũng được sử dụng nhiều tại Bhutan.

Quận

Bài chi tiết: Quận Bhutan
Vì các mục đích hành chính, Bhutan được chia thành bốn dzongdey (vùng hành chính). Mỗi dzongdey được chia tiếp thành dzongkhag (quận). Có 20 dzongkhag tại Bhutan. Các dzongkhag lớn được chia tiếp thành các đơn vị dưới quận được gọi là dungkhag. Ở mức độ căn bản, các nhóm làng hình thành lên một đơn vị cử tri được gọi là gewog và được quản lý bởi một gup, do dân bầu ra.
Dzongkhag của Bhutan
  1. Bumthang
  2. Chukha (cách đánh vần cũ: Chhukha)
  3. Dagana
  4. Gasa
  5. Haa
  6. Luentse
  7. Mongar
  8. Paro
  9. Pemagatshel (Pemagatsel)
  10. Punaka
  11. Samdrup Jongkhar
  12. Samtse (Samchi)
  13. Sarpang
  14. Thimphu
  15. Trashigang (Tashigang)
  16. Trashiyangse
  17. Trongsa (Tongsa)
  18. Tsirang (Chirang)
  19. Wangdue Phodrang (Wangdi Phodrang)
  20. Zhemang (Shemgang)

Thành phố và thị trấn

Quân đội và Ngoại giao

Các bài chính: Quân đội Bhutan, Quan hệ nước ngoài Bhutan
Quân đội Hoàng gia Bhutan là lực lượng quân đội Bhutan. Nó gồm Cận vệ Hoàng giaCảnh sát Hoàng gia Bhutan. Việc tham gia do tự nguyện, và tuổi tối thiểu để được tuyển mộ là 18. Số lượng quân thường trực khoảng 6.000 người và được Quân đội Ấn Độ huấn luyện.[10] Lực lượng này có ngân sách hàng năm khoảng 13.7 triệu dollar — 1.8% GDP.
Dù Hiệp ước năm 1949 với Ấn Độ vẫn thỉnh thoảng bị diễn giải sai mang nghĩa rằng Ấn Độ kiểm soát quan hệ ngoại giao của Bhutan, Bhutan ngày nay giữ quyền với mọi quan hệ ngoại giao của mình gồm cả vấn đề phân chia ranh giới nhạy cảm (với Ấn Độ) với Trung Quốc. Bhutan có quan hệ ngoại giao với 22 nước, gồm Liên minh châu Âu, với phái bộ tại Ấn Độ, Bangladesh, Thái LanKuwait. Nước này có hai phái bộ tại Liên Hiệp Quốc, một tại New York và một tại Geneva. Chỉ Ấn ĐộBangladesh có Đại sứ quán tại Bhutan, còn Thái Lan có một văn phòng lãnh sự tại Bhutan.
Theo một hiệp ước đã có từ lâu, người Ấn Độ và Bhutan có thể đi lại sang nước kia không cần hộ chiếu hay visa mà chỉ cần chứng minh thư quốc gia của họ. Công dân Bhutan có thể làm việc tại Ấn Độ mà không gặp hạn chế pháp luật. Bhutan không có quan hệ ngoại giao chính thức với nước láng giềng phương bắc là Trung Quốc, dù những cuộc thăm viếng lẫn nhau ở nhiều mức độ đã gia tăng đáng kể trong thời gian gần đây. Thỏa thuận song phương đầu tiên giữa Trung Quốc và Bhutan đã được ký kết năm 1998, và Bhutan cũng đã thiết lập các lãnh sự quán tại Ma CaoHồng Kông. Biên giới của Bhutan với Trung Quốc phần lớn vẫn chưa được phân định và vì thế đang ở tình trạng tranh chấp tại một số địa điểm[11].
Ngày 13 tháng 11 năm 2005, binh sĩ Trung Quốc đã tràn qua biên giới vào Bhutan trong hoàn cảnh tình hình thời tiết buộc họ phải triệt thoái về phía nam từ Himalaya. Chính phủ Bhutan đã cho phép sự việc này (sau khi sự việc đã diễn ra) vì lý do nhân đạo[cần dẫn nguồn]. Ngay sau đó, Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng đường xá và cầu cống trong lãnh thổ Bhutan[cần dẫn nguồn]. Bộ trưởng Ngoại giao Bhutan Khandu Wangchuk đã đề cập vấn đề này với chính quyền Trung Quốc sau khi sự việc gây ra tranh cãi trong nghị viện Bhutan. Để đáp lại, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Qin Gang nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã nói rằng biên giới đang ở tình trạng tranh cãi (hoàn toàn bỏ qua hoàn cảnh chính thức của vụ việc) và rằng hai bên tiếp tục làm việc một cách hòa bình để tìm ra một giải pháp hòa bình và thân thiện cho cuộc tranh chấp[12]. Cả chính phủ Bhutan lẫn Ấn Độ (Ấn Độ vẫn kiểm soát một số quan hệ ngoại giao của Bhutan) chưa từng thông báo bất kỳ một tiến bộ nào về việc này (hòa bình, thân thiện vân vân), và Trung Quốc tới giờ vẫn tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng và gia tăng đồn trú trong lãnh thổ Bhutan. Một sĩ quan tình báo Ấn Độ đã nói rằng một phái đoàn Trung Quốc tại Bhutan nói với người dân Bhutan rằng họ đang "phản ứng quá mức." Tờ Kuensel của Bhutan đã nói rằng Trung Quốc có thể sử dụng đường xá để tăng thêm nữa tuyên bố lãnh thổ của họ dọc biên giới[13].
Bhutan đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước khu vực Nam Á; Đông Á (Nhật Bản 1986; Hàn Quốc 1987); Đông Nam Á (Thái Lan 1991, Singapore 2002, Việt Nam 2012); với Úc 2002; và một số nước khác trên thế giới. Bhutan không có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Bhutan đang ngày càng mở rộng thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều nước, đặc biệt các nước Châu Âu và các đối tác lớn Áo, Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển, EU, Mỹ, Nhật Bản...
Ấn Độ vẫn là một hướng quan trọng trong chính sách đối ngoại của Bhutan. Quốc vương Bhutan thăm Ấn Độ tháng 7 năm 2006, hai bên đã ký hiệp ước thân thiện sửa đổi, theo đó, Bhutan độc lập hơn về đối ngoại. Ấn Độ cam kết nâng trợ giúp cho kế hoạch năm năm lần thứ 09 của Bhutan (2002-2007). Ấn Độ cũng đồng ý hỗ trợ về tài chínhkỹ thuật cho chính phủ Bhutan xây dựng 3 nhà máy thủy điện Chukha (336MW), Kurichhu (60MW), và Tala (1020MW).
Bhutan là thành viên Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, IOC, SAARC và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác.

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Bhutan
Nhóm sắc tộc đa số là người có tổ tiên Tây Tạng/Tạng-Miến; người Nepal di cư chiếm đa số ở vùng phía nam đất nước
Dân số Bhutan, từng được ước tính ở mức nhiều triệu người, hiện theo chính phủ Bhutan đã giảm bớt còn 750.000, sau một cuộc điều tra dân số đầu thập niên 1990. Một cuộc điều tra dân số toàn quốc thực hiện tháng 6 năm 2005 cho thấy dân số còn giảm tiếp chỉ còn 672.425 người [4]. Tuy vậy Chính phủ chưa đưa ra con số chi tiết thành phần của số dân này. Đa số tin rằng số dân đã được cố ý thổi phồng trong thập niên 1970 vì nhận thức khi ấy cho rằng những quốc gia với dân số dưới một triệu người sẽ không được chấp nhận vào Liên Hiệp Quốc. Vì thế con số do Liên hiệp quốc đưa ra cao hơn con số chính thức của chính phủ nước này. CIA World Factbook đưa ra con số 2.279.723 người (tháng 7 năm 2006) tuy cũng ghi chú rằng một số ước tín đưa ra con số chỉ ở mức 810.000.
Mật độ dân số, 45 người trên kilômét vuông (117/sq. mi), khiến Bhutan trở thành một trong những nước có mật đô dân số thưa thớt nhất Châu Á. Khoảng 20% dân số sống tại các vùng đô thị gồm các thị trấn nhỏ chủ yếu dọc theo thung lũng trung tâm và biên giới phía nam. Phần trăm số dân này đang gia tăng nhanh chóng bởi làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị đang tăng lên. Thành phố lớn nhất là thủ đô Thimphu, với dân số 50.000 người. Các vùng đô thị khác với số dân khá lớn gồm ParoPhuentsholing.
Trong số dân Bhutan, nhiều nhóm sắc tộc chính có thể được phân biệt với nhau. Nhóm chủ chốt là người Ngalop, một nhóm Phật giáo sinh sống ở phần phía tây đất nước. Văn hóa của họ rất tương đồng với văn hóa Tây Tạng. Người Sharchop ("người phía đông"), gắn liền với phần phía đông Bhutan (nhưng theo truyền thống theo Nyingmapa chứ không phải hình thức chính thức Drukpa Kagyu của Phật giáo Tây Tạng cũng có nhiều điểm tương đồng). Hai nhóm đó được gọi gộp chung là người Bhutan. 15% dân số còn lại là sắc tộc Nepal, đa số họ là tín đồ Hindu.
Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Dzongkha, một trong 53 ngôn ngữ trong hệ ngôn ngữ Hán-Tạng. Ký tự, ở đây được gọi là Chhokey ("Ngôn ngữ Đạt ma"), tương tự ký tự Tây Tạng. Chính phủ xếp hạng 19 ngôn ngữ liên quan tới các ngôn ngữ Tây Tạng là các thổ ngữ Dzongkha. Tiếng Lepcha được sử dụng ở nhiều vùng phía tây Bhutan; tiếng Tshangla, một ngôn ngữ gần với Dzongkha, được sử dụng nhiều ở các vùng phía đông. Tiếng Khengkha được dùng ở trung Bhutan. Ngôn ngữ Nepal được dùng nhiều ở phía nam. Tại các trường học tiếng Anh là ngôn ngữ trong giảng dạy và Dzongkha được dạy như một ngôn ngữ quốc gia. Dân tộc học liệt kê 24 ngôn ngữ hiện đang được sử dụng tại Bhutan, tất cả chúng đều thuộc ngữ nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, ngoại trừ tiếng Nepal, thuộc nhóm Ấn-Aryan. Các ngôn ngữ tại Bhutan hiện vẫn chưa được mô tả kỹ lưỡng, bởi nhiều ngôn ngữ trong số đó vẫn chưa được nghiên cứu sâu về ngữ pháp hàn lâm. Tiếng Anh hiện cũng được coi là một ngôn ngữ chính thức.
tỷ lệ biết chữ chỉ là 42.2% (56.2% nam giới và 28.1% nữ). Người từ 14 tuổi trở xuống chiếm 39.1% dân số, trong khi người từ 15 tới 59 tuổi chiếm 56.9%, và người trên 60 tuổi chỉ chiếm 4%. Nước này có độ tuổi trung bình 20.4. Tuổi thọ bình quân tại Bhutan là 62.2 năm (61 cho nam giới và 64.5 cho nữ) theo dữ liệu gần đây nhất của Ngân hàng Thế giới. Có 1.070 nam trên 1.000 nữ trong nước.

Văn hoá

Bài chi tiết: Văn hoá Bhutan
Tuy người Bhutan được tự do đi du lịch nước ngoài, Bhutan bị coi là không thể xâm nhập với người nước ngoài. Nhận thức sai lầm của nhiều người cho rằng Bhutan đã đặt ra những hạn chế trong việc cấp visa du lịch, thuế du lịch cao và yêu cầu khách phải đi theo tour được tổ chức dường như đã dẫn tới cảm giác này.
Trang phục truyền thống cho đàn ông Ngalong và Sharchop là gho, một áo choàng dài tới đầu gối được buộc ngang eo bằng một dải thắt lưng được gọi là kera. Phụ nữ mặc trang phục dài tới mắt cá chân, kira, bị cắt cụt ở một bên vai và thắt ngang lưng. Một vật bổ sung cho kira là một áo choàng dài tay, được mặt bên trong lớp trang phục ngoài. Vị thế xã hội và cấp bậc sẽ quyết định kiểu dệt, màu sắc và trang trí của những đồ trang phục. Khăn quàng và khăn choàng cũng là những yếu tố cho thấy vị thế xã hội, bởi theo truyền thống Bhutan là một xã hội phong kiến. Phụ nữ có đeo khuyên tai. Một điều gây nhiều tranh cãi, luật pháp Bhutan hiện yêu cầu tất cả công dân nước mình đều phải mặc những y phục đó.
Gạo, và ngô với vị trí ngày càng gia tăng, là những loại thực phẩm chính trong nước. Chế độ ăn ở vùng đồi giàu protein bởi người dân ở đây ăn nhiều thịt, chủ yếu là gia cầm, bò Tây Tạng. Các món súp thịt, gạo và rau khô với gia vị là ớt và phó mát là món được ưa thích trong những mùa lạnh. Các thực phẩm chế biến từ sữa, đặc biệt là bơ và phó phát từ bò Tây Tạng và bò, cũng phổ biến, và vì thế hầu hết sữa đều được dành chế biến bơ và pho mát. Các đồ uống dân dã gồm trà bơ, chè, rượu gạo địa phương và bia. Bhutan là quốc gia duy nhất trên thế giới có lệnh cấm hút thuốc và bán thuốc lá.
Bắn cung là môn thể thao quốc gia của Bhutan và những cuộc thi được tổ chức thường xuyên
Môn thể thao quốc gia tại Bhutan là bắn cung, và những cuộc thi được tổ chức thường xuyên tại hầu hết các làng. Nó khác với các tiêu chuẩn Olympic không chỉ ở các chi tiết kỹ thuật như vị trí đặt bia và không khí. Có hai bia được đặt cách 100 mét và các đội bắt từ một phía sang phía kia. Mỗi thành viên trong đội bắn hai mũi mỗi vòng. Bắn cung truyền thống Bhutan là một sự kiện xã hội và những cuộc thi được tổ chức giữa các làng, thị trấn và các đội không chuyên. Thường có rất nhiều đồ ăn, uống cùng với hát hò nhảy múa từ phía những người vợ và cổ động viên dành cho các đấu thủ. Họ thường cố gắng làm giảm tập trung của đội bạn bằng cách đứng xung quanh bia và trêu chọc khả năng bắn của vận động viên. Phi tiêu (khuru) là một môn thể thao theo đội ngoài trời được nhiều người ưa thích, trong đó những mũi lao bằng gỗ nặng, đầu được đóng một cây đinh 10 phân được phóng vào bia giấy cách xa khoảng mười tới hai mươi mét.
Một môn thể thao truyền thống khác là digor, có thể được miêu tả chính xác nhất như một shot put gộp với ném móng ngựa. Bóng đá là môn thể thao ngày càng được ưa chuộng. Năm 2002, đội bóng đá quốc gia Bhutan đã thi đấu với Montserrat - được quảng cáo là 'Trận chung kết khác', một trận đấu cùng ngày với trận chung kết giữa Brazil và Đức, nhưng Bhutan và Montserrat là hai đội bóng xếp hạng thấp nhất thế giới. Trận đấu được tổ chức tại Sân vận động Quốc gia Changlimithang tại Thimphu và Bhutan đã thắng với tỷ số 4-0. Một bộ phim tài liệu về trận đấu đã được nhà làm phim Hà Lan Johan Kramer tiến hành. Rigsar là kiểu âm nhạc đại chúng mới xuất hiện, được chơi bằng cả các nhạc cụ truyền thống và điện tử, và đã xuất hiện từ đầu thập niên 1990; nó có ảnh hưởng từ âm nhạc đại chúng Ấn Độ, một hình thức lai của các ảnh hưởng truyền thống và phương Tây. Các thể loại truyền thống gồm zhungdraboedra.
Đặc thù của vùng là một kiểu pháo đài được gọi là kiến trúc dzong.
Chaam hay nhảy múa với mặt nạ là một hình thức nhảy múa thần bí được trình diễn trong những lễ hội Phật giáo
Bhutan có nhiều ngày nghỉ lễ, đa số chúng tập trung quanh những lễ hội truyền thống theo mùa, thế tục và tôn giáo. Chúng gồm đông chí (khoảng 1 tháng 1, phụ thuộc theo lịch âm), Năm mới Âm lịch (tháng 2 hay tháng 3), sinh nhật Nhà vua và kỷ niệm ngày đăng quang, ngày bắt đầu chính thức của mùa gió mùa (22 tháng 9), Quốc khánh (17 tháng 12), và nhiều lễ hội Phật giáo và Hindu giáo. Thậm chí những ngày nghỉ lễ phi tôn giáo cũng có phụ thêm ý nghĩa tôn giáo, gồm những cuộc nhảy múa tôn giáo và cầu nguyện.
Nhảy múa với mặt nạ và những buổi diễn kịch là hình thức truyền thống tại những ngày lễ hội, thường đi cùng với âm nhạc truyền thống. Những vũ công khỏe mạnh, đeo những chiếc mặt nạ gỗ hay vật liệu khác nhiều màu sắc với kiểu trang phục riêng, thể hiện các anh hùng, ma quỷ, yêu ma, đầu người chết, thú vật, thần thánh, và biếm hoạ những nhân vật đời thường. Những vũ công được sự bảo trợ của hoàng gia và gìn giữ âm nhạc dân gian truyền thống cùng các trang phục tôn giáo và lưu giữ toàn bộ những hiểu biếtnghệ thuật chế tạo mặt nạ.
Bhutan chỉ có một tờ báo của chính phủ (Kuensel) và hai tờ báo khác mới xuất hiện gần đây, một đài truyền hình thuộc sở hữu nhà nước và nhiều đài phát thanh FM.

Tôn giáo

Người ta ước tính rằng khoảng hai phần ba dân số Bhutan theo Phật giáo Kim cương thừa, và đây cũng là quốc giáo. Khoảng một phần tư đến một phần ba là tín đồ của Ấn Độ giáo. Các tôn giáo khác chiếm ít hơn 1% dân số[14]. Khung pháp lý hiện hành của Bhutan, trên nguyên tắc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, nhưng việc truyền đạo bị cấm theo quyết định của chính phủ hoàng gia[14] và Hiến pháp Bhutan quy định Phật giáo là quốc giáo[15], một tôn giáo được truyền đến Bhutan trong thế kỷ thứ 7.

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ nhưng có lẽ chỉ 810.000 thôi.
  2. ^ http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/
  3. ^ Stan Armington (1998) Lonely Planet Bhutan (1st ed), p. 52, ISBN 0-86442-483-3
  4. ^ “Bhutan”. The CIA World Factbook. 12 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2006.
  5. ^ Sengupta, Somini. "Line Up and Pick a Dragon: Bhutan Learns to Vote." New York Times. 24 tháng 4 năm 2007. (Truy cập 24 tháng 4 năm 2007)[1]
  6. ^ “Constitution”. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2006.
  7. ^ The Tribune
  8. ^ India's Ministry of External Affairs provides financial aid to neighbouring countries under "technical and economic cooperation with other countries and advances to foreign governments." The Tribune, Chandigarh
  9. ^ Yoga Journal
  10. ^ Asian Times
  11. ^ Bhutan News Online
  12. ^ China.com
  13. ^ HindustanTimes.com
  14. ^ a ă http://www.state.gov/j/drl/rls/irf/2007/90227.htm
  15. ^ Bhutan News Service online. Bhutan News Service. 2010-12-12. Retrieved 2011-01-25.

Tham khảo

Liên kết ngoài

Bản mẫu:SAARC


Đại Colombia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
República de Colombia
Cộng hòa Colombia
1819–1831



Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ cuối cùng của Colombia Quốc huy đầu tiên
Vị trí của Gran Colombia
Gran Colombia
Thủ đô Santa Fe de Bogotá
Ngôn ngữ Tiếng Tây Ban Nha
Tôn giáo Công giáo Rôma
Chính thể Cộng hòa
Tổng thống
 - (1819–1830) Simón Bolívar
 - (1830) Domingo Caycedo
 - (1830–1831) Joaquín Mosquera
 - (1831) Domingo Caycedo
Phó Tổng thống
 - (1819–1820) Francisco Antonio Zea
 - (1820–1821) Juan Germán Roscio
 - (1821) Antonio Nariño y Álvarez
 - (1821) José María del Castillo
 - (1821–1827) Francisco de Paula Santander
 - (1830–1831) Domingo Caycedo
Lập pháp Quốc hội
 - Thượng viện Thượng viện
 - Hạ viện Hạ viện
Lịch sử
 - Khởi đầu năm 17 tháng 12[1]
 - Hiến pháp Cúcuta 30 tháng 8, 1821
 - Chiến tranh Colombia – Peru 1828–1829
 - Giải thể 19 tháng 11, 1831
Hiện nay là một phần của  Colombia
 Panama
 Brazil
 Costa Rica
 Ecuador
 Guyana
 Nicaragua
 Peru
 Venezuela
Đại Colombia (Gran Colombia, phát âm tiếng Tây Ban Nha[ˈɡɾaŋ koˈlombja]) là tên gọi hiện nay để chỉ một nhà nước bao gồm phần lớn miền bắc Nam Mỹ và một phần miền nam của Trung Mỹ từ năm 1819 đến năm 1831. Cộng hòa tồn tại ngắn ngủi này bao gồm các lãnh thổ nay là Colombia, Venezuela, Ecuador, Panama, bắc Peru và tây bắc Brasil. Ba quốc gia đầu tiên là những nước kế thừa của Đại Colombia vào lúc giải thể. Panama ly khai khỏi Colombia vào năm 1903. Do lãnh thổ của Đại Colombia gần tương ứng với Phó vương quốc Tân Granada trước đó, nó cũng tuyên bố chủ quyền với vùng bờ biển Caribe của Costa Rica và Nicaragua, Bờ biển Mosquito, và Guayana Esequiba tại Guyana.
Sự tồn tại của nước cộng hòa được mở đầu bằng một cuộc đấu tranh giữa những người ủng hộ một chính phủ tập trung với một tổng thống đầy quyền lực và những người ủng hộ một chính phủ phi tập trung, tức chính quyền liên bang. Cũng vào lúc đó, các lực lượng chính trị nổi lên giữa những người ủng hộ Hiến pháp Cúcuta và hai nhóm người tìm cách để thủ tiêu Hiến pháp, hoặc ủng hộ giải tán quốc gia thành các nước cộng hòa nhỏ hơn hoặc duy trì một liên minh nhưng có một tổng thống quyền lực hơn nữa. Phe ủng hộ Hiến pháp liên kết lại xung quanh Phó Tổng thống Francisco de Paula Santander, trong khi những người ủng hộ có một Tổng thống mạnh mẽ hơn nằm dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Simón Bolívar. Hai người tứng là đồng minh trong cuộc chiến chống lại ách cai trị của Tây Ban Nha, nhưng đến năm 1825, sự khác biệt giữa họ đã trở nên công khai và là một thành phần quan trọng trong các bất ổn chính trị từ đó trở đi.

Nguồn gốc tên gọi

Tên chính thức của đất nước vào thời điểm đó là Cộng hòa Colombia.[2] Các sử gia đã chấp thuận thuật ngữ Gran Colombia để phân biệt nó với Cộng hòa Colombia hiện nay, đất nước đã sử dụng tên gọi này từ năm 1863, mặc dù vậy, nhiều người vẫn sử dụng Colombia trong các ngữ cảnh không phát sinh nhầm lẫn.[3]
Tên gọi Colombia xuất phát từ phiên bản tiếng Tây Ban Nha của một từ tiếng Tân Latinh thế kỷ 18 là Columbia, chính nó lại dựa trên tên của Cristoforo Colombo (Christopher Columbus trong tiếng Anh, Cristóbal Colón trong tiếng Tây Ban Nha, và Cristoforo Colombo trong tiếng Ý). Đây là thuật ngữ ưa thích của nhà cách mạng Francisco de Miranda để chỉ Tân Thế giới, đặc biệt là toàn bộ lãnh thổ và thuộc địa tại châu Mỹ nằm dưới quyền quản lý của Đế quốc Tây Ban Nha. Ông đã sử dụng một phiên bản ứng biến, tính từ gần như tiếng Hy Lạp của tên, Colombeia, nghĩa là "giấy tờ và những thứ liên quan đến Colombia", là tiêu đề kho lưu trữ các hoạt động cách mạng của mình.[4] Bolívar và các nhà cách mạng châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha cũng sử dụng từ Colombia với ý nghĩa để chỉ lục địa. Việc thành một quốc gia với tên gọi Colombia bởi Đại hội Angostura 1819 đã trao cho thuật ngữ một chứng nhận địa lý và chính trị cụ thể.

Địa lý

Cộng hòa Đại Colombia gần tương đương với lãnh thổ của Phó vương quốc Tân Granada trước đó, những vùng này được cộng hòa tuyên bố chủ quyền theo nguyên tắc pháp lý của uti possidetis. Nó là một lãnh thổ thống nhất gồm Đệ nhị Cộng hòa Venezuela, Liên hiệp các Tỉnh của Tân GranadaReal Audiencia de Quito (vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của Tây Ban Nha).

Chính phủ

Trước khi một hiến pháp mới có thể được lập ra trong Đại hội Cúcuta, Đại hội Angostura đã bổ nhiệm Bolívar và Santander tương ứng làm Tổng thống và Phó Tổng thống. Trong Đại hội Cúcuta, quốc gia được phân chia thành 12 xứ (departamento) do quản đốc quản lý. Các xứ được chia tiếp thành 36 tỉnh (provincia) đứng đầu là thống đốc, quyền lực giữa thống đốc và quản đốc có sự chồng chéo. Công việc quân sự tại cấp xứ được giám sát bởi một tướng chỉ huy, người này có thể là quản đốc. Cả ba chức vụ đều do chính quyền trung ương bổ nhiệm. Chính quyền trung ương tạm thời đặt tại Bogotá, gồm một tổng thống, một quốc hội lưỡng viện và một tối cao pháp viện (the Alta Corte). Tổng thống đứng đầu nhánh hành pháp của cả chính quyền trung ương và địa phương. Tổn thống có thể được cấp quyền hạn đặc biệt trong tại chiến trường, như tại khu vực nay là Ecuador. Phó tổng thống đảm đương chức vị tổng thống trong các trường hợp người này vắng mặt, chết, bãi chức hoặc đau ốm. Do Tổng thống Bolívar đã vắng mặt tại Đại Colombia trong những năm đầu tồn tại nên quyền lực do phó tổng thống Santander nắm giữ. Quyền tuyển cử được trao cho những người sở hữu 100 peso bằng bất động sản hoặc có thu nhập tương đương từ một nghề nào đó. Việc bầu cử là gián tiếp.[5][6]

Lịch sử

Bức tranh tường của Santiago Martinez Delgado thể hiện Đại hội Cúcuta
Quốc gia mới nhanh chóng được tuyên bố thành lập sau chiến thắng bất ngờ của Bolívar tại Tân Granada, chính quyền quốc gia này tạm thời thiết lập nên một cộng hòa liên bang, gồm ba xứ và đứng đầu là một phó tổng thống với thủ phủ là các thành phố Bogotá (Cundinamarca), Caracas (Venezuela), và Quito (Quito).[7] Trong năm đó, không một tỉnh nào của Quito và chỉ một số phần ở Venezuela và Tân Granada được tự do.
Hiến pháp Cúcuta được soạn thảo vào năm 1821 tại Đại hội Cúcuta, thành lập thủ đô của cộng hòa tại Bogotá. Bolívar và Santander được bầu làm tổng thống và phó tổng thống. Tại đại hội ở Cúcuta, một mức độ tập trung quyền lực lớn đã được lập ra, một vài đại biểu người Tân Granada và Venezuela trong đại hội trước đây vốn là những người chủ trương lập chế độ liên bang một cách mạnh mẽ thì nay đã tin tưởng rằng việc tập trung hóa là cần thiết để giành được thành công trong cuộc chiến chống lại phe Bảo hoàng. Để phá vỡ khuynh hướng địa phương chủ nghĩa và thiết lập quyền kiểm soát trung ương hiệu quả với các địa phương, một sự phân chia lãnh thổ mới được thực hiện vào năm 1824. Các xứ Venezuela, Cundinamarca và Quito được tách thành các xứ nhỏ hơn, mỗi xứ do một quản đốc quản lý và được chính quyền trung ương bổ nhiệm, với quyền lực tương đương với các quản đốc Bourbon có.[8] Nhận thấy rằng không phải tất cả các tỉnh đều có đại diện tại Cúcuta vì nhiều nơi vẫn nằm trong tay lực lượng bảo hoàng, Quốc hội kêu gọi một hội nghị hiến pháp để tụ họp trong vòng mười năm.
Trong những năm đầu tiên, Đại Colombia đã giúp đỡ các vùng khác vẫn đang có chiến tranh với Tây Ban Nha để giành được độc lập: toàn bộ Venezuela trừ Puerto Cabello được giải phóng trong trận Carabobo, Panama gia nhập liên bang vào tháng 11 năm 1821, và các tỉnh Pasto, GuayaquilQuito vào năm 1822. Quân Đại Colombian sau đó đã giúp củng cố nền độc lập của Peru vào năm 1824. Bolívar và Santander được tái cử vào năm 1826.

Liên bang và ly khai

Các xứ của Đại Colombia vào năm 1820
Khi cuộc chiến chống lại Tây Ban Nha kết thúc vào giữa thập niên 1820, các tình cảm liên bang và địa phương từng bị ngăn chặn để giành thắng lợi trong chiến tranh một lần nữa lại xuất hiện. Có những lời kêu gọi sửa đổi sự phân chia chính trị, và tranh chấp liên quan đến kinh tế và thương mại giữa các khu vực đã xuất hiện trở lại. Ecuador có những than phiền về kinh tế và chính trị. Từ cuối thế kỷ 18, ngành công nghiệp dệt may của địa phương này đã phải chịu thiệt hại từ hàng dệt may nhập khẩu giá rẻ. Sau khi độc lập, Đại Colombia đã thông qua một chính sách thuế quan thấp, có lợi cho các khu vực nông nghiệp như Venezuela. Hơn nữa, từ 1820 đến 1825, khu vực nằm dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Bolívar bởi ông được cấp quyền lực đặc biệt. Ưu tiên hàng đầu của ông là cuộc chiến chống lại phe bảo hoàng tại Peru và không tìm giải pháp cho các vấn đề kinh tế của Ecuador. Ngay cả khi được hợp nhất sau đó vào Đại Colombia, Ecuador cũng thiếu đại diện trong tất cả các nhánh của chính quyền trung ương, và người Ecuador có ít cơ hội thăng tiến trong quân đội Đại Colombia. Ngay cả các quan chức địa phương cũng thường là các nhân viên người Venezuela và Tân Granada. Không có phong trào ly khai hoàn toàn xuất hiện tại Ecuador, nhưng các vấn đề này chưa bao giờ được giải quyết trong 10 năm tồn tại của quốc gia.[9]
Những lời kêu gọi mạnh mẽ nhất để cải tổ liên bang đến từ Venezuela, nơi có tình cảm liên bang mạnh mẽ giữa sự tự do của khu vực, nhiều người trong số họ đã không chiến đấu trong cuộc chiến tranh giành độc lập nhưng đã hỗ trợ chủ nghĩa tự do Tây Ban Nha trong thập kỷ trước đó và những người này nay liên minh bản thân với Chỉ huy trưởng của xứ Venezuela, José Antonio Páez, để chống lại chính quyền trung ương.[10] Năm 1826, Venezuela tiến gần đến chỗ ly khai khỏi Đại Colombia. Năm đó, Quốc hội bắt đầu thủ tục luận tội đối với Páez, người đã từ chức vào ngày 28 tháng 4 nhưng lại đảm nhiệm lại hai ngày sau đó nhằm thách thức chính quyền trung ương. Hỗ trợ cho Páez và lực lượng nổi dậy của ông diễn ra tại khắp Venezuela, các hành động này trên thực tế chỉ nhằm thác thức trung ương. Tuy nhiên, sự hỗ trợ Páez nhận được từ khắp Venezuelan đã đe dọa nghiêm trọng đất sự thống nhất của đất nước. Vào tháng 7 và tháng 8, chính quyền địa phương Guayaquil và một ủy ban hành chính tại Quito đã tuyên bố ủng hộ các hành động của Páez. Bolívar, về phần mình, dùng các tiến triển này để thúc đẩy hiến pháp bảo thủ ông viết cho Bolivia, được các viên chức quân sự bảo thủ người Ecuador và Venezuela ủng hộ, nhưng nói chung nhận được sự thờ ơ hoặc hoàn toàn thù địch và của ngay cả phó Tổng thống Santander. Hai phái đoàn gặp nhau tại Venezuela vào tháng 11 để thảo luận về tương lai của khu vực, nhưng việc tuyến bố độc lập chính thức đã không xảy ra. Cùng tháng, giao tranh đã bùng nổ giữa những người ủng hộ Páez và Bolívar ở phía đông và nam của Venezuela. Đến cuối năm, Bolívar ở tại Maracaibo để chuẩn bị hành quân vào Venezuela nếu cần thiết. Cuối cùng, các thỏa hiệp chính tị đã ngăn cản điều này. Vào tháng một, Bolívar ra lệnh ân xá cho những người nổi loạn Venezuela và hứa hẹ sẽ triệu tập một hội đồng hiến pháp mới trước thời kỳ mười năm được lập từ Đại hội Cúcuta, và Páez ủng hộ và công nhận quyền lực của Bolívar. Tuy nhiên các cải cách này đã không bao giờ có thể đáp ứng đầy đủ mong muốn của các phe phái chính trị khác nhau tại Đại Colombia. Sự bất ổn của cấu trúc nhà nước nay trở nên rõ ràng với tất cả mọi người.[11]
Năm 1828, hội đồng hiến pháp mới, Hội nghị Ocaña bắt đầu kỳ họp. Tại khai mạc, Bolívar một lần nữa đề nghị một hiến pháp mới dựa trên hiến pháp Bolivia, nhưng đề nghị này tiếp tục không được lòng mọi người. Hội nghị tan vỡ khi các đại biểu ủng hộ Bolívar bỏ đi thay vì ký một hiến pháp liên bang. Sau thất bại này, Bolívar tự bổ nhiệm mình một cách độc tài, nhưng đã không còn nắm giữa được quyền quản lý thống nhất đất nước. Khi sự sụp đổ trở nên rõ ràng vào năm 1830, Bolívar từ chức tổng thống. Xung đột chính trị nội bộ giữa các khu vực với nhau tăng lên ngay cả khi Tướng Rafael Urdaneta tạm thời lên nắm quyền ở Bogotá, cố gắng sử dụng quyền lực của mình để lập lại trật tự, nhưng ông thực sự hy vọng thuyết phục Bolívar trở lại làm tổng thống và quốc gia chấp nhận ông. Liên bang cuối cùng bị giải thể trong những tháng cuối cùng của năm 1830 và chính thức bị bãi bỏ vào năm 1831. Venezuela, Ecuador và Tân Granada tồn tại như các quốc gia độc lập.

Kết quả

Việc giải thể của Đại Colombia đại diện cho sự thất bại trong tầm nhìn của Bolívar. Xứ Cundinamarca cũ trở thành một quốc gia mới với tên gọi Cộng hòa Tân Granada. Năm 1863, Tân Granada đổi tên thành Hợp chúng quốc Colombia, và đến năm 1886 thì đổi sang tên gọi hiện nay: Cộng hòa Colombia. Panama tự nguyện trở thành một phần của Đại Colombia vào năm 1821, là một tỉnh của Cộng hòa Colombia cho đến năm 1903 và chủ yếu do hậu quả của Chiến tranh Nghìn ngày vào năm 1899–1902,[12] nên đã tuyên bố độc lập với sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Với ngoại lệ Panama, các quốc gia đã từng tạo nên Đại Colombia đều có quốc kỳ tương tự nhau, gần giống với quốc kỳ của Đại Colombia:
Colombia Ecuador Venezuela
Colombia Ecuador Venezuela

Chú thích

  1. ^ Bethell, Leslie (1985). The Cambridge History of Latin America. Cambridge University Press. tr. 141. ISBN 978-0-521-23224-1. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2011.
  2. ^ “Gran Colombia”. Encyclopædia Britannica Online. 6 tháng 6 năm 2007. Đã định rõ hơn một tham số trong |encyclopedia=|work= (trợ giúp)
  3. ^ Bushnell, The Santander Regime, 12. Bushnell uses both "Colombia" and "Gran Colombia."
  4. ^ Miranda, Francisco de; Josefina Rodríguez de Alonso and José Luis Salcedo-Bastardo (1978). Colombeia: Primera parte: Miranda, súbdito español, 1750–1780 1. Caracas: Ediciones de la Presidencia de la República. tr. 8–9. ISBN 978-84-499-5163-3
  5. ^ Bushnell, The Santander Regime, ii, 18–21.
  6. ^ Gibson, The Constitutions of Colombia, 37–40.
  7. ^ Bushnell, The Santander Regime, 10–13.
  8. ^ Bushnell, The Santander Regime, 14–21.
  9. ^ Bushnell, The Santander Regime, 310–317
  10. ^ Bushnell, The Santander Regime, 287–305.
  11. ^ Bushnell, The Santander Regime, 325–335, 343–345.
  12. ^ Arauz, Celestino A; Carlos Manuel Gasteazoro and Armando Muñoz Pinzón (1980). La Historia de Panamá en sus textos. Textos universitarios: Historia (Panamá) 1. Panama: Editorial Universitaria.

Tham khảo

Thưc mục

  • Bushnell, David (1970). The Santander Regime in Gran Colombia. Westport, CT: Greenwood Press. ISBN 0-8371-2981-8. OCLC 258393.
  • Gibson, William Marion (1948). The Constitutions of Colombia. Durham, NC: Duke University Press. OCLC 3118881.
  • Lynch, John (2006). Simón Bolívar: A Life. New Haven and London: Yale University Press. ISBN 0-300-11062-6.

Liên kết ngoài

Tọa độ: 4°39′B 74°03′T

Mohamed Bouazizi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mohamed Bouazizi
محمد البوعزيزي
200px
Mohamed Bouazizi
Sinh Mohamed Bouazizi
29 tháng 3, 1984
Sidi Bouzid, Tunisia
Mất 04 tháng 1, 2011 (26 tuổi)
Ben Arous, Tunisia
Nơi an táng Nghĩa trang Garaat Bennour
Quốc tịch Tunisia
Tên khác Basboosa
Công việc Người bán hàng đường phố
Nổi tiếng vì Tự thiêu
Ảnh hưởng tới Cách mạng Tunisia, cách mạng Ai Cập 2011, nội chiến Libya 2011, mùa xuân Ả Rập
Mohamed Bouazizi (29 tháng 3 năm 19844 tháng 1 năm 2011; tiếng Ả Rập: محمد البوعزيزي) là một người thanh niên Tunisia bán rau, tự thiêu ngày 17 tháng 10 năm 2010 để phản kháng vì cảnh sát cấm anh bán hàng trên đường phố. Hành động tự thiêu của anh đã trở thành xúc tác cho cuộc Cách mạng Tunisiamùa xuân Ả Rập, kích động bạo loạn và biểu tình phản đối trong các vấn đề xã hội và chính trị từ Tunisia, lan rộng ra nhiều quốc gia Ả Rập khác.

Thời trẻ và nỗ lực tìm kiếm việc làm

Mohamed Bouazizi, người được biết đến tại địa phương với tên gọi Basboosa,[1] sinh ra ở Sidi Bouzid, Tunisia, ngày 29 tháng 3 năm 1984. Cha của anh, một công nhân xây dựng ở Libya, chết vì một cơn đau tim khi Bouazizi lên ba tuổi, và mẹ ông kết hôn với chú Bouazizi của một thời gian sau[2]. Cùng với sáu anh chị em ruột của mình, Bouazizi đã được giáo dục trong một trường học một phòng thôn quê ở Sidi Salah, một ngôi làng nhỏ 12 dặm (19 km) từ Sidi Bouzid.[3]. Mặc dù các phương tiện truyền thông một số cửa hàng báo cáo rằng Bouazizi có trình độ đại học[4][5], em gái anh, Samia Bouazizi, nói rằng ông chưa bao giờ tốt nghiệp từ trường trung học[6], nhưng nó là cái gì anh mong muốn cho bản thân và chị em của anh với chú của mình có sức khỏe kém và không thể làm việc thường xuyên[7], Bouazizi đã làm việc công việc khác nhau kể từ khi cậu lên 10 tuổi, và trong thời kỳ thiếu niên của mình, cậu bỏ học để làm việc toàn thời gian.
Bouazizi sống trong một ngôi nhà bằng vữa khiêm tốn, đi bộ 20 phút từ trung tâm của Sidi Bouzid[8][9], một thị trấn nông thôn ở Tunisia gánh nặng do tham nhũng [10] và phải chịu một tỷ lệ thất nghiệp ước tính khoảng 30%. Theo mẹ của Bouazizi, cậu đã xin gia nhập quân đội, nhưng bị từ chối, và một số đơn xin việc sau này cũng dẫn bị từ chối. Cậu kiếm tiền nuôi mẹ, chú, và anh chị em ruột trẻ, bao gồm cả trả tiền cho một trong những chị em mình theo học đại học, thu nhập khoảng US $ 140 cho mỗi bán tháng sản xuất trên đường phố ở Sidi Bouzid. Anh cũng làm việc hướng tới mục tiêu mua hoặc thuê xe tải cho công việc của mình. [14] Một người bạn gần của Bouazizi nói ông "là một người rất nổi tiếng và phổ biến vì đã cung cấp miễn phí trái cây và rau quả cho các gia đình rất nghèo".

Hành động tự thiêu

Bouazizi tự thiêu ngày 17 tháng 10 năm 2010 để phản kháng vì cảnh sát cấm anh bán hàng trên đường phố. Hành động của anh đã trở thành một chất xúc tác cho cuộc Cách mạng Tunisiamùa xuân Ả Rập, kích động bạo loạn và biểu tình phản đối của Tunisia trong cả vấn đề xã hội và chính trị trong nước. Công chúng tức giận và bạo lực tăng cường sau cái chết của Bouazizi, Tổng thống lúc đó là Zine El Abidine Ben Ali đã phải từ chức sau 23 năm nắm quyền từ ngày 14 tháng 1 năm 201.
Sự thành công của các cuộc biểu tình gây ra cuộc biểu tình ở Tunisia đã kéo theo các cuộc biểu tình ở nhiều nước Ả Rập khác. Các cuộc biểu tình bao gồm nhiều người mô phỏng hành động tự thiêu của Bouazizi, trong một cố gắng để mang lại kết thúc các chính phủ chuyên quyền của họ. Những người này và Bouazizi được một số nhà bình luận Ảrập hoan nghênh như là "anh hùng liệt sĩ của một cuộc cách mạng mới ở Trung Đông"[11]. Năm 2011, Bouazizi đã được đồng trao giải Sakharov cùng với người khác vì những đóng góp của họ để thay đổi lịch sử "thế giới Ả Rập"[12].

Tham khảo

  1. ^ “Tunisia events turning point in Arab world”. Gulf News. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  2. ^ Fahim, Kareem (21 tháng 1 năm 2011). “Slap to a Man’s Pride Set Off Tumult in Tunisia”. New York Times. tr. 2. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  3. ^ Beaumont, Peter (20 tháng 1 năm 2011). “Mohammed Bouazizi: the dutiful son whose death changed Tunisia's fate”. The Guardian (UK). Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  4. ^ “The Story of Mohamed Bouazizi, the man who toppled Tunisia”. IBTimes. 14 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  5. ^ Jaf, Dana (17 tháng 1 năm 2011). “What Can We Do for Freedom”. Kurdish Aspect. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  6. ^ Toumi, Habib (31 tháng 12 năm 2010). “Man at the centre of Tunisia unrest recuperating, doctors say”. Gulf News. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  7. ^ Ryan, Yasmine (16 tháng 1 năm 2011). “The tragic life of a street vendor”. Al Jazeera English. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  8. ^ Chick, Kristen (19 tháng 1 năm 2011). “Tunisian emotions burst forth”. The Christian Science Monitor. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  9. ^ Noueihed, Lin (19 tháng 1 năm 2011). “Peddler's martyrdom launched Tunisia's revolution”. Reuters. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  10. ^ Thorne, John (13 tháng 1 năm 2011). “Bouazizi has become a Tunisian protest 'symbol'”. The National. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  11. ^ Worth, Robert F. (21 tháng 1 năm 2011). “How a Single Match Can Ignite a Revolution”. New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011.
  12. ^ “Sakharov Prize for Freedom of Thought 2011”. European Parliament. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con