Friday, July 25, 2014

Chào ngày mới 24 tháng 7

80 - Machu Picchu - Juin 2009 - edit.2.jpg
CNM365 Chào ngày mới 24 tháng 7 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Simón Bolívar tại Bolivia, Colombia, Ecuador và Venezuela; ngày Thiếu nhi tại VanuatuNăm 1162Tống Cao Tông cử hành lễ nhượng hoàng vị Nam Tống cho một người họ hàng xa là Thái tử Triệu Thận, tức Tống Hiếu Tông. Năm 1712Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha: Quân Pháp giành thắng lợi quyết định trước liên quân Hà Lan-Phổ trong trận Denain, nước Pháp được giải nguy. Năm 1911 – Nhà thám hiểm người Mỹ Hiram Bingham III tái khám phá Machu Picchu (hình), "thành phố bị lãng quên của người Inca". Năm 2013 – Một vụ tai nạn xe lửa xảy ra tại Santiago de Compostela, Galicia, Tây Ban Nha, khiến hơn hai trăm người thương vong.

Simón Bolívar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Simón Bolívar
Simón Bolívar by M.N. Bate.jpg
Chức vụ
Tổng thống thứ 2 của Venezuela
Nhiệm kỳ 6 tháng 8, 1813 – 7 tháng 7, 1814
Tiền nhiệm Cristóbal Mendoza
Kế nhiệm José Antonio Páez
Nhiệm kỳ không rõ – không rõ
Kế nhiệm Domingo Caycedo
Nhiệm kỳ không rõ – không rõ
Kế nhiệm Antonio José de Sucre
Nhiệm kỳ không rõ – không rõ
Tiền nhiệm José Bernardo de Tagle, Marquis of Torre-Tagle
Kế nhiệm Andrés de Santa Cruz
Tiền nhiệm José Bernardo de Tagle, Marquis of Torre-Tagle
Thông tin chung
Sinh 24 tháng 7, 1783
Caracas, Captaincy General of Venezuela, Đế quốc Tây Ban Nha
Mất 17 tháng 12, 1830 (47 tuổi)
Santa Marta, New Granada
Tôn giáo Cơ Đốc giáo La Mã
Chữ ký Simón Bolívar Signature.svg
Binh nghiệp
Simón Bolívar - Người Giải phóng
Simón Bolívar (tên đầy đủ: Simón José Antonio de la Santísima Trinidad Bolívar y Palacios, sinh: 1783, mất: 1830), là nhà cách mạng nổi tiếng người Venezuela, người lãnh đạo các phong trào giành độc lập ở Nam Mỹ đầu thế kỷ 19. Ông còn được được mệnh danh là Người Giải phóng (tiếng Tây Ban Nha: El Libertador), George Washington của Nam Mỹ. Những cuộc chiến đấu do ông lãnh đạo đã lật đổ sự thống trị của Tây Ban Nha, giành độc lập cho sáu quốc gia ngày nay là: Venezuela, Colombia, Panama, Ecuador, Peru, và Bolivia.

Xuất thân và tuổi trẻ

Thời niên thiếu

Simón Bolívar sinh ngày 24 tháng 7 năm 1783 tại Caracas, Venezuela trong một gia đình quý tộc có nguồn gốc từ xứ Basque, Tây Ban Nha. Cha ông, đại tá Juan Vicente Bolívar y Ponte có dòng máu xa của vua xứ Castile Fernando III và bá tước vùng Savoy Amedeo IV, mẹ là bà María de la Concepción Palacios Blanco Simón. Dòng họ Bolivar định cư ở Venezuela từ thế kỷ XVI và việc sở hữu những mỏ vàng, mỏ đồng bên sông Aroa đã góp phần làm họ trở nên giàu có. Sau này, trong cuộc đời cách mạng của mình, Simón Bolívar đã dùng một phần thu nhập từ những mỏ vàng và đồng để tài trợ cho Những cuộc chiến tranh cách mạng Nam Mỹ. Bolívar mồ côi cha năm 3 tuổi (1786), mẹ ông vừa cai quản gia đình vừa đảm nhiệm việc giáo dục các con nhỏ. Năm 1792, khi Bolívar 9 tuổi, mẹ cũng mất, ông và người em trai được ông ngoại nuôi và dạy học. Sau khi ông ngoại mất, anh em Bolívar ở với chú, năm 12 tuổi, ông trốn đến nương nhờ nhà vợ chồng người chị María Antonia.

Học tập ở Caracas

Trong thời gian ở nhà người chị, ông được Simón Rodríguez (1769 - 1854), một hiệu trưởng trường tiểu học ở Caracas dạy dỗ. Giữa ông và người thầy nhân hậu đồng thời cũng là nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, nhà cải cách xã hội này đã nảy sinh một mối quan hệ tốt đẹp và tồn tại suốt cuộc đời Bolívar vì ngoài kiến thức, giữa họ còn có sự đồng cảm sâu sắc. Sau đó, ông cũng đã từng theo học Andrés Bello (1781 - 1865), nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, nhà lập pháp, nhà triết học, nhà giáo dục người Venezuela. Hai ông thầy nổi tiếng này đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Simón Bolívar. Năm 14 tuổi, ông gia nhập tiểu đoàn du kích ở thung lũng Aragua, nơi gia đình ông có nhiều tài sản và cha ông đã từng làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này. Trong vòng một năm, ông được phong quân hàm thiếu uý và vừa luyện tập quân sự vừa học các môn cơ bản thời bấy giờ như toán học, vật lý, đồ bản,... tại trường học của dòng họ do một cha cố dòng tu Francis dạy.

Sang châu Âu

Năm 1799, Bolívar sang Madrid, Tây Ban Nha, ông miệt mài nghiên cứu lịch sử, văn học cổ điển và đương đại, toán học rồi bắt đầu học tập bằng tiếng Pháp. Ngoài ra ông còn học khiêu vũ và hùng biện. Bolívar nhanh chóng tiến bộ trong tất cả các môn học và qua các buổi khiêu vũ, ông làm giàu ngoại ngữ đồng thời trở nên tinh tế, tự tin trong giao tiếp. Ngày 26 tháng 5 năm 1802, Bolívar kết hôn với bà María Teresa Rodríguez del Toro y Alaysa rồi cả hai trở về Venezuela. Nhưng không lâu sau đó, tháng 1 năm 1803, María Teresa chết do nhiễm bệnh sốt vàng da. Cuối năm 1803, ông trở lại châu Âu, đi lại giữa Cadiz[1]Madrid rồi sang Paris năm 1804.

Lời thề ở thành Rome

Paris ông gặp gỡ các học giả, tham gia những cuộc thảo luận và lao vào nghiên cứu văn học rồi tình cờ gặp lại Simón Rodríguez, người mà với trí tuệ và kinh nghiệm của mình đã trở thành một diễn giả xuất sắc. Hai ông đã đi bộ xuyên qua vùng Savoy để sang Ý và ở Roma, vào một ngày tháng 8 năm 1805, Bolívar đã thề trước mặt người thầy rằng ông sẽ không bao giờ cho phép cánh tay mình nghỉ ngơi cũng như linh hồn mình chết đi chừng nào ước mơ giải phóng Nam Mỹ khỏi sự thống trị của người Tây ban nha chưa thực hiện được. Cuối năm 1806, khi nghe tin về những hoạt động của nhà cách mạng Francisco de Miranda[2], Bolívar quyết định trở về nước.

Sự nghiệp giải phóng Nam Mỹ

Hoạt động cách mạng ở Venezuela và sứ mệnh ngoại giao

Ông đáp một con tàu dừng chân ở Charleston rồi đi qua nước Mỹ về đến Venezuela giữa năm 1807. Ở quê nhà, ông cùng với em trai và những người bạn gần gũi suy tính, bàn bạc về quá trình giành độc lập cho Venezuela. Lúc này Joseph Bonaparte được Napoleon lập làm vua Tây Ban Nha và những thuộc địa. Năm 1808, Bolívar tham gia "quân đội kháng chiến" ở Nam Mỹ. Ngày 19 tháng 4 năm 1810, quân đội kháng chiến Caracas tuyên bố độc lập, chính phủ quân sự cử Bolívar đi làm đại diện tại Anh, cùng đi có Luis López MéndezAndrés Bello. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ngoại giao ông trở về nước cuối năm 1810 [3]. Trở lại vị trí của mình trong Hội những người yêu nước Caracas Bolívar, trở thành một trong những diễn giả nhiệt tình nhất cho độc lập. Tháng 5 năm 1811, cơ quan lập pháp đã tuyên ngôn độc lập. Bolívar gia nhập quân đội, được phong quân hàm đại tá và tham gia cuộc đột kích Valencia[4] theo lệnh của Miranda năm 1811. Năm 1812, bất chấp những nỗ lực của ông, thành phố Puerto Cabello[5] thất thủ do có sự phản bội. Tháng 7 năm 1812, tướng Miranda đầu hàng người Tây ban nha. Ở thành phố cảng La Guaira[6] Một nhóm sỹ quan trong đó có Bolívar định bắt giữ Miranda nhưng không thành công. Ông quyết định tự cứu lấy bản thân mình và với sự giúp đỡ của một người bạn, ông có được hộ chiếu để đến Curazao rồi Cartagena de Indias[7]. Ở Cartagena de Indias ông đã viết Tuyên ngôn Cartagena, một trong những tác phẩm quan trọng nhất của mình, ở đó những lý tưởng chính trị đã được định hình và là kim chỉ nam cho những hành động của Bolívar sau này.

Chiến tranh cho đến chết

Ngày 14 tháng 5 năm 1813, dẫn đầu một đội quân nhỏ, Bolívar vượt sông Magdalena[8] và bắt đầu chiến dịch giải phóng Venezuela. Ngày 23 tháng 5 năm 1813, Bolívar tiến vào thành phố Mérida[9] và nhân dân ở đây là những người đầu tiên gọi ông là Người Giải phóng, ngày 9 tháng 6, Bolívar chiếm thành phố Trujillo[10]. Ngày 15 tháng 6 năm 1813, ông đọc bản mệnh lệnh nổi tiếng "Chiến tranh cho đến chết". Bằng một loạt những trận đánh thông minh, sau 3 tháng, quân đội của Bolívar đã tiến vào Caracas ngày 6 tháng 8 năm 1813. Chiến dịch đó sau này được gọi là "Chiến dịch thần diệu". Tháng 10 năm 1813, trong một buổi lễ long trọng, chính quyền và nhân dân Caracas đã chính thức tặng cho ông danh hiệu đã đi vào lịch sử "Người Giải phóng". Sau khi tiến vào Caracas, Bolívar tuyên bố thành lập nền Cộng hoà Venezuela thứ hai. Sau đó Bolívar tiếp tục tiến hành nhiều trận đánh và mặc dù giành được những thắng lợi quan trọng, ông và tướng Santiago Mariño (người đã giải phóng miền đông Venezuela) chịu thất bại trước đội quân đông đảo hơn gấp nhiều lần của tướng bảo hoàng José Tomás Boves. Sau thắng lợi của Boves trong trận đánh La Puerta (tháng 6 năm 1814), nền cộng hoà sụp đổ, những người đòi độc lập buộc phải sơ tán hàng loạt khỏi Caracas về phía đông. Cảm thấy quyền lực của mình và tướng Mariño bị thách thức bởi chính những người đồng hành, ông sang Nueva Granada[11]. Tại đây, Bolívar chỉ huy Quân đội quốc gia Colombia tiến vào Bogotá năm 1814 và sau đó dự định đến Cartagena để tìm kiếm sự ủng hộ của người dân địa phương nhằm chiếm thành phố Santa Marta[12]. Tuy nhiên sau những xung đột quân sự và chính trị với chính quyền thành phố Cartagena, tháng 5 năm 1815, Bolívar từ bỏ binh quyền để tránh một cuộc nội chiến.

Tái sinh nền cộng hoà ở Venezuela

Sau khi lánh sang Jamaica, từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1815, Bolívar kiên nhẫn chờ đợi thời cơ để tiến hành những cuộc chiến đấu mới. Chính vì thế, ông nghiền ngẫm về số phận của Mỹ Latin và tháng 9 năm ấy viết "Bức thư Jamaica" nổi tiếng. Trong đó, với nhận thức sâu sắc cũng như cái nhìn tiên tri, ông đã đánh giá quá khứ, hiện tại và tương lai của lục địa này. Sự thất bại của Napoleon ở châu Âu và một đội quân Tây ban nha hùng mạnh do tướng Pablo Morillo dẫn đầu kéo đến Venezuela đã hâm nóng nhiệt tình của phe bảo hoàng. Bolívar, sau khi thoát khỏi một âm mưu ám sát đã đến Haiti nhằm tìm kiếm nguồn tài chính để tiếp tục cuộc chiến đấu, tổng thống Haiti, Alejandro Petion đã cho ông vay tiền. Đội quân viễn chinh do Bolívar dẫn đầu đến đảo Margarita[13] năm 1816 và nhanh chóng đổ bộ vào lục địa. Sau khi tấn công chiếm được Carúpano[14], ngày 2 tháng 6 năm 1816, Bolívar ra sắc lệnh giải phóng nô lệ. Trong khi đội quân đang tiến về Ocumare de la Costa[15], thì Bolívar bất ngờ bị tách khỏi bộ phận chủ yếu của quân đội và buộc phải trở lại Haiti. Ông tổ chức một đội quân thứ hai tiến về đến đảo Margarita cuối năm 1816. Đầu năm 1817, Bolívar dự định chiếm vùng Guayana[16] để làm bàn đạp giải phóng hoàn toàn Venezuela và đến tháng 7 năm 1817, ông chiếm được thủ phủ Angostura (ngày nay là Ciudad Bolívar) của vùng này. Bolívar thành lập một nhà nước mới, lập ra bộ máy chính quyền và cho xuất bản một tờ báo. Cuộc chiến đấu của ông không những diễn ra đối với quân Tây ban nha mà còn đối với những mầm mống vô chính phủ trong vùng. Tháng 10 năm 1817, sau một cuộc diễn tập, tướng Manuel Piar, một trong những lãnh đạo của những người cộng hòa bị xử bắn ở Angostura. Trong thời gian này, Bolívar ra sắc lệnh về Luật phân phối của cải quốc gia. Năm 1818, ông bất ngờ đột kích quân đội bảo hoàng của tướng Morillo ở thành phố Calabozo [17] nhưng quân đội cộng hòa bị đánh bại, Bolívar suýt nữa bị quân đội bảo hoàng giết chết. Ông trở về Angostura ngày 5 tháng 6 năm 1818 và lúc đó, đại diện ngoại giao của Mỹ cùng với một đội quân của những người châu Âu tình nguyện đã tới đây. Bolívar triệu tập Nghị viện Venezuela đệ nhịAngostura ngày 15 tháng 2 năm 1819 và đọc một bài diễn văn có vai trò quan trọng trong tư tưởng chính trị của ông đồng thời đệ trình dự thảo Hiến pháp.

Sáng lập Đại Colombia, tiến về Caracas

Trận Boyacá (17/8/1819) - Tranh vẽ của Venezuela thế kỷ XIX
Không lâu sau đó, Bolívar mở chiến dịch giải phóng Nueva Granada. Quân đội của ông vượt qua dãy Andes, sau những trận đánh ác liệt tại Gameza[18] ngày 12 tháng 7Pantano de Vargas[19] ngày 25 tháng 7, Bolívar đã giành chiến thắng quyết định trong trận Boyacá ngày 7 tháng 8 năm 1819. Ông tiến vào Bogotá và sau khi trao quyền chỉ huy ở Nueva Granada cho tướng Francisco de Paula Santander, Bolívar trở về Angostura. Ở đó, theo đề nghị của ông, tháng 12 năm 1819, Nghị viện đã ban hành Hiến pháp Cộng hoà Colombia. Đất nước vĩ đại do Bolívar sáng lập này gồm các nước cộng hoà Venezuela, Colombia, EcuadorPanamá. Quân đội cộng hoà đã giành được ưu thế ở mọi nơi: Cartagena bị vây hãm, MéridaTrujillo được giải phóng. Sau cuộc Cách mạng giải phóng nổ ra ở Tây ban nha tháng 1 năm 1820, chính phủ mới của Tây ban nha cố gắng đạt được một hiệp định hoà bình và ở Trujillo, tháng 11 năm 1820 hai bên đã ký kết một thoả thuận ngừng bắn cùng với bản điều ước về chiến tranh. Sau khi thoả thuận ngừng bắn hết hiệu lực, quân đội cộng hoà bắt đầu hành quân hướng về Caracas. Ngày 24 tháng 6 năm 1821, trên bình nguyên Carabobo Bolívar đã giành thắng lợi trong một trận đánh đánh dấu sự khai sinh ra nền độc lập của Venezuela. Tàn quân của quân đội bảo hoàng lẩn trốn tại Puerto Cabello và cuối cùng tan rã năm 1823. Ngày 29 tháng 6 năm 1821, Người Giải phóng tiến vào thành phố quê hương trong sự chào đón hân hoan của nhân dân.

Giải phóng Ecuador

Bolívar giờ đây hướng tới Ecuador, nơi vẫn còn nằm dưới sự thống trị của người Tây Ban Nha. Ông tiến qua Maracaibo, Cúcuta [20] rồi tiến đến Bogotá. Năm 1822, hai cánh quân, mũi phía bắc do Bolívar chỉ huy, mũi phía nam xuất phát từ Guayaquil [21] do tướng Antonio José de Sucre chỉ huy bắt đầu tấn công giải phóng Quito. Sau chiến thắng của tướng Sucre của trong trận Pichincha[22] ngày 24 tháng 5 năm 1822, Ecuador được giải phóng và hợp nhất vào Cộng hoà Đại Colombia. Trong thời gian này, Bolíva đã gặp Manuela Saenz và bà trở thành người tình cho đến cuối đời ông. Ngày 25 tháng 7 năm 1822, "Người bảo hộ Perú", tướng José de San Martín [23] từ Peru tới Guayaquil. Tại đây Bolívar đã gặp gỡ nhà lãnh đạo nổi tiếng của phong trào giành độc lập ở phía nam lục địa Nam Mỹ này. Sau cuộc gặp gỡ [24], Bolívar lĩnh lấy sứ mạng giải phóng hoàn toàn Peru.

Giải phóng hoàn toàn Peru

Ngày 7 tháng 8 năm 1823, Bolívar rời Guayaquil đến Callao[25] vào đầu tháng 9 năm đó. Trong tình trạng vô chính phủ, Bolívar đã tổ chức lại quân đội với nòng cốt là những tiểu đoàn của ông. Lima rơi vào tay quân bảo hoàng và ngày 10 tháng 2 năm 1824, Nghị viện Peru đã phong Bolívar là Tổng tài với quyền lực tuyệt đối trước khi tự giải tán. Bolívar rút về Trujillo để củng cố và chuyển sang tấn công. Ngày tháng 8 năm 1824 ông đã đánh bại quân đội nhà vua tại Junín[26] Chiến dịch tiếp tục phát triển và trong khi Bolívar tiến vào Lima, vây hãm Callao thì tướng Sucre đã tiêu diệt nốt quân đội nhà vua tại Ayacucho[27] ngày 9 tháng 12 năm 1824. Đến đây chiến tranh giành độc lập kết thúc, ngày 10 tháng 2 năm 1825, tại Nghị viện PerúLima, Bolívar tuyên bố từ bỏ quyền lực tuyệt đối đã được trao cho ông để tiến hành chiến tranh giành độc lập. Hai ngày sau, Nghị viện Peru đã tuyên bố vinh danh và tặng thưởng cho ông cùng quân đội nhưng ông từ chối tiền thưởng. Bolívar rời thu đô Lima đến Arequipa, El Cuzco và những tỉnh thuộc Thượng Peru (Alto Perú). Những tỉnh này đã thành lập nên một quốc gia dưới sự bảo trợ của Bolivar và đặt tên là Cộng hoà Bolívar tức Bolivia ngày nay. Bolívar soạn thảo hiến pháp cho quốc gia mới này năm 1826, trong đó ông đã trình bày nhưng tư tưởng của mình về việc hợp nhất các quốc gia mới được giải phóng.

Sự phân hoá của Đại Colombia

Năm 1826, một cuộc nổi dậy gọi là La Cosiata [28] do tướng José Antonio Páez[29] lãnh đạo đã nổ ra để chống lại chính quyền trung ương ở Bogotá. Tháng 4 năm 1826, Bolívar trở về Caracas và cố gắng vãn hồi hoà bình. Tuy nhiên những lực lượng ly khai tỏ ra thắng thế trước xu hướng hợp nhất. Ngày 5 tháng 7 năm 1827, ông rời Caracas đáp tàu đi La Guaira rồi tới Bogotá. Ngày 10 tháng 9 năm 1827, ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống Cộng hoà Đại Colombia. Hội nghị lập pháp họp ở Ocaña[30] tháng 4 năm 1828 đã giải tán mà không đạt được thoả thuận nào giữa những phe đối lập. Bolívar xưng là Tổng tài ngày 27 tháng 8 năm 1828. Ngày 25 tháng 9 năm 1828, ông thoát chết sau một vụ ám sát ở Bogotá với sự giúp đỡ của Manuela Saenz. Không lâu sau, ông buộc phải tiến hành một chiến dịch chống lại những đội quân của Perú đang đe dọa Ecuador. Bất chấp thể trạng ốm yếu, bệnh tật, ông vẫn kiên trì bảo vệ những thành quả của mình. Năm 1830, ông trở về Bogotá để thiết lập Hội đồng Hiến pháp nhưng Venezuela một lần nữa công khai đòi trở thành một quốc gia độc lập. Tại Nueva Granada, sự chống đối cũng dần trở nên mạnh mẽ hơn. Bolívar đã suy sụp sức khỏe, ông từ bỏ chức vụ tổng thống và đi đến vùng duyên hải, tin tức về cuộc ám sát tướng Sucre đã ảnh hưởng sâu sắc đến Bolívar. Ngày 10 tháng 12, ông đã viết một bản tuyên bố gửi nhân dân, đây được coi là di chúc chính trị của Người Giải phóng. Ông dự định sang châu Âu nhưng đột ngột ra đi ngày 17 tháng 12 năm 1830 tại San Pedro Alejandrino, một khu biệt thự ở Santa Marta vì bệnh lao. Đến năm 1942, trong một nghi thức hết sức trang trọng, thi hài ông được chuyển về Venezuela và đặt tại National Pantheon, Caracas.

Tư tưởng

Ngoài tư tưởng công bằng, tự do và bình đẳng mà ông đã cống hiến cả cuộc đời, tư tưởng Liên Mỹ của Bolívar thường được nhắc tới. Mục đích và quan điểm của Liên Mỹ được Bolívar diễn đạt trong những gì ông viết năm từ năm 1826 đó là hòa bình trên cơ sở một khối liên kết thống nhất cho các nước châu Mỹ và hy vọng rằng một ngày nào đó nó sẽ là tấm gương để mang lại hòa bình cho toàn thế giới: "Thế giới mới sẽ gồm các quốc gia độc lập gắn chặt với nhau bởi luật pháp chung quy định quan hệ đối ngoại của các nước và tạo cơ hội cho các nước đó, thông qua một cơ quan lập pháp chung, những phương thức để trường tồn... Mọi rào cản về xuất xứ, chủng tộc và màu da sẽ biến mất. Trong các thế kỷ tiếp theo, có thể tiến tới một chính phủ hợp nhất toàn thế giới như một liên bang" [31]. Kết quả của tư tưởng đó là tại Nghị viện Panama, các quốc gia châu Mỹ đã tuyên ngôn về lý tưởng hợp tác hòa bình, một nền hòa bình trong sự tự do, bình đẳng giữa các quốc gia và giải quyết mọi sự bất đồng bằng phương pháp hòa bình cũng như kiên định sự hợp tác đôi bên cùng có lợi. Lý tưởng của Bolívar không được thực hiện tại Nghị viện Panama nhưng nó tiếp tục là nguồn cảm hứng, là niềm hy vọng. Không được đón nhận vào lúc đó nhưng ngày nay, tư tưởng của Bolívar đã sống dậy trong xu hướng hợp tác và hợp nhất khu vực của thế giới hiện đại.

Vinh danh

Tượng đài Simón Bolívar ở Paris
  • Ngoài một quốc gia mang tên ông, nhiều bang, thành phố, và rất nhiều địa danh, đại lộ... ở châu Mỹ và các nơi khác trên thế giới cũng mang tên Bolívar. Đồng tiền của Venezuela được gọi là Bolívar. Tượng đài Simón Bolívar được dựng ở nhiều nơi trên thế giới.
  • UNESCO đã lập ra giải thưởng Simón Bolívar, trao tặng hai năm một lần cho những người có đóng góp quan trọng cho việc thực hiện lý tưởng của ông. Giải thưởng được trao lần đầu tiên ngày 24 tháng 7 năm 1983 nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Bolívar cho Nelson Mandela và vua Tây ban nha Juan Carlos I.

Những câu nói nổi tiếng

  • "Nếu cái chết của tôi góp phần cho việc chấm dứt các đảng phái cũng như cho sự hợp nhất thì tôi sẽ thanh thản bước xuống mồ"
  • "Trách nhiệm đầu tiên của một chính phủ là đưa giáo dục đến với nhân dân"
  • "Chúa ban chiến thắng cho sự bền gan"

Thông tin thêm

  • Bolívar có hai chị gái là JuanaMaría Antonia, một em trai Juan Vicente. Ngoài ra cha mẹ ông còn có con gái María del Carmen chết ngay khi sinh. Ông không có hậu duệ trực hệ.
  • Mối tình với Manuela Saenz: xem Manuela Saenz

Tài liệu tham khảo

Chú thích

  1. ^ Cadiz: thành phố cảng ở tây nam Tây ban nha, thuộc xứ Andalusia
  2. ^ Francisco de Miranda (1750 - 1816): nhà cách mạng nổi tiếng người Venezuela, sau khi đầu hàng đã chết trong nhà tù ở Tây Ban Nha
  3. ^ Có tài liệu nói ông trở về nước năm 1811
  4. ^ Valencia: thành phố thủ phủ bang Carabobo, Venezuela.
  5. ^ Puerto Cabello: thành phố ven biển phía Bắc Venezuela, cách Caracas 75 km về phía tây.
  6. ^ La Guaira: thành phố cảng, thủ phủ bang Vargas, cách Caracas 30 km về phía đông nam.
  7. ^ Cartagena de Indias hay gọi tắt là Cartagena: thành phố cảng ở phía bắc Colombia, thủ phủ bang Bolívar
  8. ^ Magdalena: con sông chính chảy từ bắc xuống nam Colombia dài 1.450 km
  9. ^ Mérida: thành phố ở vùng núi Andes, thủ phủ của bang cùng tên, Venezuela
  10. ^ Trujillo: thành phố thủ phủ của bang cùng tên, Venezuela
  11. ^ Nueva Granada: tên một quốc gia thời đó gồm phần lớn lãnh thổ Colombia, Ecuador và Venezuela ngày nay
  12. ^ Santa Marta: thành phố cảng ven biển Caribe ở phía bắc Colombia
  13. ^ Margarita: một hòn đảo trên biển Caribe, thuộc bang Nueva Esparta, Venezuela
  14. ^ Carúpano: một thị trấn nằm ven biển Caribe, thuộc bang Sucre, Venezuela
  15. ^ Ocumare de la Costa: một bang ở phía bắc Venezuela
  16. ^ Guayana: một vùng hành chính của Venezuela, giáp với Guayna.
  17. ^ Calabozo: thành phố nhỏ cách Caracas 123 dặm về phía nam tây nam.
  18. ^ Gameza: thành phố nhỏ thuộc bang Boyacá, Colombia.
  19. ^ Pantano de Vargas: một vùng đầm lầy thuộc bang Boyacá, Colombia.
  20. ^ Cúcuta: thành phố thủ phủ của bang Santander Bắc, Colombia, gần biên giới với Venezuela
  21. ^ Guayaquil: thành phố cảng lớn nhất Ecuador, cách thủ đô Quito 250 km về phía nam tây nam.
  22. ^ Pichincha: một ngọn núi lửa sát thủ đô Quito
  23. ^ José de San Martín (1778 - 1850): vị tướng nổi tiếng, anh hùng dân tộc của Argentina, người lãnh đạo phong trào giành độc lập ở phần phía nam lục địa Nam Mỹ.
  24. ^ Đây là cuộc gặp gỡ kín mà nội dung của nó gây nên sự tranh luận của các nhà sử học. Sau khi Bolívar giải phóng hoàn toàn Peru, José de San Martín từ bỏ binh quyền, không tham gia vào hoạt động chính trị và đi sang Pháp năm 1824
  25. ^ Callao: thành phố cảng lớn nhất Perú, ở phía tây thủ đô Lima.
  26. ^ Junín: một vùng cao nguyên ở trung tâm Perú.
  27. ^ Ayacucho: thành phố trung tâm của tỉnh Huamanga, Peru
  28. ^ La Cosiata: một từ chưa từng có trong tiếng Tây ban nha trước đó, được đặt ra để chỉ những gì huyền bí và không gọi được tên.
  29. ^ José Antonio Páez: vị tướng sau này thành tổng thống Venezuela khi tách ra khỏi Đại Colombia.
  30. ^ Ocaña: thị trấn nhỏ thuộc bang Stander Bắc, Colombia.
  31. ^ Historical Text Archive

Sách về Bolívar

  • Reza, German de la. "La invención de la paz. De la república cristiana del duque de Sully a la sociedad de naciones de Simón Bolívar", México, Siglo XXI Editores, 2009. ISBN 978-607-03-0054-7
  • Bushnell, David. The Liberator, Simón Bolívar. New York: Alfred A. Knopf, 1970.
  • Bushnell, David (ed.) and Fornoff, Fred (tr.), El Libertador: Writings of Simón Bolívar, Oxford University Press, 2003. ISBN 978-0195144819
  • Bushnell, David and Macaulay, Neill. The Emergence of Latin America in the Nineteenth Century (Second edition). Oxford and New York: Oxford University Press, 1994. ISBN 0-19-508402-0
  • Ducoudray Holstein, H.L.V. Memoirs of Simón Bolívar. Boston: Goodrich, 1829.
  • Harvey, Robert. "Liberators: Latin America`s Struggle For Independence, 1810–1830". John Murray, London (2000). ISBN 0-7195-5566-3
  • Lynch, John. Simón Bolívar and the Age of Revolution. London: University of London Institute of Latin American Studies, 1983. ISBN 9780901145543
  • Lynch, John. The Spanish American Revolutions, 1808–1826 (Second edition). New York: W. W. Norton & Co., 1986. ISBN 0-393-95537-0
  • Lynch, John. Simón Bolívar: A Life, Yale University Press, 2006. ISBN 0300110626.
  • Madariaga, Salvador de. Bolívar. Westport: Greenwood Press, 1952. ISBN 9780313220296
  • Marx, Karl. "Bolívar y Ponte" in The New American Cyclopaedia: A Popular Dictionary of General Knowledge, Vol. III. New York: D. Appleton & Co., 1858.
  • Masur, Gerhard. Simón Bolívar (Revised edition). Albuquerque: University of New Mexico Press, 1969.
  • Mijares, Augusto. The Liberator. Caracas: North American Association of Venezuela, 1983.
  • O'Leary, Daniel Florencio. Bolívar and the War of Independence/Memorias del General Daniel Florencio O'Leary: Narración (Abridged version). Austin: University of Texas, [1888] 1970. ISBN 0-292-70047-4
  • Bastardo-Salcedo,JL (1993) Historia Fundamental de Venezuela UVC,Caracas.

Liên kết ngoài

Tiền nhiệm:
Liên bang được thành lập
Tổng thống của Colombia
17 tháng 12, 1819 – 4 tháng 5, 1830
Kế nhiệm:
Domingo Caycedo
Tiền nhiệm:
Cristóbal Mendoza
Tổng thống của Venezuela
6 tháng 8, 1813 – 7 tháng 7, 1814
15 tháng 2, 1819 – 17 tháng 12, 1819
Kế nhiệm:
José Antonio Páez
Tiền nhiệm:
José Bernardo de Tagle
Tổng thống của Peru
Tháng 2, 1824 – Tháng 1, 1826
Kế nhiệm:
Andres de Santa Cruz
Tiền nhiệm:
Cộng hòa được thành lập
Tổng thống của Bolivia
1825–1826
Kế nhiệm:
Antonio José de Sucre

Thể loại:

Machu Picchu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Khu đền điện lịch sử Machu Picchu
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
80 - Machu Picchu - Juin 2009 - edit.jpg
Quốc gia  Peru
Kiểu Hỗn hợp
Hạng mục i, iii, vii, ix
Tham khảo 274
Vùng UNESCO Mỹ LatinCaribe
Lịch sử công nhận
Công nhận 1983 (kì thứ 7)
Machu Picchu (tiếng Quechua: Machu Pikchu - tức "Cổ Sơn", theo tiếng quechua của người Inca; thỉnh thoảng được gọi là "Thành phố đã mất của người Inca")[1] là một khu tàn tích Inca thời tiền Columbo trong tình trạng bảo tồn tốt ở độ cao 2.430 m (7.970 ft)[2] trên một quả núichóp nhọn. Machu Picchu nằm trên Thung lũng Urubamba tại Peru, khoảng 70 km (44 dặm) phía tây bắc Cusco. Bị thế giới bên ngoài quên lãng từ nhiều thế kỷ, dù người dân địa phương vẫn biết tới nó, Machu Picchu đã trở lại thành sự chú ý của thế giới nhờ công nhà khảo cổ học Hiram Bingham người đã tái khám phá nơi này năm 1911, và viết một cuốn sách bán rất chạy về nó. Peru hiện đang thực hiện các hoạt động pháp lý nhằm đòi lại hàng ngàn đồ vật Bingham đã lấy đi khỏi nơi này.[1]

Lịch sử

Machu Picchu có lẽ là biểu tượng thân thuộc nhất của Đế chế Inca. Thường được gọi là "Thành phố đã mất của người Inca", từ năm 1983 địa điểm này đã được lựa chọn trở thành một Địa điểm Di sản Thế giới của UNESCO.
Intihuatana ("ràng buộc mặt trời") được cho là từng được thiết kế để trở thành chiếc đồng hồ thiên văn học bởi người Inca
Mọi người cho rằng thành phố này do Sapa Inca Pachacuti xây dựng, bắt đầu từ khoảng năm 1440, và không có người ở cho tới cuộc Chinh phục Peru của người Tây Ban Nha năm 1532. Bằng chứng khảo cổ (cộng với những nghiên cứu gần đây về các văn bản thời kỳ đầu thuộc địa) cho thấy Machu Picchu không phải là một thành phố thông thường, mà chỉ là một thị trấn làm nơi nghỉ dưỡng của giới quý tộc Inca (tương tự như các Làng Roma). Nơi này có một cung điện lớn và các đền đài dành cho các vị thần Inca bao quanh một sân, với những công trình kiến trúc khác cho người hầu. Ước tính rằng không quá 750 người sống tại Machu Picchu cùng một thời điểm, và có lẽ chỉ một phần nhỏ trong số đó sống tại nơi này trong mùa mưa và khi không có vị quý tộc nào tới đó.
Mọi người cho rằng nơi này đã được lựa chọn vì vị trí độc nhất của nó cũng như vì các đặc điểm địa lý. Có ý kiến cho rằng bóng của rặng núi phía sau Machu Picchu là hình bộ mặt người Inca nhìn lên phía bầu trời, và đỉnh lớn nhất, Huayna Picchu (có nghĩa Đỉnh Trẻ), là cái mũi của nó.
Năm 1913, địa điểm này đã thu hút sự chú ý rộng rãi của công chúng sau khi National Geographic Society dành toàn bộ chương trình tháng 4 của họ cho Machu Picchu.
Năm 2000, khoảng 400.000 người đã viếng thăm Machu Picchu, và UNESCO bày tỏ sự lo ngại của mình với sự xuống cấp có thể xảy ra cho địa điểm với một lượng du khách lớn như vậy. Tối đa 2.500 được phép vào thăm tàn tích Machu Picchu trong một ngày nhằm ngăn chặn sự xâm hại với di tích. Chính quyền Peru đã nhấn mạnh rằng không có vấn đề gì xảy ra, và rằng sự xa xôi của di tích tự nó sẽ đặt ra những hạn chế tự nhiên với ngành du lịch [3]. Định kỳ, những đề xuất được đưa ra nhằm thiết lập một hệ thống cáp treo dẫn tới nơi này, nhưng chúng luôn luôn bị bác bỏ [4].

Vị trí

Vị trí Machu Picchu
Machu Picchu cách 70 km phía tây bắc Cusco, trên đỉnh núi Machu Picchu, ở độ cao khoảng 2.350 mét trên mực nước biển. Đây là một trong những trung tâm khảo cổ quan trọng nhất tại Nam Mỹ và vì thế cũng là nơi thu hút đông khách du lịch nhất tại Peru.
Từ trên đỉnh, tại vách đá Machu Picchu, là một vách đứng dài 600 mét kéo tới đáy Sông Urubamba. Vị trí thành phố là một bí mật quân sự nhờ vách đá dốc và núi non bao quanh là sự phòng vệ quân sự tự nhiên tuyệt hảo.

Đền đài Machu Picchu

Năm 1981 một diện tích 325.92 kilômét vuông bao quanh Machu Picchu đã được tuyên bố là khu "Đền đài Lịch sử" của Peru. Khu vực này, không chỉ giới hạn ở các tàn tích, mà còn gồm các vùng đất với hệ động vậtthực vật của nó, với sự phong phú về các loài lan.
Một giả thuyết cho rằng Machu Picchu từng là một "llacta": một khu định cư được xây dựng để quản lý kinh tế những vùng bị chinh phục, của người Inca và rằng nó có thể đã được xây dựng với mục đích bảo vệ những phần tinh túy nhất của tầng lớp quý tộc Inca trong trường hợp một vụ tấn công. Dựa trên nghiên cứu được các học giả như John Rowe và Richard Burger tiến hành, hiện nay đa số các nhà khảo cổ tin rằng, thay vì là một địa điểm phòng thủ rút lui, Machu Picchu là một khu đất của Hoàng đế Inca Pachacuti. Johan Reinhard đã đưa ra những bằng chứng cho thấy nơi này đã được lựa chọn dựa trên vị trí của nó tương ứng với các đặc điểm vùng đất thiêng liêng, đặc biệt với những ngọn núi thẳng hàng với các sự kiện thiên văn quan trọng.
Đền đài Machu Picchu, với bóng dáng to lớn nhất của Đỉnh Huayna Picchu

Ba khu vực

Đền Mặt trời
Theo các nhà khảo cổ học, Machu Picchu được chia thành ba khu vực lớn: Khu vực linh thiêng, Khu vực dân chúng, ở phía nam, và Khu của các Thầy tu và Tầng lớp quý tộc (khu hoàng gia).
Nằm ở khu vực đầu tiên là các địa điểm khảo cổ học quý giá: Intihuatana, Đền của các Màu sắcPhòng Ba Cửa sổ. Chúng được dành cho Inti, vị thần Mặt trời và cũng là vị thần vĩ đại nhất.
Trong khu hoàng gia, một khu vực riêng được dành cho giới quý tộc: một nhóm nhà nằm thành hàng trên một khu vực đất dốc; nơi ở của Amautas (những người khôn ngoan) có đặc điểm riêng ở những bức tường màu đỏ, và khu Ñustas (các công chúa) những căn phòng hình thang.
Lăng Nghi lễ được tạc vào đá với khu vực phía trong hình vòm và các bức tranh khắc. Nó được sử dụng trong các dịp lễ và hiến tế.

Kiến trúc

Bức tường Inca tại Machu Picchu
Tất cả các công trình tại Machu Picchu đều tuân theo phong cách kiến trúc Inca với những bức tường đá không dùng vữa và những viên đá kích thước bằng nhau. Người Inca là bậc thầy về kỹ thuật này, được gọi là đá khối, theo đó những khối đá được cắt để có thể được ghép vào nhau thật chặt mà không cần tới vữa. Nhiều mối nối còn hoàn hảo tới mức thậm chí không thể lách một lưỡi dao vào giữa các phiến đá.
Người Inca không bao giờ sử dụng bánh xe. Bằng cách nào họ đặt những phiến đá lớn lên nhau vẫn còn là điều bí ẩn, dù nói chung mọi người tin rằng họ đã dùng hàng trăm người để đẩy các tảng đá lên trên. Ta vẫn chưa biết tại sao người Inca không để lại bất kỳ tài liệu nào về việc xây dựng bởi hệ thống chữ viết họ sử dụng, được gọi là khipus, vẫn chưa được giải mã.[5]
Khu vực này bao gồm 140 công trình kiến trúc, gồm các đền, đài, công viên, nhà ở mái rạ.
Có hơn một trăm bậc đá dẫn lên – thường được tạc hoàn toàn vào trong một tảng đá granite duy nhất – và một lượng lớn các đài phun nước, nối với nhau bởi các kênh và các ống dẫn nước đục trong đá, được thiết kế cho hệ thống tưới tiêu ban đầu. Đã tìm thấy các bằng chứng cho thấy hệ thống tưới tiêu đã được sử dụng để dẫn nước từ một con suối thiêng, tới mỗi ngôi nhà, thứ tự được phân chia theo mức độ giai cấp của người ở trong đó.

Hệ thống đường Inca

Bài chi tiết: Hệ thống đường Inca
Trong số hàng ngàn con đường được các nền văn hóa thời tiền Columbo xây dựng ở Nam Mỹ, những con đường của người Inca về một số điểm là đáng chú ý nhất. Mạng lưới những con đường này hội tụ về Cusco, thủ đô của Đế chế Inca. Một con đường dẫn tới thành phố Machu Picchu. Người Inca có sự phân biệt giữa các con đường ven biển và các con đường miền núi, đường ven biển được gọi là Camino de los llanos (đường bằng) và những con đường núi được gọi là Cápac Ñam.
Ngày nay, hàng ngàn khách du lịch đang đi trên những con đường Inca – đặc biệt Đường mòn Inca – hàng năm, khách du lịch tới Cusco làm quen trước khi bắt đầu một chuyến đi bộ kéo dài bốn ngày từ thung lũng Urubamba dẫn lên tận dải núi Andes.
Quang cảnh Machu Picchu từ Huayna Picchu, với con đường cao tốc Hiram Bingham Highway dẫn các xe buýt chở du khách tới và đi khỏi thị trấn Aguas Calientes.

Tái khám phá

Ngày 24 tháng 7 năm 1911, Machu Picchu bắt đầu được thế giới phương Tây chú ý nhờ công của Hiram Bingham III, một nhà sử học Hoa Kỳ khi ấy đang là giảng viên tại Đại học Yale. Ông đã được những người địa phương thường tới nơi này dẫn đường. Nhà thám hiểm/khảo cổ này đã bắt đầu các công việc nghiên cứu khảo cổ tại đó và hoàn thành một cuộc khảo sát toàn bộ vùng. Bingham đã đặt tên "Thành phố đã mất của người Inca", cho nơi này trong cuốn sách đầu tiên của ông.
Bingham đã tìm kiếm thành phố Vitcos, nơi trú ẩn và kháng cự cuối cùng của người Inca trong cuộc Chinh phục Peru của người Tây Ban Nha. Năm 1911, sau nhiều năm tìm kiếp với những chuyến đi và những cuộc khảo sát quanh vùng, ông đã được những người Quechua đang sống tại Machu Picchu trong những công trình nguyên thủy Inca dẫn đường tới thành lũy đó. Bingham đã thực hiện nhiều chuyến đi khác và tiến hành nhiều cuộc khai quật tại địa điểm trong suốt năm 1915. Ông đã viết một số cuốn sách và bài báo về việc khám phá Machu Picchu.
Những năm đầu tiên sống tại Peru, Bingham đã xây dựng được mối quan hệ thân mật với các quan chức cao cấp Peru. Vì thế, ông ít gặp trở ngại trong việc xin các giấy phép, các thủ tục giấy tờ, và quyền được đi khắp đất nước cũng như mượn các đồ vật khảo cổ. Ngay khi quay về Đại học Yale, Bingham đã sưu tập khoảng 5.000 đồ vật như vậy và chúng đã được trường Yale giữ cho tới khi chính phủ Peru đòi được trả lại. Gần đây, chính phủ Peru đã yêu cầu được trả lại toàn bộ các vật phẩm văn hoá, và trước lời từ chối của Đại học Yale, họ đang cân nhắc tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết. Với sự thay đổi cơ quan chính phủ trong thời gian tới của Peru, hành động này có thể sẽ bị trì hoãn một thời gian [6].
Simone Waisbard, một nhà nghiên cứu trong thời gian dài về Cusco, đã tuyên bố Enrique Palma, Gabino Sánchez và Agustín Lizárraga khắc tên mình vào một trong những tảng đá tại đó ngày 14 tháng 7 năm 1901, và là những người đã tái khám phá nơi này trước Bingham. Tuy nhiên, nếu điều này là sự thực, không một từ nào được tìm thấy tại đó từng được thế giới bên ngoài biết tới; công việc của Bingham đã đưa Machu Picchu ra với sự chú ý của thế giới.Theo lời kể lại của Bingham trong cuốn sách xuất bản năm 1948 trong thời khắc phát hiện ra Machu Pichu: "Chúng tôi đang mở lối xuyên rừng nguyên sinh. (…) Bất thình lình, trước mặt tôi là một bức tường rêu phong cổ kính, dựng nên từ những tảng đá gia công tỉ mỉ của người Inca. Sau khi ước lượng mỗi khối đá khổng lồ ấy nặng khoảng 10-15 tấn, tôi không thể tin vào mắt mình". Một thế kỷ sau, Peru tưng bừng mở hội vinh danh khám phá thế kỷ của Hiram Bingham và gọi năm 2011 là "Năm thứ 100 của Machu Picchu với thế giới", theo tờ Le Monde. Lễ kỷ niệm bắt đầu từ ngày 7.7, nhân 4 năm sau khi di tích Inca này được Tổ chức New7Wonders chọn là 1 trong 7 kỳ quan thế giới mới.

Thăm Machu Picchu

Tất cả các chuyến đi tới Machu Picchu đều xuất phát từ Cusco, có một đường bay nội địa từ Lima dẫn tới Cusco, hay đường bay quốc tế từ La Paz, tại Bolivia. Bắt tàu hỏa du lịch tại Cusco (mất 3.5 tiếng để tới Machu Picchu).
Cách thông thường nhất để tới đây là bắt tàu tới Machu Picchu vào buổi sáng, khám phá khu di tích trong vài giờ và quay trở lại Cusco vào buổi chiều. Tàu hỏa dừng tại ga cuối ở Puente Ruinas, nơi các xe buýt sẽ đưa du khách lên dãy núi Machu Picchu. Khá ngạc nhiên, ga Machu Picchu nằm tại Aguas Calientes (2 km trước ga Puente Ruinas) nhưng đây không phải là ga nên dừng đối với chuyến đi một ngày.
Một cách khác là đi theo đường mòn Inca, hoặc một chuyến đi kéo dài hai hay bốn ngày, cả hai kiểu trên đều bị chính phủ quản lý. Họ đòi hỏi du khách phải được trang bị thích hợp. Chuyến đi kéo dài vài ngày và cần dùng tới túi ngủ cũng như lều bạt.
Một cách nữa là nghỉ đêm ngay gần khu di tích, chứ không quay về ngay trong ngày. Có nhiều khách sạn gần Aguas Calientes, nhưng chỉ có một tại chính Machu Picchu. Xe buýt chạy từ Aguas Calientes tới khu di tích suốt ngày, và có một đoạn đường dài 8 km dẫn lên núi (khoảng một tiếng rưỡi đi bộ).
Cũng có dịch vụ máy bay trực thăng từ Cusco tới Aguas Calientes, bằng trực thăng 24 chỗ Mi-8 của Nga. Các chuyến bay trực tiếp tới Machu Picchu đã bị dừng trong thập niên 1970 vì những lo ngại về ảnh hưởng của chúng tới khu di tích.
Một chú lạc đà không bướu nhìn xuống Machu Picchu.

Những lo lắng về du lịch

Số lượng du khách viếng thăm Machu Picchu ngày càng gia tăng (400.000 năm 2003 [7]), vì thế một số người lo ngại di tích này đang bị hư hại. Vì lý do đó, một số lời phản đối chống lại kế hoạch xây dựng thêm một cây cầu nữa dẫn lên đây đã được đưa ra [8] và một khu vực cấm bay đã được thành lập [9]. UNESCO hiện đang xem xét đưa Machu Picchu vào Danh sách các Địa điểm Di sản Thế giới đang bị Đe dọa của họ[8].

Linh tinh

  • Machu Picchu gần đây đã xuất hiện trong các quảng cáo của Royal Nepal Airlines nhằm thúc đẩy du lịch tại Nepal. Một nhà leo núi người Peru rõ ràng đã nhìn thấy biển quảng cáo này khi thăm Ấn Độ và thông báo cho chính quyền Peru. Royal Nepal Airlines đã xin lỗi Peru và gần đây đã sửa chữa sai lầm này. [2]

Xem thêm

Các địa điểm Inca khác gần Cusco

Tham khảo

  1. ^ Teofilo Laime Acopa, Diccionario Bilingüe, Iskay simipi yuyay k'ancha, Quechua – Castellano, Castellano – Quechua: machu - adj. y s. m. Viejo. Hombre de mucha edad (Úsase también para animales). - machu - s. m. Anciano. Viejo. pikchu - s. Pirámide. Sólido puntiagudo de varias caras. || Cono. Ch'utu. machu pikchu - s. La gran ciudadela pétrea que fue quizá uno de los más grandes monumentos religiosos del incanato, entre el valle del Cusco y la selva virgen (JAL). || Monumento arqueológico situado en el departamento actual del Cusco, junto al río Urubamba, en una cumbre casi inaccesible (JL).
  2. ^ “Historic Sanctuary of Machu Picchu - UNESCO World Heritage Centre”. UNESCO. 2006. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  3. ^ Hannah Hennessy (27 tháng 12 năm 2003). “Row erupts over Peru's tourist treasure”. BBC Online. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  4. ^ Malcolm Brabant (23 tháng 8 năm 1999). “World: Americas Inca site cable car plan sparks anger”. BBC Online. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  5. ^ Urton, Gary: "From Knots to Narratives: Reconstructing the Art of Historical Record Keeping in the Andes from Spanish Transcriptions of Inka Khipus." Ethnohistory. Vol. 45, No. 3 (Summer, 1998), pp. 409-438
  6. ^ Andrew Mangino (12 tháng 4 năm 2006). “Elections could avert Peru's lawsuit”. Yale Daily News Publishing Company, Inc. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  7. ^ Hennessy, Hannah: "Row erupts over Peru's tourist treasure." BBC News. December 27-2003, http://news.bbc.co.uk/2/hi/americas/3335315.stm
  8. ^ a ă Collyns, Dan: "Bridge stirs the waters in Machu Picchu." BBC News. February 1-2007, http://news.bbc.co.uk/2/hi/americas/6292327.stm
  9. ^ Collyns, Dan: "Peru bans flights over Inca ruins." BBC News. September 8-2006, http://news.bbc.co.uk/2/hi/americas/5326042.stm
  • Bingham, Hiram 1979 [1930] Machu Picchu a Citadel of the Incas. Hacker Art Books, New York.
  • Burger, Richard and Lucy Salazar (eds.)
2004 Machu Picchu: Unveiling the Mystery of the Incas. Yale University Press, New Haven.
  • Frost, Peter 1995 Machu Picchu Historical Sanctuary. Nueves Imágines, Lima.
  • Reinhard, Johan 2002 Machu Picchu: The Sacred Center. Lima: Instituto Machu Picchu (2nd ed.).
  • Wright, Kenneth and Alfredo Valencia 2000 Machu Picchu: A Civil Engineering Marvel. ASCE Press, Reston.

Nguồn hình

  • Bài này có sử dụng hình ảnh từ PromPerú

Placemarks

Liên kết ngoài

Hướng dẫn


Peru Di sản thế giới tại Peru Peru
Di sản văn hóa
Di chỉ khảo cổ Chan Chan | Machu Picchu | Thành phố Cuzco | Trung tâm lịch sử của Lima | Di chỉ khảo cổ Chavin de Huantar | Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca và Pampas de Jumana | Trung tâm lịch sử của Arequipa | Thành phố thiêng Caral-Supe
Di sản tự nhiên
Vườn quốc gia Huascaran | Vườn quốc gia Manu
Di sản hỗn hợp
Vườn quốc gia Rio Abiseo
Coordinates: 13°09′47″N, 72°32′44″T